LOGO VNBET
SỰ PHÁN GIÁO
TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

 
Phán giáo là thế nào ? Xưa các vị Thầy ở Trung Hoa có lập ra phán giáo này, còn các vị cao Tăng Ấn Độ thì không. Mỗi ngài nhìn giáo lý của Đức Phật theo tầm nhìn của mình để phán định. Nhưng giáo lý của Phật là giáo lý gì mà được gọi là phán giáo ? Đó là phán định giáo lý cả một đời thuyết pháp của Đức Phật gồm có những phần gì, phần gì … Sự phán giáo này xưa có nhiều vị.
1. Bồ-đề-lưu-chi : Ngài phán, một đời giáo pháp của Phật là nhất âm giáo – một giáo lý viên âm của ngài thuyết ra mà thôi, chứ không có giáo lý cao thấp gì hết. Nhưng vì căn cơ của chúng sinh nghe khác mà thành giáo lý khác nhau. Phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp, chúng sinh tùy loại các đắc giải : Phật chỉ dùng một cái âm thanh viên mãn thuyết pháp, nhưng chúng sinh tùy loại, tùy căn cơ nên người hiểu thế này người hiểu thế kia, do đó giáo lý có sai khác.
Nói như kinh Pháp Hoa thì giáo lý của Phật thậm thâm vi diệu, bất khả ngôn thuyết, khó có thể cứu độ chúng sinh, nên Phật tùy nghi phương tiện dùng chủng
chủng ngôn từ, chủng chủng thí dụ, chủng chủng nhơn duyên để thuyết pháp. Sự tùy nghi phương tiện thuyết đó là theo căn cơ của chúng sinh, nên có lúc thuyết như thế này lúc thuyết như

* Trang 17 *
device

thế khác, nhưng trong thâm tâm của Phật là chỉ muốn đem nhất thừa giáo để thuyết. Như vậy chứng tỏ trong ý và trong tâm Phật là chỉ muốn đem nhất âm giáo để thuyết chứ không có gì khác, nhưng vì căn cơ chúng sinh khác nên mới có giáo lý khác nhau.
2. Ngài Huệ Viễn : Ngài phán trong một đời thuyết pháp của Phật có hai giáo : Một là đốn giáo, hai là tiệm giáo. Vậy đốn giáo là gì ?
Như trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật về cái lý trùng trùng duyên khởi : Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất. Chính ngay đó chữ tức đó Niết-bàn là đốn rồi. Nhất tức nhất thiết, chứ không có từ từ. Nhất thiết tức nhất, ngay trong chữ tức đó đã là đốn rồi. Văn tức ngộ (nghe tức ngộ rồi). Phiền não tức Bồ-đề, sanh tử tức Niết-bàn – chính chữ tức đó có chữ đốn trong đó. Tóm lại, giáo lý gồm có hai là : đốn giáo tiệm giáo, nhưng chúng sinh không đủ căn cơ để nghe nên Ngài nói tiệm. Ngài biết ông này sáng dạ nên Ngài nói theo kiểu sáng dạ, còn người tối dạ thì Ngài nói theo kiểu tối dạ; tức tùy theo từng căn cơ khác nhau mà tuần tự nói như vậy, nên gọi là tiệm giáo.
3. Ngài Đàm-vô-sấm : Ngài cũng phán hai giáo : Mãn tự giáo Bán tự giáo. Vậy Bán tự giáo là gì ? Là giáo lý mới nói nửa chữ chứ chưa nói trọn chữ. Còn Mãn tự giáo là giáo lý nói trọn cả chữ, chứ không phải nói nửa chữ hay nửa câu. Nói rõ hơn Bán tự giáo là giáo lý phá trừ cái nhơn ngã (tức giáo lý nói về cái nhơn không). Nếu nói nhơn không thì chưa trọn mà phải nói nhơn không pháp không,

* Trang 18 *
device

, hay sanh không pháp không thì mới trọn vẹn nghĩa chữ không của nhất thiết pháp không (tất cả đều không).
Bây giờ tôi nói giáo lý nói về nhơn không chứ chưa đã động gì đến Pháp không. Giáo lý nhơn không nói rằng, ngũ uẩn vô ngã chứ chưa nói ngũ uẩn, nên nói nhơn không là mới nói nửa chữ, đến khi nói pháp không nữa mới gọi là nói trọn cả chữ, thì gọi là mãn tự giáo.
Tóm lại, ngài Đàm-vô-sấm phân chia giáo lý của Phật làm hai loại : Một là giáo lý chuyên phá trừ ngã chấp (nhơn ngã chấp), đoạn kiến tư hoặc, dứt trừ kiến tư hoặc. Nhưng đoạn nhơn ngã chấp dứt trừ kiến tư hoặc thì chưa đủ để đoạn hoặc, chưa đủ chính chơn nên gọi là bán tự giáo. Đến khi nói về pháp không mới phá trừ được hết trần sa hoặc, vô minh hoặc, rốt ráo hết, phá trừ tất cả 3 hoặc, thì bấy giờ mới trọn vẹn diệt sạch vô minh, chứng Niết-bàn Bồ-đề, vô thượng Bồ-đề, thì giáo lý đó mới gọi là mãn tự giáo là giáo lý trọn cả chữ. Cụm từ Mãn tự giáo và Bán tự giáo là vậy.
4. Tín Hạnh Pháp sư lập ra hai giáo : Tam giáo và nhất giáo. Tam giáo tức giáo lý tam thừa. Nhất giáo là giáo lý nhất thừa (như kinh Pháp Hoa). Cách phán như vậy thì quá đơn giản.
5. Ngài Huyền Tráng lập tam giáo : 1. Chuyển pháp luân (tức nói về giáo lý Tứ đế, Thập nhị nhân duyên). 2. Chiếu pháp luân (tức các loại kinh điển Đại thừa : Lăng Nghiêm, Lăng Già, Duy-ma-cật, Giải-thâm-mật, Viên Giác …). 3. Trì pháp luân (như kinh Hoa Nghiêm Niết-bàn). Theo Ngài, tất cả giáo lý của đức Phật chuyển lần

 

* Trang 19 *
device

đầu tiên là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên; còn giáo lý về các kinh điển Đại thừa phương đẳng là chiếu pháp luân; và còn Trì pháp luân tức Pháp Hoa, Niết-bàn.
6. Ngài Cát Tạng lập Tam luân giáo. Tam luân giáo là gì ? Là Căn bổn pháp luân, Chi mạt pháp luân Nhiếp mạt chi bổn pháp luân. Căn bản pháp luân là ý ngài muốn nói rằng Phật nói kinh Hoa Nghiêm, mà kinh Hoa Nghiêm đề cập đến lý trùng trùng duyên khởi, nhất chơn pháp giới; đó là giáo lý căn bản của Phật . Ý nói dù Ngài có nhiều nói nhiều chăng nữa, cuối cùng cũng quy về giáo lý cơ bản mà thôi, nên gọi là Căn bản pháp luân. Chúng sinh không ngộ được giáo lý căn bản đó nên Ngài phải tùy cơ mà nói các kinh điển khác, giáo lý khác như các kinh Phương đẳng; những giáo lý tùy cơ thuyết ra đó gọi là Chi mạt pháp luân (không phải căn bản nên gọi là chi mạt). Từ nguồn gốc đó mà sinh ra, nên gọi là Chi mạt. Giáo lý cuối cùng gọi là Nhiếp mạt qui bổn. (Chi mạt nhưng không phải từ đó mà đi thẳng luôn), nhưng nhiếp từ chi mạt để trở về căn bản, gốc, đó là chỉ cho kinh Pháp Hoa. Do đó, về ba pháp luân của ngài Cát Tạng thì kinh Pháp Hoa thuộc về Nhiếp mạt qui bổn. Nếu đem pháp luân cuối cùng so với Trì pháp luân của ngài Huyền Tráng, thì cả hai cũng đều chỉ cho kinh Pháp Hoa là kinh cuối cùng. Vì vậy cho nên kinh cuối cùng và kinh tối sơ mà Đức Phật thuyết, giáo lý đều giống nhau là kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm. Tính cách và bản chất của hai đạo lý đó giống nhau, tức là một giáo lý thuyết ban đầu và một giáo lý thuyết cuối cùng. Đó là sự phán giáo của ngài Thiên Thai.

 

* Trang 20 *
device

Bây giờ các học giả Trung Hoa đều thừa nhận sự phán giáo đó, nhưng căn cứ trên lịch sử thì người ta không cho rằng kinh Pháp Hoa là do Phật nói lúc ban đầu. Theo lịch sử Sơ chuyển pháp luân của Phật tại vườn Nai và trước khi Sơ chuyển thì Ngài chưa thuyết pháp, vậy kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm Phật nói vào lúc nào mà gọi Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật ? Đây có thể các vị nhìn với con mắt Đại thừa. Đức Phật không phải chỉ khi đến ở Vườn Nai thuyết cho năm Tỷ-kheo mới gọi là Chuyển pháp luân sau khi Ngài thành đạo, mà sau khi thành đạo Ngài đã chuyển pháp luân, đã thuyết Pháp Hoa ngay tại cội Bồ-đề rồi. Nhưng vì căn cơ chúng sinh bình thường không hiểu được, nên Ngài phải làm thinh để chờ tới Vườn Nai mới thuyết Tứ đế pháp luân cho người đủ căn cơ nghe. Đó là lý lẽ của các vị Đại thừa nói như vậy.
Còn tôi thì suy nghĩ khác như vầy : Chính ngay trong thời pháp đầu tiên khi Phật nói pháp Tứ diệu đế tại Vườn Nai thì Ngài đã nói lý Duyên khởi. Đó là khi Phạm thiên Sampathi đến thỉnh Phật chuyển pháp luân, Ngài nghĩ : “Giáo lý này của Ta chứng ngộ là thậm thâm, vi diệu, siêu lý luận. Còn chúng sinh này ham ái dục, khoái ái dục, thích ái dục, làm sao hiểu được định lý duyên khởi tánh, làm sao hiểu được lý ái tận Niết-bàn”. (Kinh tạng Pàli Nikàya).
Tôi nghĩ rằng, nếu theo lịch sử bây giờ người ta nói rằng Ngài không có một thời thuyết pháp nào trước thời thuyết pháp tại Vườn Nai, tại sao nói có kinh Hoa Nghiêm? Trong ý tôi cho rằng kinh Hoa Nghiêm đây không phải là

 

* Trang 21 *
device

nói bộ kinh mà là nói cái lý nghĩa của kinh Hoa Nghiêm. Bởi vì chúng sinh này ham ái dục, khoái ái dục, thích ái dục, thì không cách gì hiểu được định lý Duyên khởi tánh; vì định lý Duyên khởi tánh là lý của kinh Hoa Nghiêm, lý trùng trùng duyên khởi của kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm cũng là bộ kinh diễn dịch lý Duyên khởi chứ không có gì khác, nhưng diễn dịch lý Duyên khởi một cách rộng rãi, sâu xa, chứ không phải nói đơn giản một hai câu. Vì lý Duyên khởi mà Đức Phật đã nói lên đầu tiên cái giáo lý này : Ta chứng ngộ thật thâm sâu, vi diệu, siêu lý luận, không thể đem nói cho hạng người ham ái dục, thích ái dục mà có thể hiểu được định lý Duyên khởi tánh. Câu nói đó của Phật phải chăng là Ngài đã nói lý Duyên khởi (?) Vì nó nằm trong lý trùng trùng duyên khởi của kinh Hoa Nghiêm chớ không có gì khác, chỉ có khác là diễn dịch rộng và sâu ra mà thôi. Nhưng dù có sâu hoặc rộng gì cũng bắt nguồn từ câu nói đó của Đức Phật mà ra, cũng bắt nguồn nơi chỗ Đức Phật chứng ngộ chứ không có gì khác. Do đó nếu cứ lấy lý mà nói thì ta có thể hiểu rằng, lý trùng trùng duyên khởi là giáo lý Phật nói đầu tiên, nó là giáo lý căn bản, cho nên gọi là Căn bản pháp luân. Nhưng vì chúng sinh không hiểu được cho nên Ngài mới tùy theo căn cơ mà nói qua cách này cách khác, nên gọi là Chi mạt pháp luân. Nhưng dù có nói chi mạt chăng nữa, cũng không phải chi mạt đó tách khỏi cái gốc căn bản, cho nên phải cho chúng sinh biết rằng, chi mạt đó cũng qui về nơi gốc, chứ không phải chi mạt đó đi thẳng luôn, nên gọi đó là Nhiếp mạt qui bản pháp luân. Theo tôi hiểu là vậy.
 

* Trang 22 *
device

Xưa ngài Thiên Thai nói : “Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật, A Hàm thập nhị phương đẳng bát”. Đó là theo ngũ thời phán giáo của ngài đưa ra. Ngũ thời phán giáo này phần nhiều các học giả Trung Hoa và Việt Nam xưa nay đều thừa nhận. Nhưng bây giờ nếu căn cứ vào lịch sử thì người ta không chấp nhận rằng : Làm sao trước thời thuyết Tứ đế mà Ngài lại nói Hoa Nghiêm ?
Nhưng tôi thì nghĩ, trước khi nói Tứ đế, đã nói về định lý Duyên khởi nhưng chúng sinh không ngộ mà thôi.
7. Cấp Đa pháp sư lập tứ giáo. Tứ giáo là gì ? 1. Hữu tướng giáo, tức trong khi nói về A Hàm, Phật nhằm phá cái tưởng sinh ra ngã chấp, chủ yếu phá cái nhơn ngã chấp, chứ chưa phá pháp ngã chấp. Trước đây tôi có giảng về Ngũ uẩn, trong nhiều đoạn kinh cho thấy Phật cốt đem ngũ uẩn để chỉ cho chúng sinh thấy ngũ uẩn kết hợp, chứ không có cái ta nào trong đó để chấp rằng cái “ta”, để tạo tham sân si, nghiệp chướng. Còn nói ngũ uẩn là hư không, hư dối, như huyễn, là tánh không… thì chỉ có một câu Phật nói: Đó là quán sắc như tụ mạc, quán thọ như thủy thượng bào, quán chư hành như ba tiêu, quán tưởng như diêm thời diệm, quán thức uẩn vô ngã. Chỉ có một bài kệ ngắn như vậy nói ngũ uẩn như huyễn mà thôi, còn đa phần Ngài chỉ ngũ uẩn là vô ngã. Chính cái ngũ uẩn kết hợp lại thành người, thân người, thành người này người khác. Do ngũ uẩn kết hợp chứ trong đó không có một thực ngã nào cả. Ngài Cấp Đa cho rằng giáo lý đó là hữu tướng giáo. 2. Vô tướng giáo, tức chỉ cho kinh Bátnhã (nhất thiết giai không), có nghĩa rằng nhơn và pháp đều không. 3. Đồng

* Trang 23 *
device

qui giáo, chỉ cho kinh Pháp Hoa (tất cả đồng qui về nhất thừa). Nói tam thừa nhưng tất cả đồng qui về nhất thừa. Tam thừa chỉ là giả định, tam thừa chỉ là Hóa thành. Tất cả đều qui về Nhất thừa đó là chủ yếu của kinh Pháp Hoa. 4. Giáo lý thường trú, như trong kinh Niết-bàn. Trong kinh này Phật nhấn mạnh về Phật tánh thường trú, hay còn gọi là giáo lý thường trú.
Ở đây chúng ta nên biết giáo lý vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh là bốn điên đảo. Vô thường mà chúng sinh chấp thường là điên đảo; vô ngã mà chấp ngã là điên đảo, bất tịnh mà chấp tịnh là điên đảo; khổ mà chấp lạc là điên đảo. Phải hiểu không điên đảo là vô thường, là khổ, là vô ngã mới không điên đảo. Nếu bây giờ có ai nói sự vật là thường, thân ta là thường, cuộc đời là thường; đó là điên đảo. Cuộc đời là vui, là thanh tịnh, là có thật ngã cũng là điên đảo nốt. Thế nhưng, kinh Niết-bàn chủ trương Niếtbàn có bốn đức tính thường, lạc, ngã, tịnh, có lạ không ?
Chúng ta phải hiểu rằng : Thường, lạc, ngã, tịnh trong kinh Niết-bàn khác hơn cái chúng sinh chấp thường; khác hơn cái chúng sinh chấp ngã; khác hơn cái lạc của chúng sinh chấp lạc; khác hơn cái tịnh của chúng sinh chấp tịnh. Trên danh từ thì giống nhau, nhưng nội dung thì khác nhau. Thường thường ta nói : Giáo lý Đức Phật chỉ rõ cho chúng sinh thấy cái thật tướng của sự vật : vô thường, khổ, bất tịnh và vô ngã. Quán tứ niệm xứ cũng vậy (thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã). Quán tứ niệm xứ thì được đắc đạo; còn quán thường, lạc, ngã, tịnh thì đọa chứ làm sao đắc được ! Thế nhưng trong kinh Niết-bàn có

* Trang 24 *
device

đủ 4 đức tính thường, lạc, ngã, tịnh, thì đó cũng là một cách diễn tả của Niết-bàn. Niết-bàn ly danh ngôn, chứ không thể nói Niết-bàn một cách nào khác hơn là dứt hết tham sân si ; đó là Niết-bàn. Nhưng chính trong Nikàya, Ngài cũng diễn tả nếu không có không gian, không có thời gian, không có sanh, không có tử, nếu không có những cái như vậy thì cũng không làm sao mà giải thoát được sanh lão bệnh tử.
Như vậy ý trong câu trên, Ngài cắt nghĩa Niết-bàn có tính cách tích cực (không có không gian, thời gian, không đi, không đến). Hiểu như vậy để ta thông thương giáo lý trong kinh này với giáo lý trong kinh khác. Nhiều khi danh từ tuy khác nhưng nếu ta chịu khó tìm hiểu sự tương quan giữa các danh từ đó thì chính chúng ta sẽ giải đáp được. Trong kinh Nikàya, Đức Phật nói : Sự chứng ngộ của Ta là do tự chính Ta chứng ngộ chứ không do Thầy dạy – tức là Vô sư trí. Thiền tông sau này cũng đều dùng từ vô sư trí, tự nhiên trí như Nikàya đã dùng.
Vô sư trí, tự nhiên trí là gì ? Nếu diễn tả cách khác thì đó là bản lai diện mục, là mật tính, không có gì khác. Từ ngữ khác nhau nhưng ý nghĩa nội dung không khác. Ví dụ như vô sư trí, nếu không phải bản lai diện mục vậy đó là gì ? Đó là sự chứng ngộ do Ta tự chứng ngộ chứ không phải do Thầy chỉ dạy, và cũng không dựa vào ai hết. Chính trong kinh tạng Nikàya nói như vậy; còn trong tạng Hán nói đó là tự nhiên trí, vô sư trí. Cả hai cũng đều là nghĩa như vậy cả. Ta phải hiểu tinh thần chung như vậy để khi đọc kinh không bị trở ngại giữa giáo lý này và giáo lý khác.

 

* Trang 25 *
device

8. Hiền Thủ Quốc sư lập tam thời ngũ giáo. Tam thời là gì ? 1. Nhật xuất tiên chiếu cao sơn. Đây là lấy ví dụ về thời gian thuyết pháp của Đức Phật. Mặt trời khi mới mọc chiếu trên núi cao (chứ chỗ thấp không chiếu). Ám chỉ thời đó Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm (cao sơn đây là chỉ cho căn cơ cao). 2. Nhật thăng chuyển chiếu đại địa (mặt trời lên cao rồi chiếu xuống cả đại địa), tức chỉ thời Phương đẳng và các kinh Đại thừa sau này. Nói chiếu khắp mọi căn cơ, theo nghĩa bóng Đại địa là đủ mọi căn cơ : cao, thấp, vừa vừa cũng có; cụ thể là chiếu khắp : núi, sông, bình nguyên, thung lũng đều có. Nói chung, khi mặt trời đứng bóng thì nó chiếu khắp cả. 3. Nhật một hoàn chiếu cao sơn. Khi mặt trời sắp lặn, nó lại chiếu trên núi cao chứ không chiếu khắp đại địa nữa. Đây ám chỉ cho thời Pháp Hoa là kinh nói cho hạng căn cơ bậc cao, cũng y như núi cao. Núi cao đây chỉ cho căn cơ bậc cao; còn bình nguyên, đại địa là chỉ cho tất cả mọi căn cơ. Đó là ba thời. Còn Ngũ giáo là gì ? là phân chia ý nghĩa giáo lý của Phật làm năm :
1. Tiểu giáo, là giáo lý chỉ cho tứ A Hàm. 2. Thỉ giáo, có hai : không thỉ giáo và tướng thỉ giáo. Không thỉ giáo là nói về phá tướng như Bát-nhã (kinh nói nhất thiết giáo không). Tướng thỉ giáo là nói về Duy thức, nói về pháp tính của tất cả thức. Vì sao gọi thỉ ? Là vì giáo lý mới bắt đầu chứ chưa phải trọn vẹn. Thỉ và chung chứ chưa phải trọn vẹn. Chung giáo là giáo lý cuối cùng của Đại thừa như Lăng-già, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Niết-bàn … 3. Đốn giáo, là giáo lý không có thứ lớp, chỉ nói thẳng về chân tính. Lìa được các duyên tức như như Phật (Đản ly

 

* Trang 26 *
device

chư duyên tức Như Như Phật – lìa hết các duyên tức Phật Như Như).
Đối với giáo lý này, chỉ học câu này thôi không cần tụng kinh tụng kệ gì hết. Miễn sao ly chư duyên tức Như Như Phật – Lìa các duyên thì họ là Phật Như Như. Nói thì dễ nhưng thực hành thì khó vô cùng. Ly chư duyên mà khi nghe truyền hình trực tiếp các cúp bóng đá châu Âu như C1, C2, thì xúm nhau vào ti-vi coi chết mê chết mệt thì ly sao được ! Cho nên cũng có nhiều người chấp câu nói này, cứ nghĩ ly chư duyên tức Như Như Phật – Họ nghĩ ta hết chư duyên rồi, thành muốn nói gì cũng được, muốn hét, muốn la gì cũng được. Ngồi ngoài công viên huýt sáo cũng được, vì đã ly chư duyên tức Phật Như Như. Nói nghe rất dễ mà thực hành vô cùng khó. Câu này rất nguy hiểm vì có 2 mặt : tích cực và tiêu cực, không khéo cứ tưởng mình ly chư duyên rồi nên bỏ tụng kinh, nghe pháp thì rất nguy tai ! Hiểu và làm được y như câu trên thì rất hay, nhưng khó làm. Lìa được các duyên tức Như Như Phật ngay tức khắc thì cũng khó. Khó như vậy, nhưng chúng ta cũng có những giờ ly chư duyên chứ không phải không. Ví dụ, ngồi tập thiền để ly chư duyên, được lắm chứ.
Với tinh thần đó khi cắt nghĩa Niết-bàn, tôi thường cắt nghĩa và ví dụ rất sát thực tiễn, tránh trừu tượng. Tôi cho rằng hễ tâm mình giờ phút nào không có tham sân si thì giờ phút đó là Niết-bàn. Nhưng giờ phút Niết-bàn đó quá ngắn, thoáng qua rồi biến mất, có khi chưa được 1/1000 giây, trái lại giờ phút tham sân si nó kéo cả đời, thì chắc

 

* Trang 27 *
device

chắn sẽ không có Niết-bàn đâu. Cho nên cái giây phút Niết-bàn kéo ra dài chừng nào thì chúng ta an lạc trong Niết-bàn chừng ấy. Đức Phật cũng vậy, Ngài kéo cái giây phút Niết-bàn của Ngài dài cả trăm cả triệu kiếp, cho nên khi ngủ cũng thấy Ngài Niết-bàn, khi thức cũng thấy Ngài Niết-bàn, đi hành đạo cũng thấy Ngài Niết-bàn. Còn Niếtbàn của chúng ta như cái chớp sáng chưa kịp thấy, thì đã vụt tắt, nhưng chúng ta cũng có Niết-bàn ngay trong hiện tại chứ không đâu xa hết.
Hôm trước có một nhóm sinh viên thuộc khoa Triết của trường Đại học Hà Nội nhờ tôi nói chuyện, tôi có cắt nghĩa cho họ nghe về Niết-bàn. Và sau cùng giáo sư Trưởng khoa phát biểu, chính cái giờ chúng tôi nghe cụ nói đây cũng là Niết-bàn phải không thưa cụ ? Tôi nói phải, vì giờ đó các bạn đang tư duy và nhập tâm trong sự an lạc, thay cho chuyện phiền muộn bên ngoài nhập vào, giờ phút đó là an lạc. Chính các bạn cũng hiểu được Niếtbàn. 4. Viên giáo : Viên giáo là chỉ giáo lý nhất thừa của kinh Hoa Nghiêm. Kinh này chủ trương nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất (trọn vẹn) không có cảnh giới nào bác bỏ tròn hay méo gì, nên gọi là viên giáo.
Vậy kinh Lăng Nghiêm thuộc về giáo nào trong đó ? Trong Lăng Nghiêm có dạy : Thường trú chơn tâm, tánh tịnh minh thể; đó là chung giáo – tức lời dạy trọn vẹn, cuối cùng. Hoặc có những câu : Cuồng tâm đốn kiệt, kiệt tức Bồ-đề, [tâm si cuồng đã khô cạn, ngay trong khô cạn đó là Bồ-đề] (chứ không cách biệt không gian thời gian. Bất cứ giờ phút nào anh kiệt tâm cuồng loạn thì giờ phút đó là

 

* Trang 28 *
device

Bồ-đề), đó là đốn giáo. Kinh Lăng Nghiêm cũng có câu : Nhất vi vô lượng vô lượng vi nhất, ư nhất mao quang hiện bảo trần sát. Nhất là vô lượng, vô lượng là nhất, ở nơi mỗi mảy lông hiện bao nhiêu cõi nước; đó là ý nghĩa của viên giáo. Nhất vi vô lượng, vô lượng vi nhất cũng y như nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất; đó là cái nghĩa viên giáo trong kinh Lăng Nghiêm.
9. Thiên Thai Trí Giả lập ngũ thời bát giáo. Thời thứ nhất là Hoa Nghiêm (Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật). Đại thừa cho rằng : Hoa Nghiêm là kinh Đức Phật nói ra trong 21 ngày đầu tiên khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ-đề. Nó cũng tương đương như Nhật xuất tiên chiếu cao sơn - Mặt trời mới mọc lên nó chiếu trên núi cao, tức chiếu vào hạng căn cơ cao thượng. 21 ngày Đức Phật còn lưu lại tại cội Bồ-đề sau ngày thành đạo. Chính trong 21 ngày đó Ngài đã nói kinh Hoa Nghiêm. Thời thứ 2 và 3 là A Hàm thập nhị Phương đẳng bát. Thời này Đại thừa cho rằng Ngài nói A-Hàm trong vòng 12 năm và các kinh Phương đẳng Đại thừa như Bảo Tích, Lăng Già, Lăng Nghiêm gọi là Phương đẳng Đại thừa. Hai thời này ví dụ như Nhật thăng chuyển chiếu hắc sơn – Mặt trời lên cao, chiếu trên núi, và thời Bát-nhã gọi là Nhật thăng tự chiếu đại địa. Thời thứ tư là Nhị thập nhị niên Bát-nhã đàm. 22 năm nói về thời Bát-nhã cũng y như Nhật thăng phổ chiếu đại địa. (Mặt trời lên cao chiếu khắp quả đất). Và thời thứ 5 là Pháp Hoa, Niết-bàn cọng bát niên. Trong 8 năm nói về kinh Pháp Hoa, Niết-bàn ví như Nhật một hoàn chiếu cao sơn. Nghĩa cũng tợ như trên. Đó là 5 thời do ngài Thiên Thai lập.

 

* Trang 29 *
device

Còn Bát giáo là gì ? Bát giáo là cái thời, thời là chỉ cái tên kinh. Bát giáo gồm bốn hóa nghi và bốn hóa pháp. Bốn hóa nghi là gì ? Tức là bốn nghi thức giáo hóa : đốn, tiệm, bí mật và bất định. Đốn (như trên đã giải thích). Tiệm là giáo lý tuần tự mà ngộ. Căn cơ đó phải tu theo tiệm giáo chứ không tu theo đốn giáo được, phải tuần tự từ sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả, chứ không thể đốn ngộ một lần, nên gọi là tiệm giáo. Bí mật tức giáo lý chỉ cho một căn cơ duy nhất, và Phật nhắm ngay người có căn cơ đó nghe được mà thôi, ngoài ra thì không ai hiểu được. Bất định là giáo lý mà khi nghe Pháp đó người ngộ cách này kẻ ngộ cách khác, cho nên nó bất định. Bốn hóa pháp là Tạng, Thông, Biệt và Viên. Nội dung bốn hóa pháp này đều do Phật nói. Vậy trong tạng giáo Phật nói cái gì ? Tức là nói Tứ đế. Tứ đế phân ra bốn loại : Sanh diệt Tứ đế, Vô sanh Tứ đế, Vô lượng Tứ đế và Vô tác Tứ đế. Các Tổ sư Trung Hoa phân tích một đời thuyết giáo của Phật rốt cùng cũng là Tứ đế chứ không có gì khác. Tuy nhiên, Tứ đế nói trong sanh diệt trong vô sanh, trong vô lượng, trong vô tác đều khác. Lý này nói, tất cả giáo lý của Phật trong tất cả các kinh, từ lúc nói tại Vườn Nai cho đến thời kinh Pháp Hoa, cũng chỉ nói giáo lý Tứ đế, nhưng tính cách Tứ đế trong mỗi giai tầng cắt nghĩa khác nhau mà thành ra bốn : Tạng, Thông, Biệt và Viên. Vậy sanh diệt Tứ đế là gì ?
Ngài nói rất nhiều, nhưng trong ấy Ngài chỉ nhấn mạnh đến tham ái, vì tham ái là thuộc về Tập đế. Tu 37 phẩm trợ đạo hay Bát chánh đạo, đó chính là tu đạo. Tu đạo như vậy

 

* Trang 30 *
device

thì diệt ? Được tham ái, chứng được Diệt đế, tức đạt được Niết-bàn. Như vậy nếu diệt cái này thì chứng quả kia nên gọi là sanh diệt Tứ đế. Đến khi Phật nói tất cả các pháp đều do duyên sanh thì khổ cũng do duyên sanh, Tập, Đạo cũng vậy. Như vậy các pháp là do duyên sanh. Duyên sanh thì vô tánh, mà vô tánh tức vô sanh, nên gọi là Vô sanh Tứ đế. Nếu quả khổ, dứt nhơn khổ thì hết khổ quả, có sanh có diệt rõ ràng. Nhưng tính cách của Tứ đế đó, không có cái nào là không phải duyên sanh ; mà đã duyên sanh tức vô sanh, vô sanh tức vô tánh, nên cái khổ đó vô tự tánh, vô sanh. Tập, Đạo vô tự tánh, vô sanh nên gọi là Vô sanh Tứ đế. Học và hiểu cho thấu đáo cũng hay lắm.
Ở trên Phật nói duyên sanh, lý ấy chỉ có Ngài nói thôi. Vậy khi nào Ngài nói Tứ đế, tham ái là nguyên nhân của khổ; diệt tham ái thì phải tu đạo; tu đạo được chừng nào thì diệt tham ái chừng đó; diệt tham ái chừng nào thì hết khổ chừng đó. Tham ái diệt thì Niết-bàn hiện. Đó chính là lời Ngài nói chứ chúng sinh làm sao nói được ! Nhưng có chỗ Ngài lại nói tất cả các pháp đều do duyên sanh, duyên sanh tức vô tự tánh. Nói các pháp là do duyên sinh thì Khổ đế, Tập đế, Đạo đế cũng do duyên sinh. Như vậy Khổ, Tập, Diệt, Đạo cũng là Vô sanh Tứ đế.
Vô lượng Tứ đế, không phải nói tam khổ, bát khổ mà còn bao nhiêu cái khổ vi tế khác nữa, cho nên gọi là vô lượng. Tập đế không phải chỉ nói tham ái, không phải chỉ nói 88 sử … mà Tập đế cũng vô lượng. Đạo đế cũng vô lượng chứ không phải chỉ có bát chánh đạo, thất Bồ-đề phần, mà còn vô lượng pháp nữa. Diệt đế cũng như vậy,

 

* Trang 31 *
device

nó có Hữu dư Niết-bàn, Vô dư Niết-bàn, Tự tánh Niếtbàn, Vô trụ xứ Niết-bàn, có vô lượng Niết-bàn, nên gọi là Vô lượng Tứ đế. Vô tác Tứ đế là bản lai tịch tịnh, không có tác khởi. Tự tính của nó là bản vô sinh, vô sinh thì căn bổn tịch tịnh không tự tác, cho nên Khổ cũng vô tác, Tập, Diệt, Đạo cũng vô tác, nên gọi là Vô tác Tứ đế. Ý nghĩa ở đây rất thâm thúy.
Tóm lại, tất cả giáo lý của Phật, Ngài đều nói lý Tứ đế. Nhưng Tứ đế có những cấp bậc, tính chất khác nhau. Khi thì Ngài nói về Sanh diệt Tứ đế, khi thì giảng Vô sanh Tứ đế, khi thì diễn giải Vô lượng Tứ đế, khi thì giảng Vô tác Tứ đế. Vì thế phân ra thành bốn giáo – gọi là Tạng, Thông, Biệt và Viên. Khi nói Vô tác Tứ đế là hàm ý nói sanh tử tức Niết-bàn, phiền não tức Bồ-đề. Ngay khi “tức” thì có tác gì đâu, nên gọi là Vô tác Tứ đế. Chính cái vô tác này trong Nikàya cũng có nói Không, Vô tướng, Vô tác. Vô tác thì sanh tử tức Niết-bàn, đâu có diệt sanh tử mà thành Niết-bàn. Khi có diệt sanh tử mới có Niết-bàn. Bây giờ sanh tử tức Niết-bàn thì đó là vô tác.
Phần trên tôi đã nói về Tạng giáo, bây giờ tôi nói thêm về Tông giáo.
Tông tức là cái hướng của giáo lý đó, hay tông chỉ của giáo lý đó. Ngài Thiên Thai và ngài Hiền Thủ là 2 vị nổi tiếng trong ngành giáo học. Ngài Thiên Thai lập Thiên Thai tông, ngài Hiền Thủ lập Hoa Nghiêm tông.
Ngài Hiền Thủ có lập ra 10 tông trong giáo lý Phật. (Ngài là Quốc sư và là Tổ sư về tông Hoa Nghiêm). Mười tông đó là :

 

* Trang 32 *
device

1. Ngã pháp câu hữu tông, 2. Pháp hữu ngã vô tông, 3. Pháp vô khứ lai tông, 4. Hiện thông giả thật tông, 5. Tục vọng chân thật tông, 6. Chư pháp đản danh tông, 7. Tam tướng câu hữu tông, 8. Chơn không tuyệt tướng tông, 9. Lý sự vô ngại tông, và 10. Viên dung cụ đức tông.
Để quí vị hiểu rõ hơn, tôi sẽ nói ý nghĩa 10 tông này.
1. Ngã pháp câu hữu tông : Tông chỉ hướng đến trong giáo lý này là ngã và pháp đều có. Nói trong giáo lý này là chỉ cho giáo lý Nhơn thiên thừa. Vì Nhơn thiên thừa Phật chưa nói gì đến vô ngã, nhưng Ngài nói nếu ai tu điều thiện sẽ được quả thiện, làm lành sẽ được quả lành, làm ác sẽ đọa cõi ác. Nói chung, hễ tạo ác chừng nào thì kết quả đọa địa ngục ngạ quỷ súc sanh chừng đó. Ai ưa làm nhơn đạo thì tu Ngũ giới, Tam qui. Ai ưa lên Thiên đạo thì tu thập thiện sẽ được quả báo trong nhơn thừa. Như vậy là ngã cũng còn và pháp cũng còn. Tuy về giáo lý Phật chưa nói gì vô ngã vô pháp, nhưng giáo lý này thuộc ngã pháp câu hữu. Căn cứ nơi giáo lý nhân quả mà khuyên người bỏ ác làm lành, muốn hưởng quả vui thì phải tu các điều lành, chứ không nói gì khác. Như vậy trong giáo lý Nhơn thiên thừa, nó thuộc về Ngã pháp câu hữu tông. Cả ngã và pháp đều có, còn ở đây chưa đả động gì đến vô ngã vô pháp. Nó chỉ rõ tính cách của điều ác và điều thiện. Nếu làm điều ác sẽ đưa đến quả hung dữ, biết hung để mà tránh; làm điều thiện sẽ đưa đến quả báo an vui, biết như vậy để mà gắng tu. Ở đây đang còn phàm phu chứ chưa có dính gì đến xuất thế gian, đang còn ở trong thế gian, nhơn thiên quả báo cũng thuộc thế gian. Đó là thuộc về Nhơn thiên thừa.

 

* Trang 33 *
device

2. Pháp hữu ngã vô tông : Ở đây nói tới hàng nhị thừa. Giáo lý này Phật chỉ nhằm nói về cái sinh vô ngã chứ chưa có chủ ý nói về pháp vô ngã. Thí dụ nói Ngũ uẩn vô ngã, thì chữ ngũ uẩn có thể hiểu rằng chính 5 uẩn kết hợp lại thành con người, không có cái ngã nào ở nơi đó hết, chỉ 5 uẩn kết hợp mà thôi. Như vậy chỉ nhắm về con người mà ta chấp có con người, đó là không thực, chỉ có ngũ uẩn kết hợp. Tựu trung là thấy rõ pháp hữu ngã vô. Ngã đây chấp ngũ uẩn có một cái thực tính tồn tại. Đó là pháp hữu ngã vô tông (nhị thừa). Đây là bước chân vào giải thoát xuất thế gian. Còn Ngã pháp câu hữu tông là đang còn ở thế gian mà thôi, không có dính gì xuất thế gian hết.
3. Pháp vô khứ lai tông : Tông phái này tuy pháp có thật, ví dụ ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Đức Phật nói nhất thiết pháp là gì ? Đó là ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Trong Nikàya, Phật nói nhất thiết pháp là ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Vì trong ngũ uẩn nó trùm hết cả bách pháp hay thập nhị xứ, thập bát giới. Như vậy ngũ uẩn, nhất thiết pháp là có, chứ không nói cái vô pháp. Nhưng có là pháp trong hiện tại có, chứ ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới đã diệt đi rồi, còn ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới vị lai chưa có, cho nên cái pháp nó có chăng cũng chỉ có trong hiện tại chứ không có pháp quá khứ, pháp vị lại. Trên là pháp hữu ngã vô, nhưng hữu giới đi qua một giai đoạn nữa thì hữu là hữu trong hiện tại thôi chứ còn quá khứ không, vị lai cũng không, nên gọi là pháp vô khứ lai tông. Không có quá khứ, không có vị lai, nó có là có trong hiện tại, chứ quá khứ đã diệt, vị lai chưa sanh, thì không thể gọi các pháp đó có được.

 

* Trang 34 *
device

4. Hiện thông giả thật tông : Tuy pháp hiện tại có, nhưng trong pháp hiện tại cũng có cái giả, có cái thật, chứ không phải cái nào cũng giả, cái nào cũng thật. Từ đây, các bộ phái bàn luận nhiều và cũng là mầm mống tách bộ. Ngũ uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát giới cũng gọi là pháp (nhất thiết pháp). Trên tông kia nói nhất thiết pháp, Thập nhị xứ, Thập bát giới có thì cũng có trong hiện tại, còn vị lai, quá khứ không có gọi là Pháp vô khứ lai. Đến tông này tuy pháp hiện tại có nhưng mà có cái giả có cái thật, nên gọi là Hiện thông giả thật tông. Cái này cũng là sự phân rẽ giữa các bộ phái. Có bộ phái cho rằng, ngũ uẩn là thật, Thập nhị xứ, Thập bát giới là giả. Có bộ phái cho Thập bát giới mới là thật, Ngũ uẩn, Thập nhị xứ là giả; lấy ý đó nên Ngài lập ra một phái, một tông. Giáo lý của bộ phái đó có hiện thông giả thật. Trong nghiên cứu các ngài lập lý lập luận bàn cải sôi nổi. Có tông chủ trương Ngũ uẩn là thật, Thập nhị xứ, Thập bát giới là giả, đủ mọi lý lẽ để bênh vực lập luận của mình. Trái lại, có tông chủ trương Thập nhị xứ là thật, Ngũ uẩn, Thập bát giới là giả và cũng đưa ra lý lẽ của mình để bênh vực. Cũng y như trong Câu-xá gọi là Nhất thiết hữu bộ, tức nhiên Câu-xá này cho tất cả pháp đều có (Nhất thiết hữu) Ngũ uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát giới là có nhưng cũng có giả cũng có thật.
5. Tục vọng chơn thật tông : Pháp tuy có giả có thật, nhưng trong cái giả và thật đó lại có cái vọng có cái chơn. Pháp thì thuộc về tục đế, pháp thuộc về chơn đế. pháp gì thuộc về tục đế là vọng, pháp gì thuộc về chơn đế cái đó nó thật. Như vậy pháp gì thuộc về tục đế, pháp gì thuộc về

 

* Trang 35 *
device

chơn đế, pháp gì vọng, pháp gì thật ? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta thấy rằng tam giới sanh tử là vọng, Niết-bàn chơn đế mới thật. Cho nên pháp thuộc trong tam giới sanh tử là tục đế; còn Niết-bàn là thật, pháp thuộc về chơn đế nên gọi là tục vọng chơn thật, chứ không thể nói chung chung về các pháp.
6. Chư pháp đản danh tông : Thêm một tầng nữa là các pháp chỉ có danh ngôn mà thôi, dù là chơn đế, hay tục đế. Chơn đế tục đế gì cũng nương vào nhau mà thành, không có tục đế thì không có chơn đế; không có chơn đế thì cũng không thành tục đế. Cho nên chơn đế và tục đế cũng nương vào nhau. Hễ đã nương vào nhau mà có, thì cái có đó là giả danh, chứ không phải có thật, cho nên gọi là Chư pháp đản danh tông.
7. Tam tướng không hữu tông : Tam tướng là gì ? Tam tướng đây là y vào kinh Giải Thâm Mật nói để phân định các pháp thành 3 tự tánh : Biến kế chấp, y tha
khởi và viên thành thật tự tánh. Ba tự tánh này cái nào không, cái nào hữu ? Lẽ tất nhiên, Biến kế sở chấp là không, hư vọng; Y tha khởi là hữu nhưng huyễn hữu; Viên thành thật mới là thật hữu. Nhưng cái thực hữu này có nằm ngoài biến kế, y tha không ? Không. Cũng chính nó cả chứ không ai khác, ví như khi bôi mặt làm ma thì nói là ma, khi rửa mặt thành người thì nói là người chứ không gì khác. Viên thành thật cũng như vậy, khi bôi mặt biến kế thì nó thành ngã thành pháp, thành ma, rửa mặt ma rồi nó là viên thành thật. Như vậy viên thành thật và biến kế nó dựa vào y tha để thiết lập. Sắc tâm dựa vào nhau thành y tha khởi

* Trang 36 *
device

pháp. Y tha khởi pháp là y tha khởi pháp, pháp là pháp, chẳng có gì là núi là sông, chẳng có gì là người là vật, chẳng có gì là ông nọ bà kia. Nhưng vì vọng tưởng
cho nên nơi pháp y tha đó nó sinh ra muôn sự, như là ông là bà, là voi là ngựa, là trâu là dê, đủ mọi thứ biến kế chấp. 64 Nếu cứ chạy theo biến kế chấp thì gặp phải mê lầm, tạo nghiệp và luân hồi mãi theo biến kế chấp đó. Nếu ngộ được, bỏ biến kế chấp đi, nhìn thẳng vào thật tính của sự vật là y tha thì sẽ ngộ được cái chân thật tính của Phật là vô tự tính, là viên thành thật; vì tự tính của sự vật là vô tự tính, là viên thành thật. Như vậy trong 3 tướng ấy, biến kế là không hữu, y tha là huyễn hữu; viên thành thật là thật hữu, cho nên vừa có vừa không gọi là tam tướng.
8. Chân không tuyệt tướng : (Lên một bậc nữa). Ở đây muốn nói đến cái nhất pháp bất lập, nhất trần bất nhiễm, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt (làm thinh cả ngoài miệng lẫn trong tâm). Cho nên làm thinh ngoài miệng (ngôn ngữ đạo đoạn) chưa đủ mà phải làm thinh cả trong tâm nữa thì gọi là tâm hành xứ diệt. Nhất thiết pháp bất lập, nhất trần bất nhiễm. (Bên ngoài dứt đường ngôn ngữ, bên trong bặt mọi trần lao). Thành thử nếu như chúng ta đang nói đây là nói không đúng, mình nói chuyện của mình chứ không nói cái thật tính các pháp, bởi vì thật tính các pháp đặt miệng vào không được, vì cái miệng mình nhỏ quá mà thật tính bao la quá nên đặt vào không được là vậy. Nên gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. (Hành có nghĩa là duyên trong kinh cũng không có nữa –động tác của tâm, hành tướng của tâm). Như vậy lặng

 

* Trang 37 *
device

thinh 2 mặt chứ không phải lặng thinh ngôn ngữ thôi. Tức chơn không tuyệt tướng.
9. Sự lý vô ngại : Tông này cũng gọi là Tạng tánh duyên khởi tông. Nói chơn không tuyệt tướng như vậy không phải chơn không tuyệt tướng một cách thụ động, bất động mà chính là sự tướng của sự vật là bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến. Cho nên chính nơi bất biến chơn không tuyệt tướng đó, nó tùy duyên hiện ra đủ tất cả vạn pháp. Cho nên tông này cũng gọi Tạng tánh duyên khởi tông, nói về lý sự vô ngại. (Sự là 10 pháp giới, tất cả danh tướng, tất cả pháp sanh tử khứ lai gọi là sự, lý là bản tánh bất sanh bất diệt). Lý sự này đối với chúng sinh, lý là lý sự là sự, đôi khi nó còn chướng ngại nhau, nếu chúng sinh chưa ngộ được bản tánh của sự vật; vì bản tánh (lý) của sự vật và tướng (sự) của sự vật là lý sự vô ngại. Cái bất sinh diệt ở trên sinh diệt và cái sinh diệt ở trên bất sinh diệt, chứ không phải khác nhau mà có được. Như nói sóng trên nước, nước trên sóng, chứ không phải ngoài sóng có nước, ngoài nước có sóng. Sóng nước vô ngại, lý sự vô ngại. Vì tất cả các pháp vốn không cho nên sự sự vô ngại, vì bản tánh của sự vật tuy là vốn không nhưng tùy duyên hiện khởi nên lý sự vô ngại. Đây là nghĩa bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến.
10. Viên dung cụ đức : Tuy cái lý tánh bất sanh bất diệt vô ngại, mà chính ngay nơi sự tính sinh diệt cũng vô ngại, cho đến sự sự vô ngại, nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất. Đó là lý nghĩa cao tột nhất của kinh Hoa Nghiêm.

 

* Trang 38 *
device

Tóm lại ý nghĩa của 10 tông trên, tông đầu tiên thuộc về phàm phu, như những người đời còn ngã còn pháp; và chính người mới tu nhơn thiên thừa cũng còn ngã còn pháp, nhưng khác hơn người đời ở chỗ là hiểu được lý nhân quả của Phật mà tránh dữ làm lành. Trên phương tiện lý trí, nhận thức thì người thuộc nhơn thiên thừa cũng như người đời còn nhìn thấy ngã, nhìn thấy pháp giống nhau chứ không khác gì, chỉ khác ở chỗ, người thuộc nhơn thiên thừa biết tu thiện tránh ác; còn người đời thì cứ làm bừa không kể thiện ác. Tông thứ 2 đến tông thứ 5 : thuộc về Nhị thừa. Tông thứ 6 trở đi thông cả Đại thừa, Tiểu thừa, Nhị thừa. Nói như vậy để các vị biết rằng các ngài phân tách ý nghĩa từng giáo lý – tức đưa dao trí tuệ của các ngài mà phân từng cái thớ, cái thớ trong rừng giáo lý mạch lạc, để cho thấy trong giáo lý chung cùng đó có một phần nào khác nhau, nhưng chung cục thì nhất vị giải thoát không cách biệt gì hết. Nhất vị giải thoát như Đức Phật đã nói : Như biển cả một giọt nước cũng mặn, cả biển cả cũng mặn, đồng một vị mặn không khác gì nhau hết. Có khác chăng là một giọt nước khác, một hồ nước khác, một lu nước khác, một thùng nước khác. Cái khác ở đây là khác vì phân định về căn cơ và trình độ hiểu biết giáo lý, nhưng tính chất giáo lý là tính cách giải thoát đồng, y như nhau. Hiểu như vậy để ta thấy rõ rằng đừng nói giáo lý này hơn đừng nói giáo lý kia thua. Cái nào hơn cái nào thua chỉ do phù hợp hay không phù hợp với căn cơ của từng người, chứ không thể so sánh phân biệt, rồi bảo rằng pháp môn đó nó có lợi ích, pháp môn kia không bằng. Không bằng đó là vì căn cơ của mình tu không được, không lợi ích cho nên

* Trang 39 *
device

không bằng, chứ không phải là vì giáo lý không bằng. Khi đã hiểu như thế thì chúng ta đừng đem giáo lý này so sánh, đối lập với giáo lý kia; vì cái đó không tốt, khi có những vị chấp theo nguyên thỉ, chấp theo Đại thừa, Tiểu thừa rồi nói qua nói lại cũng không tốt. Đã là đệ tử Phật thì phải hiểu trong tinh thần chung rằng bản chất giáo lý Phật đều là giải thoát. Nhưng giải thoát theo mức độ nào thì phải tùy theo căn cơ từng phần của chúng sinh hoặc phù hợp với giáo lý này hay giáo lý bộ phái khác mà thôi. Đó là do căn cơ của chúng sinh chứ không phải do các pháp đó đưa đến giải thoát.
Bây giờ nói về phán giáo – Nếu nó là nhất âm giáo thì khỏi bàn luận; Vì đã là nhất âm giáo thì không có phân biệt cao thấp, lớn nhỏ, đốn tiệm, chẳng qua căn cơ chúng sinh khác nhau mà khác nhau, nên gọi là nhất âm giáo. Nhưng như Ngài Tuệ Viễn phân ra đốn giáo và tiệm giáo thì ta cũng biết rằng Lăng Nghiêm có một phần đốn giáo. Như ngài Đàm Vô Sấm phân ra mãn tự giáo và bán tự giáo.
Như trên cho thấy, trong kinh Lăng Nghiêm là thuộc về mãn tự giáo chứ không phải bán tự giáo; vì Lăng Nghiêm nói về diệt cả 3 hoặc. Theo ngài Huyền Tráng, pháp có 3 là : chuyển pháp giáo, chiếu pháp giáo và trì pháp giáo, thì kinh Lăng Nghiêm thuộc về chiếu pháp giáo, chứ không phải trì pháp giáo. (Trì pháp giáo chỉ cho kinh Pháp Hoa, Niết-bàn). Còn ngài Cấp Đa nói : Phá tướng giáo, hữu tướng giáo, vô tướng giáo, đồng qui giáo, thường trụ giáo, thì kinh Lăng Nghiêm cũng có tính cách thường trụ giáo, cũng nói về chơn như Như Lai tạng, tự

* Trang 40 *
device

tánh bản lai thường trụ, chứ không phải không có. Còn ngài Hiền Thủ lập tam thời và ngũ giáo thì kinh Lăng Nghiêm thuộc về chung giáo và một phần thuộc về đốn
giáo. Bởi vì trong Lăng Nghiêm có nói thường trú chơn tâm tánh tịnh minh thể, và cũng nói cuồng tâm đốn kiệt, kiệt tức Bồ-đề, đó tức là đốn giáo. Đó là tinh thần của kinh Lăng Nghiêm và cũng là phần đầu dẫn nhập.

 
*

* Trang 41 *
device

 
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm