LOGO VNBET
SỰ LIÊN HỆ
CỦA KINH VỚI TAM TẠNG

 
Kinh Lăng Nghiêm thuộc về Kinh tạng, Luật tạng hay Luận tạng ?
Trước khi đi vào nội dung của Kinh, tôi muốn nói về sự liên hệ của kinh với Tam tạng, sự phán giáo và cách lập tông. Đây là lề lối mà các vị Đại sư ở Trung Hoa khi giảng kinh thường hay phân biệt giáo nghĩa trong mỗi bộ kinh thuộc về Tạng nào, giáo trình và cách lập tông ra sao. Bởi kinh sách Phật giáo ngoài 5 bộ Nikàya, còn có rất nhiều kinh khác. Trong các kinh đó lý nghĩa trùng trùng điệp điệp, đôi khi làm cho người đọc khó hiểu, nên các Ngài phân tách về giáo nghĩa và hệ thống nó, đặt thành từng hệ, tuy không phải là một hệ tách biệt, nhưng nó cũng có những đường ranh giới giữa giáo lý này với giáo lý khác. Tỷ dụ như ta nói rằng, có ngũ thừa giáo (Nhơn thừa, Thiên thừa, Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát thừa). Khi Đức Phật dạy thì Ngài không có phân biệt như vậy. Nhưng khi
nhìn vào trong giáo lý thì thấy rõ rằng giáo lý Nhân thừa khác, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát khác. Vì vậy các Ngài mới phân định như có một làn ranh giới. Ví như nói về Nhân thừa, vậy chủ yếu của Nhân thừa giáo là gì ? Thiên thừa, Thanh văn, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa … chủ yếu các thừa trên nói gì ? Lẽ tất nhiên

 

* Trang 14 *
device

đây là nói giáo lý chủ yếu, chứ không nói giáo lý hỗ trợ. Vì trong giáo lý cũng như trong pháp môn tu, thường thường nó có cái chánh và cái phụ. Chẳng hạn như Lục độ là cách tu 6 độ, nhưng cũng có thể lấy một độ trong đó làm chính, còn các độ khác là phụ. Nếu như tu Bố thí độ thì bố thí độ là chính, nhưng các độ khác phải hỗ trợ cho bố thí độ. Hoặc tu Bát-nhã độ thì Bát-nhã độ là chính, còn các độ khác thì phải hổ trợ cho Bát-nhã độ, chứ không thể chỉ tu riêng Bát-nhã độ mà thành tựu được, cũng không thể Bố thí mà thành tựu được. Trong giáo lý của Đức Phật cũng như vậy. Các Ngài nhìn thấy trong đó tuy là lời Phật dạy hết, nhưng tùy căn cơ khác nhau nên giáo lý cũng phải theo căn cơ đó để hướng dẫn cho sự tu hành. Về ngũ thừa giáo cũng là một cách chia, một cách phán (ngoài ra, có nhiều cách phán nữa).
Bây giờ, tôi muốn nói về sự liên hệ giữa kinh Lăng Nghiêm này với Tam tạng giáo. Như chúng ta biết, Tam tạng là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Kinh tạng là nói về giáo lý (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, vô thường, vô ngã, tịch tịnh Niết-bàn, tam pháp ấn …), tức nói về tánh tướng của sự vật hoặc nói về chân lý (chân đế, tục đế). Giáo lý đó gom lại thành Kinh tạng. Luật tạng là cái kho tàng chứa những điều răn cấm, tức là những điều thực hành để giữ gìn thân, khẩu, ý cho được thanh tịnh. Luận tạng là kho tàng chất chứa những bộ luận, mà bộ luận đó là giải thích Kinh và giải thích Luật. Tỷ dụ như Thiện kiến luật, đó là luận giải thích chứ không phải là chính luật, mà gọi là Thiện kiến luật. Ngoài ra có những bộ luận khác để

 

* Trang 15 *
device

giải thích kinh, giảng giải kinh, cho nên nó thuộc về Luận tạng, vì có lý luận trong đó.
Trong kinh tạng đôi lúc Phật cũng có những câu lý luận nhưng rất đơn sơ – phần nhiều Ngài nói xuôi như vậy thôi. Tính cách của kinh là như thế.
Như vậy kinh Lăng Nghiêm này đối 3 tạng đó, nó ở tạng nào ? Lẽ tất nhiên khi nói kinh Lăng Nghiêm chính là thuộc Kinh tạng chứ không thể ở Luật tạng hay Luận tạng được. Nhưng kinh Lăng Nghiêm nó thuộc dạng đặc biệt. Vì trong kinh Lăng Nghiêm cũng có đoạn nói về bốn Bala-di và bốn trọng giới. Kinh Lăng Nghiêm cũng thuộc về Luật tạng. Trong đoạn 7 chỗ gạn tâm, 10 phen kiến tánh cho thấy có một tính cách đối đáp, lý luận giữa Phật và A-nan, nên nó cũng mang tính cách của Luận tạng. Tóm lại, kinh Lăng Nghiêm mặc dù là Kinh tạng nhưng cũng bao gồm Luật tạng và Luận tạng.

 
*

* Trang 16 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm