LOGO VNBET
đức Phật nguyên thủy, không cần tu hành mà đắc đạo; hoặc nói, chính nó đã sinh ra chư Phật và các chúng sinh, làm cho người tu hành bỏ mất bản tâm của mình. Có khi Thiên ma hiện ra người mỹ nữ, tự xưng là thần Chấp Kim Cương đến cho phép trường sinh, rồi lần hồi thân cận người tu hành, cùng làm việc dâm dục, đến nỗi người tu hành phải chết khô, chết héo.
Nói tóm lại, các ma trong Tưởng ấm, toàn là những giống quỷ thần sống lâu thành ma, thừa dịp người tu hành còn mắc vào danh ngôn, có sự tham cầu, mà thuyết pháp theo chỗ sở thích, đi đến làm cho bỏ mất bản tâm, phá luật nghi của Phật và phải chịu sa đọa. Vì thế, người tu hành cần phải an trụ nơi nhất tâm; trong nhất tâm, không chấp tự tướng, tất cả đều bình đẳng và cũng không có cái kiến chấp  bình đẳng; đi theo Trung đạo mà lần lượt trừ các vọng tưởng, thì hết vọng tức là chân, không mong cầu cái gì, nhưng đến khi bản tính hiện tiền, thì diệu dụng vô lượng vô biên, nhất định sẽ đầy đủ. Ngược lại, nếu còn tâm thủ xả, thì những tập quán danh ngôn sẽ hiện ra rất nhiều ma cảnh, làm cho sai mất chính kiến và sẽ bị chìm đắm.
*
(Quyển X)

 
A-nan, bỉ thử thiện nam tử … thanh tịnh tiêu chỉ.
Những ma sự thuộc Hành ấm.
- Giải thích : Chúng sinh dùng các tưởng mà duyên với các tướng của sự vật; nhất là dùng ý tưởng mà duyên với

* Trang 588 *
device

cảnh danh ngôn, tức là cái cảnh sự vật sai khác trong lúc đang thức và cái cảnh chiêm bao trong lúc ngủ, cái cảnh mà Duy thức học gọi là Độc ảnh cảnh. Giác ngộ được độc ảnh cảnh do ý tưởng hiện ra như huyễn như hóa, thì thức tâm yên lặng, như hư không trong sạch, không còn những tướng thô trọng của tiền trần, xóa bỏ được tập quán lâu đời, chấp cánh danh ngôn là sự thật và phá được Tưởng ấm. Từ đó, tâm đối với cảnh như gương soi các bóng, đến, không dính dáng, qua, không dấu vết và cội gốc của sinh diệt mới phơi lộ ra. Người tu hành lúc đó, tuy chưa thông suốt manh mối của mỗi mỗi chúng sinh, nhưng đã thấy được then chốt sinh diệt chung của tất cả chúng sinh, thấy sự sự, vật vật sát-na sinh diệt, thoạt hiện rồi thoạt biến, như các bóng dã mã. Bóng dã mã, tức là bóng của những hạt bụi lớp chớp trong tia ánh sáng rọi vào phòng tối, hoặc là những bóng dương  diệm, do độ nóng không đồng nhau của các lớp khí quyển, mà hiện ra như huyễn hóa, chứ không phải có thật. Đó là phạm vi của Hành ấm.
Khi người tu hành đi sâu vào như huyễn Tam-ma-đề, phá được tập khí sinh diệt nơi thức tâm, thì tất cả các sự sinh diệt đều tiêu trừ, chỉ còn thức thể đứng lặng như nước không sóng; như thế là phá được Hành ấm, vượt được chúng sinh trược, đồng thời, nhận rõ cội gốc của Hành ấm là vọng tưởng u ẩn, nơi thể tính bình đẳng, chấp thật có sinh, có diệt.
Những ma sự được Phật nêu ra trong Hành ấm và Thức ấm, đều là những ma về lý luận, chứ không phải về sự tướng như trong các ấm trước kia. Đó là vì những người ngộ được chân lý rồi mới tu hành, thì khi phá được Tưởng

* Trang 589 *
device

ấm đã lên Sơ địa Bồ-tát và sẽ đi thẳng đến đạo Bồ- đề, không còn ma sự nữa. Ngược lại, những người chưa ngộ chân lý, nương theo định mà phá các ấm, thì đến khi Tưởng ấm hết rồi, có thể còn bị những lý ma quấy phá; do đó, cần phân tích rõ ràng, để cho họ khỏi bị sa đọa. Sự phân tích các lý ma này, về mặt trái, cũng có thể giúp ích cho những người tu học rõ thêm chân lý.
Khi người tu hành phá được Tưởng ấm rồi, thì các loài Thiên ma không còn dịp quấy phá nữa. Nếu trong lúc Hành ấm phơi lộ ra, thấy cái cơ sở chung của sinh diệt, nhận lầm đó là nguồn gốc của sự vật, thì người đó có thể sa vào hai cái luận vô nhân :
- Một, là người đó thấy trong tám muôn kiếp, chúng sinh chết chỗ này, sinh chỗ kia, luân hồi mãi mãi, và ngoài tám muôn kiếp thì không thấy gì, rồi nhận định rằng trước  tám muôn kiếp, tất cả chúng sinh không nguyên nhân gì mà tự có.
- Hai, là người đó thấy trong tám muôn kiếp, người vẫn sinh người, chim vẫn sinh chim, đen không vì nhuộm, trắng không vì tẩy, không có gì thay đổi; lại nhận định rằng tất cả sự vật đều mãi mãi như thế, không do nhân duyên gì mà sinh cả.
Hoặc có người tu hành, khi Hành ấm đã phơi lộ, thấy dòng sinh diệt luôn luôn tiếp tục, mà lại chấp là tính viên thường, thì người đó sa vào bốn cái luận biến thường:
- Một, là người đó thấy tất cả chúng sinh, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, xoay vần mãi mãi, không hề tan mất, mà chấp là thường.

* Trang 590 *
device

- Hai, là người đó thấy thân thể chúng sinh, đều do tứ đại tạo thành, chúng sinh có sinh diệt, nhưng bản thể tứ đại của chúng sinh không hề tan mất, rồi chấp đó là thường.
- Ba, là người đó xét cùng nguyên do của tâm thức chúng sinh, thấy nó tiếp tục mãi mãi chứ không hề mất hẳn, rồi chấp đó là thường.
- Bốn, là người đó đã phá Tưởng ấm, không còn các tướng thô trọng, thì nghĩ rằng như thế là không sinh diệt, rồi chấp đó là thường.
Hoặc có người tu hành, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại sinh lòng so đo phần tự, phần tha, thì người đó sa vào bốn cái luận “một phần thường” :
- Một, là người đó, khi Hành ấm phơi lộ ra, thấy cái cơ sở chung của sinh diệt, nhận là thần ngã, rồi chấp cái thần ngã cùng khắp thập phương là thường. Còn tất cả chúng sinh sống chết trong ấy, đều là vô thường.
- Hai, là người đó xét khắp các cõi nước mười phương, chỗ nào bị kiếp tai phá hoại, thì gọi là vô thường, còn từ Tứ thiền trở lên, kiếp tai không phá hoại, thì gọi là thường.
- Ba, là người đó riêng quán tâm mình nhỏ nhiệm như vi trần, có thể khiến cho cái thân sinh rồi lại diệt mà không dời đổi, rồi chấp cái tâm nhỏ nhiệm ấy là thường, còn tất cả những sự sống chết, đều là vô thường.
- Bốn, là người đó chấp cái sinh diệt tiếp tục của Hành ấm là thường, còn những Sắc ấm, Thụ ấm và Tưởng ấm hiện đã diệt hết, thì gọi là vô thường.

* Trang 591 *
device

Hoặc có người tu hành, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại so đo nơi phận vị, thì người đó sa vào bốn cái luận “hữu biên”, đối với vô biên :
- Một, là người đó thấy cái cội sinh diệt tiếp tục không dừng, thì chấp cái tâm tương tục là vô biên, còn những điều quá khứ, vị lai, đều là hữu biên.
- Hai, là người đó xét trong tám muôn kiếp thì thấy chúng sinh, trước tám muôn kiếp thì không thấy gì, rồi chấp chỗ không thấy gì, là vô biên, còn chỗ có chúng sinh, là hữu biên.
- Ba, là người đó chấp mình hay biết cùng khắp, là được tính vô biên, còn tất cả các người khác, thì chỉ có tính hữu biên.
- Bốn, là người đó, thấy sự sinh diệt chớp nhoáng, thì chấp tất cả chúng sinh, đều phần nửa là sinh, phần nữa là diệt và tất cả sự vật trên thế giới, đều phần nửa là hữu biên, phần nửa là vô biên.
Hoặc có người tu hành, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại so đo về tri kiến, thì người đó mắc vào bốn cái luận “càn loạn bất tử” :
- Một, là người đó xét cội gốc biến hóa, thấy chỗ dời đổi, thì gọi là biến, thấy chỗ tương tục, thì gọi là thường; chỗ thấy được, thì gọi là sinh, chỗ không thấy được, thì gọi là diệt; chỗ nhân duyên tiếp tục, thì gọi là thêm; trong chỗ tiếp tục, cái dứt đoạn chặng giữa, thì gọi là giảm; chỗ mỗi mỗi cái sinh ra, thì gọi là có; chỗ nơi cái này không có cái kia, thì gọi là không; dùng tâm phân biệt quán sát các sự

* Trang 592 *
device

vật như thế, rồi bảo người khác rằng : “Tôi nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng thêm, cũng bớt”, làm cho không thể hiểu được.
- Hai, là người đó xét cái lý, nơi cái nầy không có cái kia, mà nhận rằng tất cả đều không; có ai hỏi nghĩa, thì chỉ nói một chữ không mà thôi.
- Ba, là người đó chín xét chỗ mỗi mỗi đều có và chấp cái có; có ai đến hỏi nghĩa, thì chỉ nói là phải mà thôi.
- Bốn, là người đó chấp cả có, cả không. Có người đến hỏi thì bảo rằng : “Cũng có, tức là cũng không, cũng không, không phải cũng có”. Đó đều là những lý luận “càn loạn bất tử”, không dứt khoát là thế nào cả.
Hoặc có người tu hành, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại so đo nơi cái dòng sinh diệt vô tận, thì người đó mắc vào những cái luận, sau khi chết có tướng; thế rồi, họ tự củng cố cái thân và bảo rằng Sắc là mình, hoặc họ thấy cái ngã của họ cùng khắp mười phương và bảo rằng ta có Sắc, hoặc bảo rằng Sắc thuộc về ta và đều xoay về ngã thể, hoặc bảo rằng ta ở nơi Sắc, nghĩa là trong Sắc có ta vậy. Đối với Thụ ấm, Tưởng ấm, Hành ấm, hoặc họ cũng chấp như thế, như chấp cái Thụ là ta, ta có Thụ, Thụ thuộc về ta, ta ở trong Thụ v.v…, tính đủ tất cả có 16 tướng. Hoặc có khi, họ còn chấp phiền não và Bồ-đề cũng có với nhau một lúc, mà đối với ta, không trở ngại gì; như thế, là không biết hễ có phiền não, thì không Bồ-đề, có Bồ-đề, thì không phiền não và phải chuyển cái mê thành ngộ, dù bản tính không hề thêm bớt.

* Trang 593 *
device

Hoặc có người, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại so đo nơi các ấm đã trừ diệt rồi, và chấp rằng sau khi chết không có tưởng. Họ so đo rằng Sắc ấm đã diệt, không còn hình tướng; Tưởng ấm đã diệt, không còn phân biệt tiền cảnh; Thụ ấm đã diệt, tâm và cảnh không còn quan hệ gì với nhau; như thế, thì dầu có sinh diệt cũng như cỏ cây, làm sao sau khi chết, lại còn có tướng được. Xét cùng lối chấp này, có tám thứ chấp không có tướng, như không Sắc ấm thì không có tướng, không Thụ ấm thì không có tướng, cho đến không Tưởng ấm, không Sắc Thụ ấm, không Sắc Tưởng ấm, không Thụ Tưởng ấm, không Sắc Thụ Tưởng ấm thì không có tướng, hoặc chấp cả Hành ấm, tuy có cũng như không và sau khi chết đều không có tướng. Người chấp không như thế, hoặc khi còn chấp Niết-bàn, nhân quả, luống có danh từ, tất cả đều không, rốt ráo chỉ là đoạn diệt.
Hoặc có người, khi Hành ấm phơi lộ ra, lại so đo nơi chỗ Hành ấm hãy còn và các Sắc ấm, Thụ ấm, Tưởng ấm đã diệt, nên chấp cả cái có, cái không; rồi do cái có và cái không chống phá lẫn nhau, mà chấp rằng sau khi chết, không phải có, không phải không. Xét cùng khắp lối chấp này, cũng có tám tướng, vì người đó còn có thể chính nơi Hành ấm sinh diệt dời đổi mãi mãi, mà chấp rằng không phải có, không phải không.
Hoặc có người, khi Hành ấm phơi lộ ra, xét cái dòng sinh diệt vô thường, lại chấp rằng, cuối cùng không có gì và mắc vào 7 luận đoạn diệt. Hoặc khi họ chấp hiện thân hết rồi là đoạn diệt; hoặc họ chấp nơi Sơ thiền, Nhị thiền,

* Trang 594 *
device

Tam thiền, Tứ thiền, định Vô tưởng và định Tứ không là đoạn diệt.
Hoặc có người, khi Hành ấm phơi lộ ra, thấy cái dòng Hành ấm tiếp tục không dứt, lại chấp cuối cùng là có và mắc vào 5 cái luận Niết-bàn hiện có. Như thế, hoặc chấp Dục giới định, hoặc chấp Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là được giải thoát khỏi vòng luân hồi và do mê lầm những cảnh hữu lậu là đạo vô vi, chấp những cảnh đó là Niết-bàn hiện có.
Do người tu hành trong lúc Hành ấm phơi lộ, sinh ra những so đo, chấp trước như thế, mà sa lạc vào ngoại đạo, tự nhận là đã chứng ngộ, mắc vào tội đại vọng ngữ, rồi sẽ đọa vào ngục Vô Gián.
Những lý ma hiện ra như thế, là do người tu hành không rõ chân lý, dùng những phân biệt giả dối để tự dối mình, mà không biết rằng phàm đã có tướng, đều là hư vọng, còn một chút phân biệt, là không phải chân thật; vì thế, nên lẩn quẩn trong vòng cái có, cái không, được một ít đã cho là đủ.
 A-nan, bỉ thiện nam tử … quy vô sở đắc.
Những ma sự thuộc Thức ấm.
- Giải thích : Người tu hành, nhân định lực mà phá các ấm, khi Tưởng ấm hết rồi, thì không còn cảnh danh ngôn và chỉ có cảnh thanh u của Hành ấm. Vì Hành ấm đương còn, sát-na, sát-na sinh diệt tiếp tục, cảnh thanh u đó vẫn lăng xăng lay động, làm cái cơ sở chung, phát sinh ra tất cả thế giới chúng sinh. Chỉ đến khi tâm thấy được mọi sự,

* Trang 595 *
device

mọi vật như hoa đốm giữa hư không, vốn không có sinh, làm gì có diệt, thì nơi tâm mới hết sinh diệt; do đó, cái cơ sở chung sinh ra thế giới chúng sinh cũng bị xóa bỏ; chẳng những không có gì gọi là lục đạo, mà cái ngã thể xưa nay, chịu luân hồi trong lục đạo, cũng không còn nương vào đâu, mà theo nghiệp chịu báo.
Sinh diệt đã diệt, thì tịch diệt hiện tiền; các vị tu theo chính pháp, nhân đó phát ra trí tuệ, chứng quả vô sinh. Các bậc Nhị thừa, khi Hành ấm hết rồi, thì trừ được cái chấp câu sinh nhân ngã, chứng quả A-la-hán; các vị Thất địa Bồ-tát, khi Hành ấm hết rồi, thì trừ được cái chấp câu sinh nhân ngã và đang trừ nốt cái chấp câu sinh pháp ngã để lên Bất động địa, như thế, quyết hẳn không còn ma sự được nữa. Những người chưa rõ chân lý, tạm thời diệt được sinh diệt, cũng tạm thấy cảnh tịch diệt; sáu căn đều thanh tịnh, không còn dong ruổi theo trần cảnh; trong ngoài đều sáng suốt, đem cái trí đứng lặng sáng suốt, nhập vào cái thể đứng lặng sáng suốt, nhưng sự thật, trí ấy và thể ấy đồng một bản tính, nên không có gì nhập vào với cái gì cả. Lúc ấy, thì thấy rõ nguyên do thọ mạng của tất cả chúng sinh, thấy rõ các loài thực tế chưa hề sinh diệt; như thế, là đã thấy được cái đồng của tất cả sự vật. Do Thức ấm hãy còn, cái đồng đó, còn là cái đồng đối với cái khác, chưa tiêu về tính không đồng, không khác, nên nhỏ nhiệm che đậy, như tấm màn the mỏng. Đó tức là phạm vi của Thức ấm.
Nếu nơi cái đồng đã chứng được, huân tập tiêu sáu căn về bản tính, khi hợp, khi chia được tự tại, cái thấy có

* Trang 596 *
device

thể nghe, cái nghe có thể thấy, sáu căn dùng thay lẫn nhau được, thì chẳng những hội được sáu căn về một, mà còn có thể tức cái một đó, cũng tức là sáu căn; giác tính toàn bày ra, không còn có sự cách biệt giữa căn này và căn khác; như thế, là phá được Thức ấm, chuyển thức tạng thành Như Lai tạng, và mới vượt khỏi mạng trược; lúc ấy, mới rõ nguyên do của mạng trược sinh tướng vô minh, tức là cái vọng tướng giả dối, không có thật thể, chỉ nhận cái tính minh, mà quên mất cái tính diệu. Các vị Bồ-tát đến đây, thì lên Kim Cương địa, xả Dị thục thức, do không còn chút tính riêng gì, nên nhập một với pháp giới tính, trên, cùng chư Phật đồng một trí tuệ và đồng một sức từ bi, dưới, cùng chúng sinh đồng một tính phân biệt và đồng một lòng cầu giải thoát; như thế, là được vô lượng vô biên công đức, được Vô ngại trí, Tự nhân địa. Nhưng, chẳng những các vị Bồ-tát được như thế, tất cả những người tu hành, phá được Thức ấm, cũng đều được như thế; vì khi bản lai tự tính hiện tiền, thì không phân biệt những người ngộ rồi mới tu hay là tu rồi mới ngộ.
Song, những người chưa ngộ chân lý, nhân định lực mà phá các ấm, khi đã diệt được sinh diệt, phá được Hành ấm rồi, nhưng chưa đi đến chân tính tịch diệt, thì trong lúc các căn có thể tự tại hợp làm một, hoặc chia ra làm sáu và tính  hay biết thông với các loại chúng sinh thập phương, trong lúc đứng trước thật thể sinh ra các sinh diệt, người đó, có thể mắc vào các thứ lý ma, sinh ra các giống ngoại đạo.
Nếu, khi Thức ấm hiện tiền, lầm nhận nó là cái nhân chân thường, sinh ra tất cả sự vật, thì người đó, mắc vào

* Trang 597 *
device

cái chấp “nhân sở nhân”, nghĩa là người đó, không biết do vô minh mà có sự vật, chấp có nguyên nhân khác mà không biết trở về bản lai tự tính; người đó, lập chỗ “sở đắc” thành chỗ quy y của mình, giống như bọn ngoại đạo Ta-tỳ-ca-la, chấp có Minh đế sinh ra mọi sự, mọi vật.
Hoặc có người, khi Hành ấm hết rồi, Thức ấm hiện tiền, lầm nhận cái thức hiện ra tất cả sự vật là ngã và chấp rằng chính mình đã sinh ra mọi sự, mọi vật, thì người đó, mắc vào cái chấp “năng phi năng”, nghĩa là không phải năng sinh, mà chấp là năng sinh, như bọn Ma-hê-thủ-la; bởi vì người đó, lập cái thức thể năng biến, thành cái ngã thể năng sinh, nên làm bè bạn với bọn Đại Mạn Thiên, nhận mình là Tạo hóa, sinh ra tất cả.
Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền, lại nghĩ rằng chính bản thân mình, cùng với tất cả sự vật, đều do Thức ấm sinh ra, rồi chấp Thức ấm là đấng Chân thường, bất sinh bất diệt; như thế, chẳng những người đó, mê tính thường trụ, mà cũng mê tính sinh diệt nữa và mắc vào cái chấp “thường phi thường”, như những kẻ nhận Tự tại thiên là Tạo hóa; do mê chấp như thế, người đó, sinh ra giống ngoại đạo “đảo viên”, lầm cái tự tính viên mãn của mình, là cái tạo hóa sinh ra mình, nghĩa là, lập cái tâm nương vào nguyên nhân khác, thành cái quả giả dối, chấp có đấng “Tạo hóa”.
 Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền và cái hay biết cùng khắp, lại chấp rằng tất cả cỏ cây, đều là hữu tình như người không khác và mắc vào cái chấp “tri vô tri”, như bọn Bà Tra và Tiến Ni, chấp tất cả đều có hay biết. Người đó,

* Trang 598 *
device

do chấp cái hay biết cùng khắp, thành cái quả sai lầm, nhận rằng tất cả đều có hay biết, nên sinh ra giống ngoại đạo “đảo tri”.
Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền, tất cả đều viên dung, lại tùy sự ưa thích, nghĩ rằng Hỏa đại, Thủy đại, Phong đại, hoặc Địa đại, là tính thường trụ sinh ra mọi sự, mọi vật. Thế là người ấy, mắc vào cái chấp “sinh vô sinh”, nhận những tứ đại do thức tâm biến hiện, vốn không sinh gì, thành ra có sinh; bỏ tâm theo vật, sinh ra giống “điên hóa”, tức là giống ngoại đạo thờ lửa, thờ nước, cho đó là tạo hóa để cầu quả thường trụ, đi ngược với sự thật pháp giới duyên khởi như huyễn.
Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền, lại chấp cái rỗng trống của tính viên minh, bác bỏ tiêu diệt các sự vật biến hóa và nhận định rằng tất cả đều đoạn diệt, thế là người ấy, mắc vào cái chấp “qui vô qui”, lập ra thuyết hư vô, thành cái quả trống không, không quay về được bản lai tự tính, sinh ra giống ngoại đạo đoạn diệt.
Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền, lại muốn củng cố cái thân cho được thường trụ, như tính viên thường, thì người đó, mắc vào cái chấp “tham phi tham”, không tham cầu bản tính thường trụ, lại tham cầu cái thân thường trụ, sinh ra giống ngoại đạo “vọng điên”, như ông A-tư-đà, tu phép trường sinh, củng cố cái thân hư vọng, kéo dài cái quả trần lao, rốt cuộc rồi, cũng phải chết mà thôi.
Hoặc có người, khi Thức ấm hiện tiền, thấy các sinh mạng đều thông lẫn với nhau, lại sợ trần lao tiêu hết, không còn lạc thú, người đó hóa ra lâu đài, trân bảo, gái

* Trang 599 *
device

đẹp v.v… để hưởng khoái lạc. Đó là vì người đó, mắc vào cái chấp “chân vô chân”, lấy vọng làm chân, buông lung tâm niệm, nên sinh ra giống Thiên ma.
Tám ma sự, thuộc về Thức ấm vừa kể trên kia, đều do người tu hành, khi nương theo định, tạm thời diệt được sinh diệt, gần chứng ngộ được tự tính thanh tịnh Niết-bàn, lại bị những thói quen mê lầm trong Thức ấm sai khiến, hoặc chấp có, chấp không, chấp năng, chấp sở, hoặc chấp thường, chấp đoạn, chấp sinh, chấp diệt, chấp tự, chấp tha v.v…, mê theo ngã chấp, pháp chấp, trở lại dòng sinh diệt và sinh ra các giống ngoại đạo. Những người này, do lầm vô minh là chân tính, được một ít đã tự cho là đủ, phạm tội đại vọng ngữ, làm hại mình và làm hại người khác, nên khi quả báo hưởng thụ hết rồi, phải đọa vào ngục Vô Gián.
Cũng có các vị tu hành, trong vòng nhân quả nhận biết rõ chỗ chân, chỗ vọng, chỗ thanh tịnh, chỗ ô nhiễm, theo phép Tứ đế mà tu tập, đến khi diệt hết Hành ấm, chứng quả vô sinh, hoàn toàn tiêu trừ câu sinh ngã chấp, ra khỏi tam giới rồi, thì yên vui với cảnh giải thoát, không cầu tiến lên nữa. Vị đó, sa vào hàng định tính Thanh Văn, được một ít đã cho là đủ, xa rời tính viên thông, đi ngược đạo Niết-bàn của Phật, sinh ra giống triền không, bị cái không ràng buộc mà không chứng được bản lai tự tính, không nhập một được với then chốt của nhân quả, mà chỉ tu tập, diệt được nguyên nhân của luân hồi và chứng được cái quả ra khỏi luân hồi mà thôi.
Lại có vị, khi giác ngộ được đạo lý duyên khởi, diệt được sinh diệt, không còn câu sinh ngã chấp, thì nhận đó là

* Trang 600 *
device

Niết-bàn, mà không tu tiến thêm nữa. Vị đó, sa vào hàng định tính Bích Chi, là những vị Duyên Giác, Độc Giác, không biết hồi tâm hướng về Đại thừa. Các vị này, tuy đã giác ngộ được duyên khởi, chứng được bản tính sáng suốt đứng lặng, nhưng vì bỏ mất diệu dụng của bản lai tự tính, nên sinh ra giống giác ngộ viên minh, nhưng không hóa được tính viên.
Hai vị sau này, do còn chấp thật có sinh tử, thật có Niết-bàn, chỉ biết tu nhân giải thoát, được cái quả ra khỏi luân hồi, rồi được một ít đã cho là đủ, nên cuối cùng vẫn không nhập một được với pháp giới tính, đầy đủ vô lượng vô biên công đức và thành Phật đạo.
 Thử thi quá khứ … tiên Phật Thế Tôn.
Kết luận về tu tâm trừ tà, tuân theo lời Phật dạy.
- Giải thích : Nói tóm lại, những ma sự thuộc ngũ ấm mà Phật vừa dạy trước đây, thật bổ ích cho người tu hành. Đây là những kinh nghiệm rất quý báu trong lúc tu chỉ quán. Nếu người tu hành, khi ấm ma hiện tiền, mà nhận biết được, thì nhất định thoát khỏi ma sự, đi thẳng đến đạo Bồ-đề, không mắc vào các đường tà. Nếu người nào không hiểu được giáo lý, phát tâm nương theo định mà phá các ấm, thì nên thường ngày tụng trì chú Lăng Nghiêm, hoặc đeo chú ấy trong mình v.v… để nhờ sức từ bi của Phật, khỏi bị ấm ma quấy phá. Đến khi phá hết ngũ ấm, diệt hết vô minh, thì nhập một với pháp giới tính và mới biết rằng tất cả chúng sinh bản lai đã thành Phật rồi, chỉ vì mê lầm mà không tự biết; mê lầm dứt sạch, thì Phật tính hiện tiền,

* Trang 601 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm