LOGO VNBET
THÍCH NGHĨA
(1) Trời Đao Lợi: là từng trời thứ hai trong 6 từng trời ở cõi Dục. Đao Lợi là tiếng Phạn, dịch là “tam thập tam” nghĩa là ba mươi ba, từng trời này ở tại núi Tu di nơi đó chia ra làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành, cung của trời Đế Thích, vị trời này quyền thống nhiếp cả 33 nước trời.
Đương thời đó đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại cung trời này mà thuyết pháp trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Thánh mẫu là bà Ma Gia phu nhơn sanh mẫu của Thái Tử Sĩ Đạt Ta. Bảy ngày sau khi hạ sanh thái tử, bà bỏ thân người sanh lên cõi trời Đao Lợi. Bấy giờ đức Phật sắp nhập diệt, ngài ngự lên đó nói pháp, trước để đáp ơn sanh thành, sau nhơn đó mà giáo hóa hàng chư Thiên, cùng Long, Thần bát bộ và cả thảy Thánh, phàm.
(2) Vô lượng, vô biên, vô số, bất khả thuyết, bất tư nghị v.v... đều là những con số lớn thường dùng bên Thiên Trúc.
(3) Đời ác ngũ trược: là hiện thời đủ cả 5 điều nên thành đời ác.
1. Kiếp trược: thời gian biến đổi không ngừng, có đủ 4 món trược dưới đây.

* Trang 207 *
device

2. Kiến trược: Sự thấy biết sai làm, tin nhận tà vạy chính là món “Lợi sử” vậy.
3. Phiền não trược: Tham, sân hừng hẩy, si mê, điên đảo v.v... chính là những tánh về “độn sử” vậy.
4. Chúng sanh trược: Sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt.
5. Mạng trược: Thọ mạng ngắn ngủi.
Cang cường: Là tính tình ương ngạnh khó bảo khó dạy.
Pháp khổ pháp vui: tức là tứ chân Đế lý:
1/ Khổ đế: Ba cõi sanh tử, gi, đau, sáng, chết v.v... không lường sự khổ hoạn, tức là quả khổ.
2/ Tập đế: phiền nào chứa nhóm kết thánh nghiệp nhơn sanh tử, tức là nhân khổ.
3/ Diệt đế: Dứt hẳn phiền não, khỏi hẳn sanh tử, an vui vắng lặng (Niết bàn), tức là quả vui.
4/ Đạo đế: các thánh đạo những phương pháp tu hành để đoạn phiền não, chứng quả Thánh, tức là nhân vui.
Trong bốn đế lý trên, khổ là quả báo khổ, tập là nghiệp nhân xấu, do nhân xấu mà phải thọ lấy quả báo khổ, đó là “pháp khổ”.
Diệt là quả an vui, đạo là đạo hạnh lành mà chứng lấy quả an vui, đó là “pháp”. Đức Phật dạy cho

* Trang 208 *
device

 chúng sanh biết rõ pháp khổ để dứt trừ cùng thoát ly, dạy cho chúng sanh biết rõ pháp vui để tu hành cùng chứng lấy.
(4) Thị giả: là người hầu hạ, người hầu hạ Phật tức là Bồ Tát vậy.
(5) Cõi dục có 6 từng trời:  1. - Trời Tứ Thiên Vương, trời này ở giữa chừng núi Tu Di. 2. - Trời Đao Lợi, trời này ở tại đỉnh núi Tu di (2 từng trời này dùng ánh sáng mặt trời). 3. - Trời Tu diệm ma, cũng gọi là trời Da ma. 4. - Trời Đâu Suất Đà. 5. - Trời Hóa Lạc. 6. - Trời Tha hóa tự tại (4 từng trời này tự có ánh sáng riêng, và nương mây mà ở)
Từ trời Phạm chúng, trời Phạm phụ đến trời sắc cứu cánh, trời Ma hê thủ la thuộc về cõi Sắc (có sắc nhưng không còn lòng dục nhiễm).
Cõi vô sắc có 4 từng: 1. - Không Vô biên Xứ Thiên. 2. - Thức vô biên Xứ Thiên. 3. - Vô Sở Hữu Xứ Thiên. 4. - Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (4 từng trời này chỉ có định quả thân chớ không có thân về sắc chất)
6. Tám bộ chúng: 1. Thiên chúng - hàng chư Thiên (Thiên tướng). 2 - Long chúng (loài rồng). 3. - Dạ xoa chúng (các thần Dạ xoa). 4. - Càn thát bà chúng (các thần đánh nhạc của trời Đế Thích). 5. - A tu la chúng (thần Phi Thiên). 6. -  Ca lâu la chúng (loài Kim sí điểu). 7. - Khẩn na la chúng (thần múa hát của trời Đế Thích). 8. - Ma hầu la già chúng (Đại mãng xà thần).

* Trang 209 *
device

(7) Sông Hằng: là một con sông to lớn, nguồn từ dãy núi Hy Mã chảy ngang qua xứ Ấn Độ rồi đổ vào Ấn Độ dương, lòng sông cùng hai bên bãi có rất nhiều cát mịn. Đương thời đức Phật thường nói pháp ở các nước thuộc lưu vực sông Hằng nên phàm nói một số lớn, Đức Phật lấy một số cát trong sông Hằng để ví dụ, mà nói là “hằng hà sa số”
Bồ Tát thuộc về Đại thừa, có ba mươi bậc Hiền:
(Trụ vị 10 bậc, Hạnh vị 10 bậc, Hướng vị 10 bậc) 10 bậc Thánh, tức là Thập Địa:
1. - Hoan Hỷ địa                                           2. - Ly Cấu địa
3. - Pháp Quang địa                                      4. - Diệm Huệ địa
5. - Nan Thắng địa                                        6. - Hiện Tiền địa
7. - Viễn Hành địa                                        8. - Bất Động địa
9. - Thiện Huệ địa                                        10. - Pháp Vân địa.
Trên Pháp Vân địa có bậc Đẳng giác Bồ Tát, màn bậc Đẳng giác thời thành Diệu giác (Phật quả).
Bích chi Phật thuộc về Trung Thừa có hai hạng
         A. Độc giác, ra đời không gặp Phật và Phật pháp, do sẵn có căn lành, ngó thấy cảnh tang thương hoa tàn, lá úa v.v... ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly tục trần tự tu tập lý vô thường mà chứng quả Vô sanh khỏi vòng sanh tử trong tam giới.
         B. Duyên giác, ra đời gặp Phật và Phật pháp tu tập thập nhị nhơn duyên quán mà chứng quả Vô sanh.

* Trang 210 *
device

Hai hạng Bích chi Phật trên, về phần tu tập thời khác với Thanh văn, nhưng quả chứng thời đồng với bậc A la hán.
Thanh văn thuộc về tiểu thừa, y theo thánh giáo của Phật dạy tu tập tứ đãế làý mà chứng Thánh quả. Có 4 bậc: 1. Tu đà hoàn (Dự lưu quả), 2. Tư đà hàm (Nhứt lai quả), 3. A na hàm (Bất lai quả), 4. A la hán (Vô sanh quả).
8. Ác đạo: ba đường dữ (Súc sanh đạo, Ngạ quỷ đạo và Địa ngục đạo).
9. Ba ngơi bàu quý: Phật, Pháp, Tăng.
10. Chính kiến: kiến giải (thấy biết nhận hiểu chân chính). Phàm chỗ nhận hiểu đúng Phật pháp thời là chính kiến, ngoài Phật pháp mà nhận hiểu khác thời đều là tà kiến.
11. Vô gián địa ngục: ở phẩm thứ ba có nói rõ.
12. Quỷ vương: chúa loài quỷ.
(13) Oai thần: thần thông các bậc Thánh.
14. Cứ lấy số trung bình một do tuần độ 40 dặm.
15. Ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Nghiệp nghĩa là tạo tác thi vi, ba chỗ này có công năng tạo tác thi vi nên gọi là ba nghiệp.
Nghiệp lực: sức nghiệp ác của chúng sanh gây tạo ra.
16 Mười hạnh lành: Ba hạnh thuộc về thân: 1. Không sát sanh mà phóng sanh, 2. Không trộm

* Trang 211 *
device

cướp mà bố thí, 3. Không tà dâm mà đoan chánh. Bốn hạnh thuộc về khẩu: 1. Không nói dối mà nói chơn thật, 2. Không nói lời chia rẽ mà nói hòa giải, 3. Không nói lời thô ác mà nói lời ôn hòa, nhã nhặn. 4. Không nói lời thêu dệt mà nói lời chắc đúng. Ba hạnh thuộc về ý: 1. Không có lòng tham lam bỏn sẻn mà sanh lòng rộng rõi xả thí, 2. Không có lòng hờn giận ganh ghét mà sanh lòng tùy hỷ xót thương, 3. Không có lòng si mê tà kiến mà sanh lòng sáng suốt nhận hiểu chơn chánh.
17. Nghĩa của các địa ngục: Cực Vô gián: cùng tột Vô gián (nghĩaVô gián đã có ở phẩm trước) - Đại A tỳ (Vô gián lớn) - Tứ giác (bốn góc) - Phi đao (đao bay) - Hỏa tiễn (tên lửa) - Giáp sơn (núi ép) - Thông thương (phóng dâm) -Thiết xa (xe sắt) - Thiết sàng (giường sắt) - Thiết ngưu (trâu sắt) - Thiết y (áo sắt) - Thiên nhẫn (nghìn mũi nhọn) - Thiết lư (lừa sắt) -Dương đồng (nước đồng sôi) - Bảo trụ (ôm cột đồng) - Lưu hỏa (lửa văng) - Canh thiệt (cày lưỡi) -Tỏa thủ (chém đầu) - Thiêu cước (đốt chân)  - Đạm nhãn (móc mắt)  - Thiết hoàn (hoàn sắt) - Tranh luận (cõi cọ)  -Thiết thù (thù sắt)  - Đa sân (nhiều giận).
18. Kiếu oán (kêu la)  - Bạt thiệt (kéo lưỡi) - Phẩn niếu (phẩn tiểu) - Đồng tỏa (khóa đồng)  - Hỏa tượng (voi lửa)  - Hỏa cẩu (chó lửa)  - Hỏa mà (ngựa lửa) - Hỏa ngưu (trâu lửa)  - Hỏa sơn (núi lửa)  - Hỏa thạch (đá lửa) - Hỏa sàng (giường lửa) - Hỏa lương (sà lửa) - Hỏa ưng (diều lửa)

* Trang 212 *
device

Cứ nha (cưa răng) - Bác bì (lột da)  - Ẩm huyết (uống máu)  - Thiêu thủ (đốt tay) - Đảo thích (đâm ngược)  - Hỏa ốc (nhà lửa) - Hỏa lang (sói lửa).
19. Năm tướng suy hao: Khi một vị trời nào số thọ đã màn, thì trước khi chết có năm tướng này hiện ra:
1. Hoa trên mào khơ hào
2. Mất hào quang nơi thân.
3. Mình rịn chất hơi.
4. Ở không an
5. Quyến thuộc nhàm lánh

* Trang 213 *
device

 
Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện