LOGO VNBET
PHẦN DỊCH NGHĨA
KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG NGHĨA

(Đời Tiêu Tề, Sa-môn người Thiên Trúc là Đàm-ma-già-đà-da-xá dịch)
PHẨM THỨ NHẤT ĐỨC HẠNH

 
Tôi nghe như thế" này. Có một lúc, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật[1] gần thành Vương Xá,[2] cùng với các vị đại tỳ-kheo[3] mười hai ngàn người, đại Bồ Tát là tám mươi ngàn người. Chư thiên, rồng,[4] dạ-


[1]Tiếng Phạn là Grdhrakũta, cũng đọc là Khuất-sá-bá-đà, Hán dịch là Thứu sơn, Linh sơn, hay Linh Thứu sơn. Núi này nằm gần kinh thành Vương Xá.
[2]Tiếng Phạn là Rãjagaha, phiên âm là La-duyệt, Hán dịch là Vương Xá. Thành này là kinh đô nước Ma-kiệt-đà (Magadha), do vua Tần-bà-sa-la (Bimbisãra) trị vì.
[3] Tỳ-kheo (Bhiksu) là người đàn ông xuất gia, đã thọ Cụ túc giới. Tỳ-kheo có ba nghĩa: 1. Khất sĩ: vị tu sĩ đi khất thực, cầu pháp; 2. Bố ma: người tu hành thanh tịnh, khiến cho tà ma phải sợ sệt; 3. Phá ác: người tu hành dẹp trừ các điều ác, các phiền não.
[4] Tiếng Phạn là Na-già (Nãga), lồi rồng. Rồng chúa gọi là Long vương, ở nơi cung điện gọi là Long cung. Đây là một bộ trong tám bộ chúng sanh (Thiên long bát bộ) thường tụ họp nơi Pháp hội để nghe Phật thuyết pháp.

* Trang 60 *
device

xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu- bà-tắc, ưu-bà-di cùng hội đủ. Các vị vua đại chuyển luân, tiểu chuyển luân, kim luân, ngân luân, các luân vương khác,[1] quốc vương, vương tử, quan, dân, sĩ thứ, nữ sĩ, đại trưởng giả trong nước, mỗi người đều có quyến thuộc đi theo đến số’ trăm ngàn vạn, cùng đến chỗ Phật, cúi đầu và mặt làm lễ dưới chân Phật, đi quanh Phật cả trăm ngàn vòng,[2] đốt hương rải hoa cúng dường đủ món... Cúng dường xong, tất cả đều lui lại ngồi sang một bên.
Trong hàng Bồ Tát có các vị: Pháp vương tử Văn-thù-sư-lợi, Pháp vương tử Đại Oai Đức Tạng, Pháp vương tử Vô Ưu Tạng, Pháp vương tử Đại Biện Tạng, Bồ
 

[1] Vào thời ấy quyền lực của vua chúa được biểu hiện bằng biểu tượng bánh xe quý. Vua Chuyển luân là vị vua thống nhiếp các chư hầu, có bánh xe lớn bằng thất bảo quý nhất. Các vua nhỏ hơn tùy theo quyền lực biểu hiện bằng các bánh xe vàng, bánh xe bạc... đều gọi chung là Luân vương, là những vị vua được chính thức công nhận.
[2]Đi quanh Phật: là nghi lễ để bày tỏ sự tôn kính, cũng gọi nghi thức này là "hành
đạO".
 

* Trang 61 *
device

Tát Di-lặc, Bồ Tát Đạo Thủ, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dược Thượng, Bồ Tát Hoa
Tràng, Bồ Tát Hoa Quang, Bồ Tát Đà-la-ni Tự Tại Vương, Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bảo Ấn Thủ, Bồ Tát Bảo Tích, Bồ Tát Bảo Trượng, Bồ Tát Việt Tam Giới, Bồ Tát Tỳ-ma-bạt-la, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Đại Hương Tượng, Bồ Tát Sư Tử Hống Vương, Bồ Tát Sư Tử Du Hý Thế, Bồ Tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ Tát Sư Tử Tinh Tấn, Bồ Tát Dõng Nhuệ Lực, Bồ Tát Sư Tử Oai Mãnh Phục, Bồ Tát Trang Nghiêm, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm. Các vị đại Bồ Tát như vậy là tám mươi ngàn người cùng đến hội.
Chư Bồ Tát này đều là các vị Pháp thân Đại sĩ,[1] thành tựu Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát Tri kiến. Tâm ý thiền tịch, thường ở trong Tam-muội, điềm
 

[1] Pháp thân Đại sĩ: Pháp thân đối với sanh thân, báo thân, nhục thân. Pháp thân hợp bởi năm phần: Giới, Định, Huệ, Giải thốt, Giải thốt Tri kiến, lại có đủ bốn đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, không mắc vào các sự khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Vị Bồ Tát đã được Pháp thân như vậy gọi là Pháp thân Đại sĩ. Đại sĩ là tiếng tôn xưng, thường dùng thay cho Bồ Tát.
 

* Trang 62 *
device

an đạm bạc, không còn hành vi tạo tác, không chỗ tham muốn;[1] những tư tưởng điên đảo, rối loạn đều đã dứt sạch không còn trở lại; vắng lặng trong sạch đến chỗ huyền vi không tịch; chí nguyện không lay chuyển cho đến trăm ngàn kiếp; vô lượng pháp môn đều tự thấy biết trong hiện tại; đạt trí tuệ lớn, thông đạt các pháp, hiểu rõ và phân biệt tánh tướng chân thật: có không, dài ngắn... đều hiện rõ. Các ngài lại khéo biết được tánh dục của các căn; dùng phép Tổng trì,[2] tài biện thuyết không ngăn ngại;[3] khi chư Phật chuyển bánh xe Pháp,[4] các ngài có
 

[1]Không còn hành vi tạo tác, không chỗ tham muốn: sở hành của Bồ Tát đều tùy nơi lòng đại bi mà phát khởi, theo nhân duyên mà thị hiện, không như những hành vi tạo nghiệp của chúng sanh, lại cũng không do lòng ham muốn thúc giục.
[2]Phép Tổng trì (đà-la-ni): Đà-la-ni, tiếng Phạn là Dhãranĩ, Hán dịch là Tổng trì, có nghĩa là thâu nhiếp, bao gồm hết thảy. Phép Tổng trì là nhất tâm trì tụng những câu chân ngôn, mật chú, tuy ngắn nhưng có sức thâu nhiếp ý nghĩa huyền diệu, bao quát của một pháp môn.
[3]Tài biện thuyết không ngăn ngại (Vô ngại biện tài): Có thể diễn thuyết, biện luận thông suốt mọi vấn đề mà không bị giới hạn bởi tri thức hay năng lực diễn đạt.
[4]Bánh xe pháp, tiếng Phạn là Dharmacakra, là biểu tượng chỉ cho giáo pháp mà Phật đã truyền dạy, cũng như các loại bánh xe vàng, bánh xe bạc... là biểu tượng quyền lực của vua chúa thời ấy. Chuyển Pháp luân (quay bánh xe pháp) là từ chỉ cho việc thuyết pháp, nhất là thuyết pháp lần đầu tiên của chư Phật. Như đức Phật Thích-ca thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc, thành Ba-la-nại, được gọi là Chuyển pháp luân.
 

* Trang 63 *
device

thể tùy thuận chuyển theo.[1] Trước hết, [các ngài] tưới nước pháp vi diệu làm êm lắng bụi bặm tham dục; mở cửa Niết- bàn, quạt gió giải thoát trừ bỏ phiền não nóng bức của thế" gian, đặt vào nơi Pháp trong sạch mát mẽ. Kế" đó, [các ngài] dạy cho [chúng sanh] pháp sâu xa là Mười hai nhân duyên1 để dập tắt ngọn lửa vô minh, già, bệnh, chết, đang thiêu đốt; gom bày hết các nỗi khổ dưới ánh sáng mặt trời [trí tuệ], rồi mới tưới mưa pháp Vô thượng Đại thừa, thấm nhuần hết thảy những chúng sanh có thiện căn. Các ngài gieo hạt giống lành trên ruộng công đức,
 

[1]Có thể tùy thuận chuyển theo (tùy thuận năng chuyển): Bồ Tát trong pháp hội nghe Phật thuyết pháp, do đã thông đạt nên cũng có thể tùy theo chỗ Phật thuyết mà làm rõ thêm cho các chúng sanh khác. Như trong kinh Dược Sư chẳng hạn, khi Phật thuyết về công đức bổn nguyện của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì Bồ Tát Cứu Thốt cũng tùy theo chỗ thuyết của Phật mà thuyết giảng rõ hơn trước chúng hội. Hoặc như trong kinh Duy-ma-cật, hầu hết các phẩm đều do Bồ Tát Duy-ma-cật thuyết ra.
 

* Trang 64 *
device

khiến cho nảy mầm Bồ-đề. Trí tuệ các ngài chói sáng như mặt trời, mặt trăng; phương tiện linh hoạt biến chuyển như thời tiết, cùng giúp cho tăng trưởng sự nghiệp Đại thừa, khiến cho nhiều người được mau chóng thành quả Phật.[1]
Các ngài thường trụ nơi chỗ khoái lạc vi diệu chân thật, đem lòng đại bi vô lượng[2] cứu khổ cho chúng sanh. Đối với chúng sanh, các ngài là thiện tri thức chân chánh, là ruộng phước tốt đẹp rộng lớn, là bậc thầy [dạy dỗ] không đợi cầu thỉnh, là nơi nương cậy an ổn, khoái lac để chúng sanh theo về được chở che, giúp đỡ. ơ khắp mọi nơi, các ngài vì chúng sanh mà làm bậc thầy dạy đạo cao cả, dẫn dắt đưa về nẻo chánh. Các ngài thường làm mắt sáng cho người mù, làm tai nghe cho người điếc. Những người nào có các
 

[1] Bản Hán văn dùng "A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề", tiếng Phạn là Anuttarã- samyak-sambodhi, Hán dịch là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là quả Phật Thế" Tôn.
[2]Lòng đại bi vô lượng. Vô lượng Đại bi là một trong Tứ vô lượng: Vô lượng Đại từ, Vô lượng Đại bi, Vô lượng Đại hỷ, Vô lượng Đại xả. Riêng Vô lượng Đại bi là chí nguyện bao la, quyết cứu khổ cho tất cả chúng sanh.
 

* Trang 65 *
device

căn[1] không đầy đủ hoặc bị hư hoại, các ngài đều khiến cho được lành lặn, đầy đủ. [Các ngài] vì kẻ điên cuồng, hoang loạn mà khiến cho vào sâu trong chánh niệm. Các ngài làm người đưa thuyền lớn, chuyên chở chúng sanh qua sông sanh tử, đến bờ Niết-bàn. Các ngài làm thầy thuốc giỏi, phân biệt rõ triệu chứng bệnh, hiểu rành tánh chất của thuốc, tùy bệnh mà cho khiến người bệnh vui lòng dùng thuốc. Các ngài làm bậc dạy dỗ điều phục, không có những nết phóng túng buông thả, như người khéo dạy voi ngựa, có thể điều phục hết tất cả. Các ngài như sư tử dũng mãnh, oai lực làm cho các thú đều tùng phục, khó lòng ngỗ nghịch. Các ngài dạo chơi trong các pháp ba- la-mật của hàng Bồ Tát, đối với địa vị Như Lai lập chí kiên cố" không lay chuyển, trụ yên nơi nguyện lực, làm trong sạch khắp cõi Phật, không bao lâu nữa sẽ thành tựu
 

[1]Các căn: Tức là lục căn, gồm có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
 

* Trang 66 *
device

quả Phật. Các vị đại Bồ Tát ấy đều có đủ các đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy.
Trong hàng tỳ-kheo có các vị: Đại trí Xá-lợi-phất, Thần thông Mục-kiền- liên, Huệ Mạng Tu-bồ-đề, Ma-ha Ca- chiên-diên, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử, nhóm các ông A-nhã Kiều-trần-như, Thiên nhãn A-na-luật, Trì luật Ưu-ba- ly, Thị giả A-nan, Phật tử La-vân, Ưu- ba-nan-đà, Ly-bà-đa, Kiếp-tân-na, Bạc- câu-la, A-châu-đà, Tá-già-đà, Đầu đà Đại Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp và các vị đệ tử...[1] Cả thảy mười hai ngàn người, đều là bậc A-la-hán đã dứt hết các mối phiền não trói buộc, chẳng bao giờ bị ràng buộc trở lại nữa, thật sự được giải thoát.
Lúc ấy, Đại Bồ Tát Đại Trang Nghiêm quán sát khắp chúng hội, biết rõ tâm ý của mỗi vị, liền cùng với tám mươi ngàn
 

[1] Khi ba anh em các ông Ưu-lầu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp và Na-đề Ca-diếp về quy y theo Phật, họ đều dẫn theo chúng đệ tử của mình mà cùng xuất gia theo Phật, cả thảy đến ngàn người.
 

* Trang 67 *
device

ngàn vị đại Bồ Tát đứng dậy tiến đến chỗ Phật, cúi đầu làm lễ dưới chân Phật, đi quanh Phật cả trăm ngàn vòng, rồi đốt hương trời, rải hoa trời cúng dường. Lại có những y phục, chuỗi ngọc, châu báu vô giá của cõi trời, từ trên không trung dần dần hiện xuống, bao quanh bốn phía cúng dường Phật. Lại có những món ăn đủ trăm mùi vị được nấu ở nhà bếp cõi trời, đựng trong các chén bát cõi trời, hiện ra đầy đủ, dư dật. Chỉ cần nhìn và ngửi các món ăn ấy tự nhiên đã thấy no đủ rồi. Các loại cờ xí, lọng phướn, nhạc cụ vi diệu trên cõi trời được bày  biện ra khắp nơi, trỗi lên âm nhạc cõi trời để cúng dường làm vui Phật.[1] Liền đó, các vị Bồ Tát đều quỳ xuống, một lòng chắp tay cùng nhau đọc kệ tán thán Phật. Kệ rằng:
“Lớn thay! Bậc giác ngộ, Thánh chủ!
Dứt sạch câu nhiễm, không sở trước.
 

[1]Nên hiểu đây là tấm lòng cung kính của kẻ cúng dường. Thật ra đức Thế" Tôn chẳng phải vui vì những cách giúp vui như vậy. Ngài tự có niềm vui giải thốt bất tận của bậc giác ngộ.
 

* Trang 68 *
device

Bậc thầy điều phục khắp trời người,
Đạo đức như hương xông khắp chôn.
Trí tuệ, tình cảm đều ngưng lắng,
Ý diệt, thức quên, tâm tịch tĩnh.
Vĩnh viên dứt trừ tưởng hư vọng,
Không còn các đại, âm, giới, nhập.[1]
Thân ây chẳng có cũng chẳng không,
Chẳng phải nhân duyên, chẳng đây kia,
Chẳng vuông chẳng tròn, chẳng dài ngắn,
Chẳng hiện, chẳngmất, chẳng sanh diệt.
Cũng chẳng tạo tác, chẳng sanh khởi,
Chẳng ngồi, chẳng nằm, chẳng đi đứng,
Chẳng động, chắng chuyển, chẳng gIữ yên,
Chẳng tới chẳng lui, chẳng an nguy.
 

[1]Đại, ấm, giới, nhập: Đại là Tứ đại, bốn chất lớn, hợp thành hết thảy vật chất, kể cả thân thể con người. Đó là đất (tượng trưng cho sự rắn chắc), nước (tượng trưng cho sự ẩm ướt), gió (tượng trưng cho sự chuyển động), lửa (tượng trưng cho sức nóng). Theo quan niệm thời xưa, bốn yếu tố này tạo thành hết thảy vạn vật trong vũ trụ. Ấm là Ngũ ấm, hay Ngũ uẩn, năm uẩn, hợp thành thân mạng chúng sanh. Đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giới là Thập bát giới, mười tám giới, gồm 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) hợp với sáu trần (hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, các pháp) và sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức). Nhập là Thập nhị nhập, mười hai điều tương quan, tác động lẫn nhau. Gồm có 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nhập với sáu trần(hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, các pháp), 6 trần nhập với sáu căn, tạo thành 12 nhập.
 

* Trang 69 *
device

Chẳng đúng, chẳng sai, chẳng được mất,
Chẳng đây, chẳng đó, chẳng đến đi.
Cũng chẳng xanh vàng, chẳng đỏ trắng,
Chẳng hồng, chẳng tía, mọi màu sắc.
Sanh Giới, Định, Tuệ, Giải, Tri kiên.[1]
Được Tam minh, Lục thông, Đạo phẩm.[2]
Khởi Từ bi, Thập lực, Vô úy,[3]
Hiện ra theo nghiệp lành chúng sanh,
Thân cao lớn sắc vàng chói sáng,
Nghiêm trang tề chỉnh chiêu diệu hình.
 

[1]Tức là Giới, Định, Huệ, Giải thốt và Giải thốt tri kiến, năm phần Pháp thân.
[2]Tam minh, Lục thông, Đạo phẩm: Tam minh là ba trí sáng suốt của bậc giải thốt:
  1. Túc mạng minh: biết những đời trước của người và của mình luân chuyể’n như thế nào. 2. Thiên nhãn minh: Thấy biết khắp nơi trong vô lượng cõi thế giới không ngăn ngại, 3. Lậu tận minh: Biết những cảnh khổ, nguyên nhân của khổ và do đó diệt hết tất cả phiền não.
Lục thông là 6 phép thần thông: 1. Thiên nhãn thông, 2.Thiên nhĩ thông, 3. Túc mạng thông, 4. Tha tâm thông, 5. Thần túc thông, 6. Lậu tân thông.
Đạo phẩm, hay Tam thập thất đạo phẩm: là 37 phẩm đạo, hợp thành quả Bồ đề, gồm có: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo.
[3]Từ bi, Thập lực, Vô úy: Từ, tiếng Phạn là Maitrĩ, là lòng thương tất cả chúng sanh, sẵn lòng giúp cho được vui sướng, lợi ích. Bi, tiếng Phạn là Karunã, là lòng thương xót, cảm thông đôi với những đau khổ của chúng sanh, muốn giải thốt cho họ khỏi sự đau khổ ấy. Đây là hai trong số bốn Vô lượng tâm là Từ, Bi, Hỷ, Xả.
Thập lực, tiếng Phạn là Dasabala, hay Thập trí lực, mười sức mạnh trí tuệ của Phật:
  1. Tri thị xứ phi xứ trí lực, 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực, 3. Tri chư thiền giải thốt tam muội trí lực, 4. Tri chúng sanh tâm tánh trí lực, 5. Tri chủng chủng giải trí lực. 6. Tri chủng chủng giới trí lực, 7. Tri nhất thiết sở đạo trí lực, 8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực, 9. Tri túc mạng vô lậu trí lực, 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực. Vô úy, tiếng Phạn là Abhaya, không sợ hãi. Chư Phật được sự không sợ hãi vì các ngài đã diệt trừ tận gốc rễ mọi nguyên nhân dẫn đến sự sợ hãi.
 

* Trang 70 *
device

Đẩu tỏa ánh dương, mày như nguyệt,[1]
Tóc xoáy xám xanh, đảnh nhục kế.[2]
Mắt sáng như gương, chiếu trên
dưới,
Mi, mày dài đẹp, miệng vuông vắn.
Môi, lưỡi đỏ tươi như trái chín,
Răng trắng như ngọc, đủ bôn mươi.[3]
Trán rộng, mũi cao, khuôn mặt lớn,
Ngực hiện chữ vạn, ức sư tử,
Tay chân mềm mại, đủ luân tướng*
Hai nách đầy đặn, tay uyên chuyên.[4]
Cánh tay dài đẹp, ngón thon nhỏ.[5]
Da mềm, lông xoay về bên phải.[6]
 

[1]Đầu tỏa ánh dương, mày như nguyệt: Đây nói về hai tướng tốt của Phật. Đứng từ
phía trước mà chiêm ngưỡng Phật, thì thấy trên đầu ngài, nơi sau ót, tỏa lên một vòng hào quang sáng như ánh mặt trời. Còn nơi hai chân mày gặp nhau ở giữa trán có một xốy lông trắng (bạch hào) xoay theo chiều qua bên phải, từ nơi đó tỏa ra ánh hào quang như ánh trăng.
[2]Đảnh nhục kế, tiếng Phạn là Usnĩsa (Ô-sắc-ni-sa), cũng là một trong 32 tướng tốt của Phật. Đó là chỗ nổi cao trên đỉnh đầu của Phật.
[3]Hàm răng của Phật trắng đều và có đến bốn mươi chiếc. Đây là một trong các tướng tốt người thường không có được.
[4]Hai bàn tay Phật, bên trái, bên phải đều cầm nắm được linh hoạt, uyển chuyển như nhau.
[5]Ngón tay của Phật thon dài, đầu nhỏ lại như búp măng.
[6]Các lỗ chân lông của Phật đều có lông mọc đều đặn, xốy về hướng bên phải, gọi là tướng mao hữu triền.
 

* Trang 71 *
device

Mắt cá, đầu gôi chẳng lộ xương,
Dương vật tự ẩn không dê thây,[1]
Gân nhỏ bao xương, chân sơn dương,
Sáng suốt trong ngoài, sạch không bợn,
Như nước sạch trong chẳng bụi trần.
Đủ ba mươi hai tướng như thế.
Tám mươi vẻ đẹp như hiện rõ,
Nhưng thật không tướng, ngoài sắc tướng.
Mỗi mỗi tướng hiện đều tuyệt hảo
, Là tướng vô tướng, thân hiện tướng,
Chúng sanh có tướng nên tùy hiện,
Khiên cho chúng sanh hoan hỷ lê.
Tâm thành, cung kính, ân cần lễ,
Nhân đó trừ tự cao, ngã mạn,
Được sắc thân tốt đẹp như vậy.
Chúng con nay đủ tám vạn người,
Cùng nhau đảnh lê về nương theo.
Bậc khéo dứt tưởng, tâm, ý, thức,
Bậc thánh Vô trước giỏi điều phục.
 

[1]Tướng này của Phật gọi là âm tàng tướng, tức là bộ phận sinh dục ẩn kín, dù cởi bỏ y phục cũng không nhìn thây.
 

* Trang 72 *
device

Đảnh lê nương theo Pháp sắc thân,
Gồm Giới, Định, Huệ, Giải, Tri kiến.[1]
Đảnh lễ nương theo Muôn tướng tôt,[2]
Đảnh lê nương theo Khó nghĩ bàn.[3]
Phạm âm[4] như sâm vọng tám loại,
[5] Vi diệu, trong sạch, rât sâu xa.
Tứ đế', Lục độ, Thập nhị duyên,[6]
 

[1]Pháp sắc thân hay Pháp thân bao gồm năm phần là Giới, Định, Huệ, Giải thốt, Giải thốt tri kiến.
[2]Muôn tướng tốt (Diệu chủng tướng): Thân Phật do vô lượng pháp lành hội tụ nên có đủ vô lượng tướng tốt, dù nói là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nhưng thật cũng không thể nói hết. Vì vậy nên tôn xưng Phật là Muôn tướng tốt.
[3]Khó nghĩ bàn (Nan tư nghị): Hành tướng chư Phật dù là bậc Bồ Tát Thập địa cũng không thể hiểu hết trọn vẹn, chỉ có Phật với Phật mới có thể trọn hiểu. Vì vậy nên tôn xưng Phật là Khó nghĩ bàn.
[4]Phạm thanh tướng, tiếng Phạn là Brahma-svara, nghĩa là Phật có giọng nói như Phạm thiên vương (Phạm âm), vua cõi trời. Giọng nói của Phạm thiên vương có năm tính chất: 1. Nghe vang dội như tiếng sấm, 2. Tiếng thanh cao vọng rất xa, khiến người nghe vui vẻ, sung sướng. 3. Khiến người nghe kính mến. 4. Giảng giải đạo lý ngan gọn, dễ hiểu, 5. Người nghe không thấy chán.
[5]Vọng tám loại (hưởng bát chủng): Âm thanh Phật nói ra tùy căn cơ của chúng sanh mà tiếp nhận, đủ cả tám loại âm thanh (Bát chủng thanh). Tám loại âm thanh
ấy là :
  1. Âm thanh do lồi hữu tình phát ra, thành ngôn ngữ, ví dụ như tiếng nói lồi người.
  2.  Âm thanh do lồi hữu tình phát ra, nhưng không phải ngôn ngữ, ví dụ như tiếng người vỗ tay.
  3.  Âm thanh do lồi vô tình phát ra, nhưng có ý nghĩa như ngôn ngữ, ví dụ như những âm thanh do Phật dùng thần thông tạo ra để giáo hóa chúng sanh.
  4.  Âm thanh do lồi vô tình tạo ra, không phải ngôn ngữ, ví dụ như tiếng suối chảy róc rách.
Bốn loại âm thanh này, mỗi loại đều lại chia làm hai loại nữa là âm thanh vừa ý (khả ý) và âm thanh chẳng vừa ý (bất khả ý), như vậy tạo thành 8 loại.
[6]Tứ đế, Lục độ, Thập nhị duyên: Những giáo pháp căn bản của các thừa khác nhau. Giáo pháp Tứ đế" (Bốn chơn lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo) là của Thanh văn thừa, giúp người tu chứng bốn Thánh quả, mà quả cao nhất là A-la-hán, giải thốt mọi phiền não, sanh tử. Giáo pháp Thập nhị duyên hay Thập nhị nhân duyên (xem chú giải số 13) là của Duyên giác thừa, người tu chứng đắc đến quả Phật Bích-chi, hay còn gọi là Phật Duyên giác, Phật Độc giác. Giáo pháp Lục độ hay Lục ba-la-mật (Bố
thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ) là dành cho Bồ Tát thừa, người tu các hạnh này hướng đến quả Phật Như Lai.
 

* Trang 73 *
device

Tùy tâm nghiệp chúng sanh thuyết dạy.[1]
Người nghe đều được mở tâm ý,
Dứt sạch phiền não chốn sanh tử.
Hoặc nghe, đắc quả Tu-đà-hoàn,
Tư-đà, A-na, A-la-hán.[2]
Thành Duyên giác, vô lậu vô vi,
Hoặc Bồ Tát, chẳng sanh chẳng diệt.
Hoặc được vô lượng môn Tổng trì,
Đại tài biện thuyết không ngăn ngại.
Diên thuyêt kệ thâm sâu vi diệu,
Dạo chơi, tắm mát ao Pháp lành,
Hoặc bay, hoặc nhảy, hiện thẩn biên,
Ra vào lửa, nước, thân tự do.
Như vậy, tướng Pháp luân như vậy,
Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn.
 

[1]Hết thảy các pháp do Phật thuyết ra tuy thấy dường như sai khác (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ) nhưng thật ra không hề sai khác, chỉ tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà thuyết dạy khác nhau. Cuối cùng đều nhắm đến mục đích là dứt khổ, được vui.
[2]Bốn Thánh quả của Thanh văn thừa, nói đủ là Tu-đà-hồn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán.
 

* Trang 74 *
device

Chúng con lại cùng nhau đảnh lê,
Nương theo bánh xe Pháp chuyên roi.
Cúi đầu nương theo tiêng Phạm âm,
Cúi đầu nương theo Pháp vô thượng.[1]
Đức ThêTôn từ vô lượng kiêp,
Cần khổ tu tập các đức hạnh.
Vì khắp trời, người, rồng, quỷ thần,
Cùng hết thảy muôn loại chúng sanh;
Đã từng dứt bỏ điều khó bỏ,
Như tài sản, vợ, con, cõi nước...
Vì Pháp, trong ngoài đều chẳng tiếc,
Đầu, mắt, tủy, não bốthí người;
Phụng trì giới thanh tịnh chư Phật,
Cho đên bỏ mạng, chẳng hủy phạm.
Nếu kẻ cầm dao, gậy hại mình,
Mắng nhiêc, mạ nhục, chẳng hề giận.
Nhiều kiêp bỏ thân, chẳng lười nhác,
Đêm ngày nhiêp tâm tại thiền định.
 

[1]Bản Hán văn viết "khể thủ quy y duyên, đế, độ". Duyên là Thập nhị nhân duyên, đế là Tứ đế, độ là Lục độ; đều là các giáo pháp vô thượng của đức Thế Tôn đã thuyết, nên dịch là "Cúi đầu nương theo Pháp vô thượng".
 

* Trang 75 *
device

 
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa