LOGO VNBET
bình đẳng, không ly đương độ mà nhiếp hóa những chúng sinh, niệm Phật đồng vãng sanh Tịnh độ.
*
(Quyển VI)
Bây giờ Quan Thế Âm Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật và bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Con nhớ vô số kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm. Con từ nơi đức Phật ấy mà phát tâm Bồ-đề, và Ngài dạy tâm con từ nghe, suy nghĩ tu tập vào Tam-ma-địa.
Con vâng lời Phật dạy, ban đầu từ tánh nghe để tâm quán nhập xa bỏ ngoại trần sở nhập (đối với căn là năng nhập) đã yên tịnh, thì hai tướng động tịnh trọn không phát sinh. như vậy lần lửa tân tiến, năng văn sở văn đều hết; năng văn sở văn hết mà không trú nơi đó, nên năng giác sở giác cũng không; không giác cùng tột viên mãn nên năng không sở không toàn diệt. Tướng sinh diệt đã hết thì tánh tịch diệt hiển bày; bỗng nhiên vượt khỏi thế xuất thế gian, soi tỏ mười phương, được hai món thù thắng : Một là trên hợp với bổn diệu giác tâm của mười phương Chư Phật, cùng Chư Phật đồng một sức Từ, (từ cứu độ chúng sinh). Hai là dưới hợp với tất cả chúng sinh trong lục đạo, cùng chúng sinh đồng một lòng Bi ngưỡng (bi ngưỡng Vô thượng Bồ-đề).
Bạch đức Thế Tôn ! Bởi con cúng dường đức Quan Âm Như Lai, nhờ Ngài trao dạy pháp như huyễn huân văn tu kim cang tam muội, và vì đã cùng chư Phật đồng một sức Từ, nên con tự hay thành tựu 32 ứng thân hiện vào quốc độ:

 

* Trang 463 *
device

Nếu có Bồ-tát vào Tam-ma-địa, tinh tấn tu hành đạo nghiệp vô lậu, mà tánh giải thoát được hiện tiền viên mãn, thì con hiện thân Phật đà, vì họ nói pháp, khiến đặng giải thoát.
Nếu có hàng Hữu học cầu đạo tịch tịnh diệu minh, mà tâm thắng diệu hiện tiền viên mãn, thì con ở trước người kia hiện thân độc giác, vì họ nói Pháp, khiến được giải thoát.
Nếu có hàng Hữu học cầu đoạn trừ 12 nhân duyên do 12 nhân duyên đoạn trừ mà thắng tánh tỏ bày viên mãn, thì con ở trước người kia hiện thân Duyên giác, vì họ nói Pháp, khiến đặng giải thoát.
Nếu có hàng Hữu học cầu chứng được tánh Không của Tứ đế, tu đạo chứng diệt mà thắng tánh viên mãn hiện bày, thì con ở trước người kia hiện thân Thanh văn, vì họ nói Pháp, khiến đặng giải thoát.
Nếu có các chúng sinh muốn làm vị Thiên chủ thống lãnh chư thiên, thì đối trước người kia con hiện thân Đế Thích, vì họ nói Pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh muốn đặng tự tại bay đi giữa hư không, thì đối trước người kia con hiện thân trời Đại tự tại, vì họ nói Pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có chúng sinh muốn thống lãnh các quỉ thần, cứu hộ cõi nước, thì đối trước người kia, con hiện thân Thiên đại tướng quân, vì họ nói Pháp khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh ưa thống lãnh thế giới, bảo hộ chúng sinh, thì đối trước người kia con hiện thân Tứ thiên vương, vì họ nói Pháp, khiến đặng thành tựu.

 

* Trang 464 *
device

Nếu có các chúng sinh về thiên cung sai khiến các quỉ thần thì đối trước người kia, con hiện thân thái tử của Tứ thiên vương, vì họ nói Pháp, khiến đặng thành tựu.”
*
Nhĩ căn viên thông
Bồ-tát Quan Thế Âm, một danh hiệu ấy phổ biến cả mười phương trong muôn loài, có mấy ai mà chẳng nghe chẳng biết ! Như thế cũng đủ tỏ tâm đại bi, đức cứu độ của Bồ-tát lớn lao biết chừng nào !
Nhưng sao lại gọi bằng danh hiệu Quan Thế Âm ? Ở nơi chúng sinh thì biết đặng tiếng tăm là do nghe, biết đặng màu sắc là do thấy v.v… đã thành một định lượng không thể chuyển đổi. Trái lại, Bồ-tát tu hành cũng đồng trong sự nghe tiếng đó mà không chịu theo thanh trần giả dối, vọng tưởng đảo điên, không để tâm bị hôn mê theo căn và cảnh mà chỉ chú tâm suy tầm tánh nghe chơn thật, không sanh không diệt, viên chiếu mười phương, lúc ngũ cũng như lúc thức, khi động cũng như khi tịnh, chẳng có lúc nào gián đoạn tánh nghe. Cho nên cũng không một tiếng gì không tỏ rõ. Tiếng của muôn loài từ ngàn phương đưa đến đều hiện bày trong tâm trí viên minh của Bồ-tát. Và hợp với trí ấy, còn có nguyện lực đại bi, cho nên trong mười phương, hễ có chúng sinh nào nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bồ-tát thì Bồ-tát liền quán biết; quán biết thì liền giải thoát, lẽ cảm ứng tự nhiên không thể nghĩ nghì.
Nếu xét kỹ chỗ nhân địa tu hành của các vị Bồ-tát, thì phải phát tâm Bồ-đề tu theo Phật Giáo; trải qua sự nghe

 

* Trang 465 *
device

học, sự suy nghĩ, sự tu tập, vậy sau mới đầy đủ căn bản trí, hậu đắc trí mà chứng thành quả vị diệu giác. Ngài Quan Thế Âm Bồ-tát cũng thế. Nhưng có khác chăng là chỉ khác nơi pháp môn phương tiện mà thôi, hai mươi bốn vị Thánh trước mỗi vị do mỗi pháp môn mà tu chứng viên thông. Ở đây Ngài Quan Thế Âm Bồ-tát do tu nhĩ căn mà chứng ngộ. Trong sự tu hành này, trước hết ly trần, rồi thoát căn rồi tận giác rồi diệt không, mà sau chơn tánh bất sanh diệt của Như Lai tạng mới đặng hoàn toàn hiện rõ.
Trong chánh kinh từ câu : “ban đầu từ trong nghe” đến câu “trọn không phát sanh”, ấy là ly trần. Thường khi sáu căn chưa đặng thanh tịnh thì hay bôn lưu theo dõi sáu trần, càng đi càng xa, như nước ra khỏi nguồn phân lưu các chỗ; đến khi chuyên tâm tu tập thì ngừng sự bôn lưu ấy, không để cho cái nghe phát động ra ngoài mà bắt quay về nghe theo, quán sát căn tánh. Vậy nên trước hết viễn ly trần cảnh; dù có tiếng vang gọi là cảnh động, cũng không động; dù không có tiếng vang gọi là tướng tịnh, tâm cũng không duyên niệm theo.
Câu “như vậy lần lữa tăng tiến, năng văn sở văn đều hết”, ấy là thoát căn. Hai tướng động tịnh ở trên thuộc về cảnh, đã viễn ly được cảnh rồi thì cứ như vậy mà tu tiến mãi mãi, tất thoát khỏi văn căn. Vì cảnh trần sở văn đã hết thì căn năng văn trở thành vô dụng mà tiêu diệt vậy.
Câu “năng văn sở văn hết mà không trừ, ở đó thì năng giác sở giác cũng không”, ấy là tận giác. Năng giác tức là trí huệ giác ngộ; sở giác tức là cái tướng năng văn sở văn đã hết trên kia (nên cũng gọi là tận văn). Đến khi tận văn thì

 

* Trang 466 *
device

vọng tình đã tiêu diệt, chỉ còn có tánh trí huệ giác ngộ. Nhưng nếu còn năng giác, tất nhiên cũng có sở giác; còn năng, còn sở thì chưa phải tánh giác viên diệu minh. Cho nên khi tận văn rồi lại không có năng giác sở giác.
Câu “không giác cùng tột viên mãn thì năng không sở không toàn diệt”, ấy là diệt không. Sở không là chỉ cho cái không đã nói trên. Khi đặng không rồi cũng không chấp nơi không tướng; vì nếu còn sở không, tất có trí năng không đối đãi, chưa phải là tánh viên diệu chơn không của bản giác.
Tóm lại từ mới khởi công phu tu tập đến đây, trước do thô sau mới đến tế, nhưng cũng đều ở trong tướng sanh diệt cả. Như tướng động tịnh diệt thì văn căn sanh, văn căn diệt thì giác huệ sanh, giác huệ diệt thì không tướng sanh; mà Như Lai tạng tánh hay Niết-bàn diệu tâm không phải là tướng sanh diệt vậy. Cho nên sau khi năng không, sở không, ngã không, pháp không rồi, mà trong cu không ấy cũng không nữa, mới hiển hiện tánh chơn tịch diệt của Như Lai tạng một cách đầy đủ.
Tánh chơn tịch diệt ấy là đồng thể của chúng sinh và Phật, chư Phật thì thường an trú tánh ấy, Bồ-tát thì chứng nhập tánh ấy, mà chúng sinh thì mê lầm tánh ấy. Nhưng vì là đồng thể cho nên đến khi Bồ-tát chứng được liền phát sinh diệu dụng thù thắng. Nói rộng ra thì có 32 ứng thân, 14 món vô úy, 4 món diệu dụng bất tư nghì. Nói tóm lại thì có hai món thù thắng : một là được từ lực đồng với chư Phật, và hai là tâm bi ngưỡng đồng với chúng sinh. Vì chứng bổn giác tâm cùng Phật đồng thể, nên hay đồng một

 

* Trang 467 *
device

từ lực; vì chứng bổn giác tâm cùng chúng sinh đồng thể nên hay đồng một bi ngưỡng. Từ lực do tâm bổn giác phát ra mà lòng bi ngưỡng cũng từ nơi tâm bổn giác huân tập. Được thành Phật đó, việc độ sanh cũng từ đó, mà Bồ-tát thành tựu 32 ứng thân khắp các căn cơ để giáo hóa cũng do đó.
32 ứng thân là :
1. Hiện thân Phật-đà để nói pháp viên đốn Phật thừa, giáo hóa hạng người tu Bồ-tát mà chơn trí vô lậu chưa hoàn toàn phát hiện, tuy đã nhập Tam-ma-địa rồi, nhưng chưa phải hết tu.
2. Hiện thân Độc giác nói pháp vô thường, vô ngã, ám chỉ Phật thừa để giáo hóa các hàng Hữu học có tâm ưa ở chỗ nhàn tịch, cầu tự nhiên huệ.
3. Hiện thân Duyên giác nói pháp Thập nhị nhân duyên lưu chuyển và hoàn diệt để giáo hóa hàng Hữu học có tâm mong đoạn trừ 12 nhân duyên thoát khỏi sự sanh tử luân hồi trong ba cõi.
4. Hiện thân Thanh văn nói pháp sanh diệt tứ đế, vô sanh tứ đế, vô lượng Tứ đế, vô tấc tứ đế, để giáo hóa hàng Hữu học có tâm mong cầu chứng tánh chơn không của Tứ đế, nhập tịch diệt Niết-bàn.
Tóm lại, trên đây là hiện thân về Tứ Thánh đế thành tựu cho những người tu tập pháp xuất thế gian.
5. Hiện thân Phạm vương nói pháp ly dục cho những chúng sinh mong được thân tâm trong sạch không phạm đến ngũ dục.

 

* Trang 468 *
device

6. Hiện thân trời Đế Thích nói pháp Thập thiện cho những người muốn làm Thiên chủ, thống lãnh chư Thiên.
7. Hiện trời Tự tại hay Tha hóa tự tại Thiên ở chót cõi Dục, để nói pháp cho những chúng sinh muốn có thần thông tự tại đi khắp mười phương.
8. Hiện trời Đại tự tại (hay Ma-hê-thủ-la Thiên ở chót cõi Sắc) để nói pháp giáo hóa cho chúng sinh muốn có thần thông bay đi giữa hư không chẳng bị chướng ngại.
9. Hiện thân Thiên đại tướng quân (hay Vi đà Thiên tướng, thân tướng của Đế Thích), để nói pháp giáo hóa cho những chúng sinh có tâm muốn thống lãnh quỷ thần, cứu hộ các quốc độ.
10. Hiện thân Tứ thiên vương để nói pháp giáo hóa cho những chúng sinh có tâm thống trị thế giới bảo hộ chúng sinh.
11. Hiện thân Thái tử của Thiên vương để nói pháp giáo hóa cho những chúng sinh ở thiên cung, xu sử tất cả quỷ thần.
Bảy ứng thân trên đều hiện về thân cõi trời. Các cõi trời trong Dục giới phần nhiều đều lấy pháp Thập thiện làm căn bản, rồi tùy theo chỗ tu Thập thiện hơn kém mà cảm báo thân khác nhau, nên Bồ-tát cũng tùy đó nói pháp Thập thiện sâu cạn để giáo hóa.
*
Nếu có các chúng sinh ưa làm vua cõi người, thì đến trước người kia, con hiện thân nhân vương vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
 

* Trang 469 *
device

Nếu có các chúng sinh ưa làm chủ các hàng quí tộc, mọi người thôi nhượng, thì với trước người kia, con hiện thân trưởng giả vì họ mà nói pháp khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh ưa đàm luận đạo lý văn chương, sống đời trong sạch, thì đối trước người kia, con hiện thân cư sĩ vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh ưa quản trị quốc độ, đoán định công việc làng ấp, thì đối trước người kia, con hiện thân Tể quan vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh ưa việc toán số, chú thuật, nhiếp phục hộ vệ mình người, thì đối trước người kia, con hiện thân Bà-la-môn vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có gã thiện nam, ưa học pháp xuất gia, giữ gìn giới luật, thì đối trước người kia, con hiện thân thầy Tỳ-kheo vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có người thiện nữ ưa học pháp xuất gia, giữ gìn cấm giới, thì đối trước người kia, con hiện thân Tỳ-kheoni vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có gã thiện nam muốn thọ trì ngũ giới, thì đối trước người kia, con hiện thân Ưu-bà-tắc vì họ mà nói pháp khiến đặng thành tựu.
Nếu có người thiện nữ muốn thọ trì ngũ giới, thì đối trước người kia, con hiện thân Ưu-bà-di vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có người con gái ưa lập thân theo nết hạnh kẻ nội chánh, để tu tề gia trị quốc, thì đối trước người kia, con

 

* Trang 470 *
device

hiện thân nữ chúa, quốc đại phu, mạng phụ, đại cô mà vì họ nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có chúng sinh nam căn không bị nhiễm hoại, thì đối trước người kia, con hiện thân đồng nam vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có người con gái ưa sống một mình không tùy sự xâm lăng dâm bạo, thì đối trước người kia, con hiện thân đồng nữ vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có hàng chư thiên muốn thoát khỏi thiên luân, thì con hiện thân trời vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các loài rồng muốn thoát khỏi long luân, thì con hiện thân loài rồng vì chúng mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có loài Dược xoa muốn vượt khỏi loài ấy, thì với trước chúng kia, con hiện thân Dược xoa vì chúng mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có loài Càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài ấy, thì với trước chúng kia, con hiện thân A-tu-la mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có loài A-tu-la, muốn thoát khỏi loài ấy, thì đối trước chúng kia, con hiện thân A-tu-la, Càn-thác-bà vì chúng mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có loài Khẩn-na-la, muốn thoát khỏi loài ấy, thì đối trước chúng kia, con hiện thân Khẩn-na-la vì chúng mà nói pháp khiến đặng thành tựu.

 

* Trang 471 *
device

Nếu có loài Ma-hô-la-già muốn thoát khỏi loài ấy, thì đối trước chúng kia, con hiện thân Ma-hô-la-già vì chúng mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các chúng sinh ưa ở trong nhân luân mà tu nghiệp nhơn làm người, thì con hiện thân người vì họ mà nói pháp, khiến đặng thành tựu.
Nếu có các hàng phi nhân như loài có hình, loài không hình, loài có tướng, loài không tướng mà muốn thoát khỏi loài ấy, thì đối trước chúng kia, thì con hiện thân các loài đó vì họ mà nói pháp khiến đặng thành tựu.
Ấy là 32 ứng thân thanh tịnh nhiệm mầu, hiện vào các quốc độ đều do sức diệu lực vô tác của pháp Tam-muội, do văn huân văn tu mà được thành tựu tự tại. Bạch Thế Tôn, con lại do sức diệu lực vô tác của pháp văn huân văn tu Kim cang Tam muội, cùng tất cả chúng sinh trong mười phương, ba đời, sáu đạo đồng một bi ngưỡng, khiến chúng sinh ở nơi thân tâm con, được 14 món công đức vô úy :
Một là do con không quán âm thanh, chỉ quán theo quán tánh, nên có thể khiến chúng sinh khổ não trong mười phương, hễ quán nghe âm thanh con, liền đặng giải thoát.
Hai là do xoay tri kiến hư vọng về nơi chân tánh, khiến chúng sinh dù lâm vào lửa lớn không bị đốt cháy.
Ba là do xoay cái nghe về nơi chân tánh, khiến chúng sinh dù nước lớn trôi, không bị chìm đắm.
Bốn là do diệt hết vọng tưởng, không còn tâm giết hại, có thể khiến các chúng sinh dù vào nước quỉ, không bị quỉ hại.

 

* Trang 472 *
device

Năm là do huân tu văn căn, thành tựu văn tánh, làm cho sáu căn cũng đặng tiêu dung giải thoát đồng với văn căn, nên có thể khiến các chúng sinh sắp bị giết hại, đao kiếm gãy hư; giả sử gặp phải binh qua, không thiệt hại như dao rạch nước, như thổi ánh sáng, không hề lay động.
Sáu là do tu tập, văn tánh đặng tịnh minh, sáng soi cả pháp giới, những chỗ tối tăm đều bị tiêu tan, có thể khiến chúng sinh dù ở gần gũi bên quỉ Dược-xoa, La-sát, Cưubàn-trà, Tì-xá-già, Phú-đơn-na v.v… mắt chúng chẳng có thể trông thấy.
Bảy là do tánh âm thanh đã viên thoát, sự quán thính hư vọng tiêu hồi, xa lìa các cảnh trần giả dối, mà có thể khiến chúng sinh không bị gông xiềng trói buộc làm hại.
Tám là do diệt âm trần, viên văn tánh phát sanh năng
lực tử tế, nên có thể khiến các chúng sinh dù đi qua đường hiểm yếu, cũng không bị cướp bóc.
Chín là do huân tu văn tánh, xa lìa trần cảnh không bị sắc trần chướng ngại, nên khiến những chúng sinh đa dâm, xa bỏ tâm tham dục.
Mười là do thuần âm tánh không theo vọng trần, căn cùng cảnh đều viên dung không năng sở đối đãi, nên có thể khiến tất cả chúng sinh hờn giận, xa bỏ tâm giận hờn.
Mười một là do tiêu dung hòa văn hình trở về tánh sáng suốt, pháp giới cùng thân âm sáng suốt vô ngại như lưu ly, nên có thể khiến tất cả hàng A-diên-ca (hoặc gọi vô tánh xiển đề, vì không có căn chủng thành Phật) bị tánh ngu độn ngăn che, được xa lìa ngũ ấm.

 

* Trang 473 *
device

Mười hai là do dung hòa văn hình trở về văn tánh, an trú tự tánh đạo tràng bất động mà khắp vào các thế gian, tuy không phá hư thế giới mà thường hiện làm Pháp vương tử bên các đức Phật, để cúng dường mười phương Như Lai, nhiều như số vi trần; vậy nên có thể khiến cả pháp giới những chúng sinh không con, muốn cầu con trai thì đặng sanh con trai phước đức trí huệ.
Mười ba là do sáu căn viên mãn thông suốt, tánh minh chiếu đồng nhất, trùm hiện mười phương cõi trong Đại viên cảnh Không Như Lai tạng, để tùy thuận vâng lãnh pháp môn thâm diệu bí mật của mười phương Như Lai không hề khuyết thất. Vậy nên hay khiến những chúng sinh không con trong pháp giới, muốn cầu con gái thì đặng sanh con gái tướng tốt đoan chánh, phước đức nhu thuần, mọi người đều kính mến.
Mười bốn là các vị Pháp vương tử (Bồ-tát) ước số 62 hằng hà sa, hiện ở thế gian, lựa trong Tam thiên Đại thiên thế giới, gồm có trăm ức mặt trời mặt trăng này, đều là những vị tu hành chánh pháp, chỉ bày mô phạm, giáo hóa chúng sinh, có những phương tiện, trí huệ không đồng tùy theo căn cơ chúng sinh sai khá; nhưng do con tu tập nhĩ căn viên thông, phát minh diệu tánh, thân tâm vi diệu dung thông khắp cùng cả pháp giới, nên có thể khiến chúng sinh trì niệm danh hiệu của con cùng với những chúng sinh trì niệm danh hiệu của hằng hà sa số vị pháp vương tử trên đó, phước đức của hai bên bằng nhau không khác. Bạch Thế Tôn, một danh hiệu con mà cùng kia nhiều danh hiệu không khác, ấy là bởi con tu tập chứng đặng chơn viên thông vậy.

 

* Trang 474 *
device

Ấy gọi là 14 thứ năng lực vô úy, phước thí khắp cả chúng sinh.
Bạch Thế Tôn, lại nhân con tu Nhĩ căn viên thông, chứng vô thượng đạo nên thành đặng 4 thứ diệu đức không thể nghĩ nghì, chẳng dụng ý mà tự nhiên thành tựu :
Một là do con đầu tiên chứng được văn tánh vi diệu, tánh ấy rất tinh minh, thoát ngoài năng văn, sở văn, không bị sự thấy, nghe, hiểu biết làm phân cách, dung thành một tánh bảo giác thanh tịnh viên mãn, nên có thể hiện rất nhiều hình dung tốt đẹp nói ra không lường thần chú bí mật. Hoặc hiện 1 đầu, 3 đầu, cho đến 84.000 đầu kiên cố; hoặc hiện 2 tay, 4 tay, cho đến 84.000 tay kiết ấn; hoặc hiện 2 mặt, 3 mặt, cho đến 84.000 mặt trong sáng. Những hình dung ấy hoặc từ có, oai có, định có, huệ có, để cứu hộ chúng sinh không chút gì ngăn ngại.
Hai là do con tu tập văn tư tu tam-muội, thoát khỏi sáu trần, không còn trở ngại, ví như tiếng thâu qua vách, cho nên con hay hiện mỗi mỗi hình dung, tụng mỗi mỗi bài chú, mà hình ấy chú ấy đều đem bố thí sức vô úy cho chúng sinh, nhân đó mười phương quốc độ đều gọi con là người bố thí vô úy.
Ba là con tu tập nhĩ căn được thanh tịnh viên thông, nên hễ dạo qua thế giới nào thì đều khiến chúng sinh ở đó xả thân mạng tài bảo, để cầu con thương xót.
Bốn là do con chứng được Phật tâm rốt ráo, nên có thể đem các món trân bảo cúng dường mười phương Như Lai và với chúng sinh trong pháp giới lục đạo, cầu vợ được vợ,

* Trang 475 *
device

cầu con được con, cầu tam muội được tam-muội, cầu sống lâu được sống lâu, cho đến cầu Đại Niết-bàn được Đại Niết-bàn.
Nay Phật hỏi viên thông, thì con do tu tập nhĩ căn, được tam-muội viên chiếu, tâm duyên các pháp một cách tự tại, nhân nhập tánh lưu, chứng Tam-ma-địa, thành tựu Bồ-đề, ấy là thứ nhất.
Bạch Thế Tôn, đức Phật kia tán thán con khéo đặng pháp môn viên thông, nên trong Đại hội của Ngài con đặng thọ ký tên là Quan Thế Âm. Do con quán nghe cả mười phương đều viên minh, cho nên danh hiệu Quan Thế Âm khắp các thế giới.
*
12. Hiện thân quốc vương để đem ngũ giới thập thiện giáo hóa cho các chúng sinh muốn tạo nhân lành để được phúc báo an lạc.
13. Hiện thân trưởng giả đủ tài, đủ trí, đủ đức, giàu sang, vị cao cả, trên chuộng dưới yêu, để giáo hóa cho các chúng sinh muốn làm chủ tể trong các giòng họ sang quí mọi người kính vì.
14. Hiện thân cư sĩ chánh tín Tam bảo, thanh tịnh tu hành để giáo hóa các chúng sinh muốn sống một đời trong sạch, không tham trước.
15. Hiện thân tể quan đại thần tài đức liêm chính để giáo hóa các chúng sinh muốn lãnh trí phân đoản việc xóm làng, cõi nước theo chánh pháp.

 

* Trang 476 *
device

16. Hiện thân Bà-la-môn thông minh phạm hạnh để giáo hóa các chúng sinh ưa thuật số, đạo học bỏ tánh kiêu mạn.
17. Hiện thân vị Tỳ-kheo giữ trọn oai nghi giới luật để giáo hóa các nam tử có tâm chí xuất gia giữ giới.
18. Hiện thân Tỳ-kheo ni giới luật thanh tịnh để giáo hóa các hàng con gái có chí muốn xuất gia giữ giới.
19. Hiện thân Ưu-bà-tắc để giáo hóa các hàng nam tử phát tâm qui y thọ năm giới.
20. Hiện thân Ưu-bà-di để giáo hóa các hàng con gái phát tâm qui y thọ năm giới.
21. Hiện thân Hậu phi, mạng phụ v.v… đoan trang nết đức để giáo hóa các người con gái rèn luyện việc nội chánh, giúp nhà lợi nước.
22. Hiện thân Đồng nam (người đàn ông từ nhỏ lớn không phạm dâm dục) để giáo hóa các chúng sinh từ nhỏ đến lớn không phạm dâm sự, xu hướng pháp xuất thế.
23. Hiện thân người Đồng nữ để giáo hóa các người con gái có chí tu đạo không ưng sự giá thú dâm bạo.
Mười hai ứng thân trên đây (từ 12 đến 23) đều hiện trong cõi người, hoặc làm người thế gian, hoặc làm tại gia Phật tử, hoặc xuất gia Phật tử để tùy cơ giáo hóa khiến các chúng sinh ấy hiện tại trọn được các sự lợi lạc, tương lai thành tựu đạo Bồ-đề.

 
*

* Trang 477 *
device

24. Hiện thân trời để nói pháp xuất ly, dạy các hàng chư thiên có tâm mong thoát khỏi thiên luân. Bởi vì phúc báo chư Thiên còn ở trong vòng sanh tử hữu tâm, tâm ngã nhơn chưa dứt, mê chấp còn nhiều, tham dục đương nặng, chưa khỏi sự thống khổ đối đầu, nên rất đáng nhàm chán.
25. Hiện thân loài rồng để khuyến hóa các loài rồng muốn thoát khỏi quả báo thân rồng nhiều thống khổ.
26. Hiện thân quỉ Dược xoa để khuyến hóa các loài Dược xoa muốn thoát khỏi quả báo Dược xoa nhiều thống khổ.
27. Hiện thân Càn-thát-bà để khuyến hóa các hàng Càn-thát-bà muốn thoát khỏi quả báo Càn-thát-bà thống khổ.
28. Hiện thân A-tu-la để khuyến hóa những A-tu-la muốn thoát khỏi quả báo A-tu-la thống khổ.
29. Hiện thân Khẩn-na-la để khuyến hóa những Khẩnna-la muốn thoát khỏi quả báo Khẩn-na-la thống khổ.
30. Hiện thân thần Ma-hô-la-già để khuyến hóa những Ma-hô-la-già muốn thoát khỏi quả báo Ma-hô-lagià thống khổ.
31. Hiện thân người để giáo hóa phép tu nhân đạo cho những kẻ muốn giữ mãi thân người, không bị chuyển sanh qua thân cõi khác, vì ở nhân đạo vui khổ tương đương, lại dễ gặp Phật pháp nên dễ tu hành.
32. Hiện thân phi nhân hoặc loài hữu tưởng, vô tưởng, hữu hình, vô hình, để giáo hóa chúng ấy thoát khỏi quả báo ở các loài kia.

 

* Trang 478 *
device

Chín loại ứng thân trên đây (24 đến 32) là Bồ-tát tùy theo các loài trời hay không phải trời, người hay tương tợ người mà hiện đủ thân trong các loài ấy để giáo hóa họ đặng thoát các báo thân thống khổ. Chúng sinh đương ở trong mê mờ, tùy nghiệp chuyển cách nào thì chịu cách nấy; nếu không nhờ Bồ-tát hiện thân giáo hóa, chuyển đổi nghiệp nhân, thì khó bề thoát khổ và hưởng sự an vui theo ý muốn.
Vì thế mà Bồ-tát ứng hiện 32 thân khắp quốc độ để giáo hóa, không chút ngăn ngại, như ngọc Ma-ni hiện đủ các màu sắc mà vốn vô tâm, không lay động.
Lại như Phật và chúng sinh giác tâm vốn đồng, mà chúng sinh thì bị tình tưởng cách ngại, cảnh giới xao động, chấp huyễn thân làm thật thân, chấp vọng cảnh làm chơn cảnh, nên mới có mọi điều lo sợ. Trái lại Bồ-tát đã hiệp tánh bản diệu của giác tâm, thấy muôn loài đồng một thể tánh tâm nguyên, đồng một thân tâm, không có loài nào ngoài, không có cảnh chi khác, tự mình thanh tịnh, không còn vọng tưởng, diệt hết tập khí sát, đạo, dâm, vọng, nên có thể khiến các chúng sinh dù lâm cảnh hoạn nạn mà nhớ đến danh hiệu Bồ-tát Quan Thế Âm, tức khắc tâm ấy liền đồng tâm Bồ-tát rộng lớn viên dung, chuyển ác tâm trở thành từ bi tâm, xoay cảnh tai nạn thành ra cảnh an lạc. Ấy là Bồ-tát đem công đức vô úy thí cho mười phương chúng sinh. Có 14 món vô úy :
1. Khiến chúng sinh khổ não, xưng danh Bồ-tát Quan Thế Âm liền đặng giải thoát.
2. Rủi vào lửa không bị lửa đốt.

 

* Trang 479 *
device

3. Rủi vào nước không bị chìm.
4. Rủi vào chỗ quỉ không bị quỉ hại.
5. Rủi gặp binh qua, đao trượng bị gãy nát.
6. Dù ở bên ác quỉ mà ác quỉ không trông thấy.
7. Lỡ phạm cấm chế không bị gông xiềng kiềm hãm.
8. Đi qua đường hiểm không bị giặc cướp.
9. Chúng sinh đa dục được ly dục.
10. Chúng sinh đa sân được ly sân.
11. Chúng sinh đa si được ly si.
12. Cầu con trai được sanh con trai phước đức trí huệ.
13. Cầu con gái được sanh con gái đoan chánh nhu thuận.
14. Chỉ niệm danh hiệu Bồ-tát mà phước ngang với người niệm vô số danh hiệu Bồ-tát khác.
Tóm lại 32 ứng thân là Bồ-tát cùng chư Phật đồng một sức từ, 14 món vô úy là Bồ-tát cùng với chúng sinh đồng một tâm bi ngưỡng, và tất cả đều do sức vô duyên từ của Bồ-tát mà thành tựu. Tuy vậy nơi Bồ-tát thì do vô duyên từ mà tự nhiên ứng, nhưng nơi chúng sinh phải do tự lực thiện căn mới thành; thế nên với chúng sinh đã phát thiện căn, thì liền có Bồ-tát hiện thân thuyết pháp, với chúng sinh khổ nạn một lòng bi ngưỡng xưng danh, thì liền cảm đến Bồ-tát thí đức vô úy; một khi tự lực tha lực đã viên mãn như vậy, thì sự cảm ứng tất được rõ ràng.
Ngoài các diệu dụng trên ra, ngài Quan Thế Âm còn chứng được 4 món diệu đức không thể nghĩ nghì. Nghĩa là

 

* Trang 480 *
device

sau khi chứng cực quả Vô thượng Bồ-đề, và Bi Trí đầy đủ thì tự nhiên không cần tâm niệm phân biệt nghĩ nghì mà vẫn có thể thành tựu phương tiện độ sanh.
Do ngài Quan Thế Âm đã chứng đặng văn tánh viên diệu, lìa tánh thấy nghe hư vọng, trong tánh giác đồng một thể; một thân tức nhiều thân, nhiều thân tức một thân nên tùy nghi hiện ra thân hình; một đầu đến nhiều đầu, hai tay đến nhiều tay, hai mặt đến nhiều mặt; khi hiện dáng từ bi, khi oai hùng, khi thiền định, khi trí huệ và nói ra vô lượng thần chú để cứu độ chúng sinh; đây là món bất tư nghì thứ nhất.
Hiện mỗi mỗi hình đọc mỗi mỗi bài chú, mà hình và chú ấy đều làm cho chúng sinh hết sợ hãi, đây là món bất tư nghì thứ hai.
Hay cảm đến chúng sinh, khiến họ xả bỏ thân mạng tài sản cúng dường, không sanh lòng tiếc nuối; đây là món bất tư nghì thứ ba.
Từ lực vô biên, thì tâm rộng lớn, ngài Quan Thế Âm chẳng những cúng dường chư Phật mà còn khắp thí cho tất cả chúng sinh, hễ chúng sinh cầu con thì đặng con, cầu vợ đặng vợ, cho đến cầu Đại Niết-bàn đặng Đại Niết-bàn; đây là món bất tư nghì thứ tư.
Như thế nên gọi Ngài là Quan Thế Âm, vì hay tầm thanh cứu khổ; cũng gọi Ngài là Thí vô úy, vì hay cứu vớt sự sợ hãi cho chúng sinh; nguyên do nhờ tu về nhĩ căn viên thông mà thành tựu cả.

 
*

* Trang 481 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm