LOGO VNBET
Phẩm thứ tư
BỒ TÁT
 
Lúc ấy, Phật bảo Bồ Tát Di-lặc: (1) “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
 Bồ Tát Di-lặc bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con vì vị Thiên vương ở cung trời Đâu-suất cùng quyến thuộc của người mà giảng thuyết công hạnh của địa vị Bất thối chuyển. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Thưa Bồ Tát Di-lặc! Đức Thế Tôn có thọ ký cho nhân giả: Một đời nữa, ngài sẽ đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do đời sống nào mà được sự thọ ký ấy? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu
___________________
(1) Bồ Tát Di-lặc (Sanskrit: Maitreya, Pàli: Metteyya) dịch nghĩa là Từ Thị , cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (, Sanskrit, Pàli: Ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa.

* Trang 69 *
device

là đời quá khứ, thì đời quá khứ đã dứt. Nếu là đời vị lai, thì đời vị lai chưa tới. Nếu là đời hiện tại, thì đời hiện tại không trụ. Như Phật có dạy: Tỳ-kheo! Ngay lúc này đây các ông vừa sinh ra, vừa già đi, vừa diệt mất. Nếu do vô sinh mà được thọ ký, thì vô sinh tức là chánh vị. Đối với chánh vị, không có việc thọ ký, cũng không có việc đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Làm sao Di-lặc được thọ ký một đời sinh ra nữa? Là theo như sinh mà được thọ ký chăng? Là theo như diệt mà được thọ ký chăng? Nếu là theo như sinh mà được thọ ký thì như không có sinh. Nếu là theo như diệt mà được thọ ký thì như không có diệt. Tất cả chúng sinh đều là như. Tất cả các pháp cũng là như. Các vị thánh hiền cũng là như. Cho đến Di-lặc cũng là như. Nếu Di-lặc được thọ ký, tất cả chúng sinh lẽ ra cũng được thọ ký. Tại sao vậy? Nếu là như, thì chẳng hai, chẳng khác. Nếu Di-lặc đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, (1) tất cả chúng sinh lẽ ra cũng đều đắc quả. Tại sao vậy? Tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề. Nếu Di-lặc được diệt độ, tất cả chúng
_________________
(1) Khi một vị Bồ Tát giác ngộ viên mãn, thành Phật, gọi là đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Đây là cách phiên âm từ tiếng Phạn anuttarā-saṃyak-saṃbodhi, Hán dịch nghĩa là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mô tả sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật.

* Trang 70 *
device

sinh cũng sẽ được diệt độ. Tại sao vậy? Chư Phật biết rằng tất cả chúng sinh tất cánh tịch diệt, tức là tướng Niết-bàn, chẳng còn sự diệt độ nào nữa.
 Vì vậy, ngài đừng đem pháp ấy mà khuyến dụ chư thiên tử. (1) Thật không có việc phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cũng không có việc thối chuyển.
 ‘Di-lặc! Ngài nên khiến chư thiên tử ấy lìa bỏ cái ý kiến phân biệt Bồ-đề. Tại sao vậy? Bồ-đề ấy, không thể dùng thân mà được, không thể dùng tâm mà được.
 ‘Tịch diệt là Bồ-đề, vì dứt hết các tướng. Chẳng quán sát là Bồ-đề, vì lìa khỏi các duyên. Chẳng hành động là Bồ-đề, vì không nhớ tưởng chi cả. Đoạn tuyệt là Bồ-đề, vì bỏ hết các ý kiến. Lìa bỏ là Bồ-đề, vì lìa khỏi các vọng tưởng. Ngăn trở là Bồ-đề, vì ngăn trở các sở nguyện. Chẳng vào là Bồ-đề, vì không có tham trước. Thuận là Bồ-đề, vì thuận theo lẽ như. Trụ là Bồ-đề, vì trụ nơi tánh pháp. Đến là Bồ-đề, vì đến chỗ thực tế. Chẳng hai là Bồ-đề, vì lìa ý và pháp. Bình đẳng là Bồ-đề, vì bình đẳng như hư không. Vô vi là Bồ-đề, vì không có những sự: sinh, trụ, diệt. Biết là Bồ-đề, vì rõ
____________________
(1) Thiên tử (Sanskrit: Devatā), dịch âm là Đề-bà, chỉ những vị thuộc nam giới cư trú ở cõi trời, dưới quyền vị thiên vương hay thiên chủ. Còn những vị thuộc nữ giới gọi là thiên nữ.

* Trang 71 *
device

được tâm hạnh của chúng sinh. Chẳng hội là Bồ-đề, vì các nhập chẳng hội nhau. Chẳng hiệp là Bồ-đề, vì lìa khỏi thói quen phiền não. Chẳng có xứ sở là Bồ-đề, vì không có hình sắc. Tiếng tạm gọi là Bồ-đề, vì danh tự vốn không. Như ảo hóa là Bồ-đề, vì không lấy, không bỏ. Không loạn là Bồ-đề, vì tự mình yên tĩnh. Thường tịch là Bồ-đề, vì tánh thanh tịnh. Không nắm giữ là Bồ-đề, vì lìa khỏi phan duyên. Không khác lạ là Bồ-đề, vì các pháp như nhau. Không thể so sánh là Bồ-đề, vì không thể ví dụ. Vi diệu là Bồ-đề, vì các pháp khó biết.’
 “Thế Tôn! Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, hai trăm vị thiên tử được pháp nhẫn Vô sinh. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
 Phật bảo Đồng tử Quang Nghiêm: “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.
 Quang Nghiêm bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con đi ra ngoài thành lớn Tỳ-da-ly. Bấy giờ, Duy-ma-cật mới vừa đi vào thành. Con liền làm lễ ông ấy và hỏi rằng: ‘Cư sĩ từ đâu lại đây?’
 “Cư sĩ đáp: ‘Tôi từ đạo trường lại đây.’

* Trang 72 *
device

 “Con hỏi: ‘Đạo trường ấy là ở đâu?’
 “Cư sĩ đáp rằng: ‘Lòng ngay thẳng là đạo trường, vì không có sự hư dối. Khởi làm là đạo trường, vì có thể biện biệt được sự việc. Lòng sâu vững là đạo trường, vì được tăng thêm công đức. Tâm Bồ-đề là đạo trường, vì không có sự lẫn lộn. Bố thí là đạo trường, vì không mong báo đáp. Trì giới là đạo trường, vì được tròn nguyện. Nhẫn nhục là đạo trường, vì đối với chúng sinh, lòng mình được vô ngại. Tinh tấn là đạo trường, vì chẳng có biếng nhác. Thiền định là đạo trường, vì lòng dạ được điều nhu. Trí huệ là đạo trường, vì hiện rõ các pháp. Từ là đạo trường, vì thương các chúng sinh như nhau. Bi là đạo trường, vì nhẫn chịu các mỏi mệt khổ đau. Hỷ là đạo trường, vì là pháp vui vẻ. Xả là đạo trường, vì dứt lòng thương ghét. Thần thông là đạo trường, vì thành tựu sáu thần thông. Giải thoát là đạo trường, vì buông bỏ được. Phương tiện là đạo trường, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn pháp thâu nhiếp là đạo trường, vì nhiếp phục được chúng sinh. Đa văn là đạo trường, vì theo như điều đã nghe mà thực hành. Điều phục tâm là đạo trường, vì đó là chánh quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo trường, vì buông bỏ pháp hữu vi. Bốn đế là đạo trường, vì chẳng dối gạt thế gian. Duyên

* Trang 73 *
device

khởi là đạo trường, vì vô minh cho tới già, chết (1) đều
_________________
(1) Vô minh cho đến già, chết (Vô minh nãi chí lão tử): Mười hai nhân duyên (Sanskrit: pratīya-samutpāda, Pāli: paṭicca-samuppāda) hay Thập nhị nhân duyên, nguyên nghĩa là Duyên khởi hay Nhân duyên sinh, nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai yếu tố kết nối nhau, nên thường gọi là Mười hai nhân duyên. Đó là:
    1. Vô minh (, Sanskrit: avidyā, Pāli: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu được khổ là tính chất căn bản của đời sống,
   2. Vô minh sinh ra Hành (, Sanskrit: saṃskāra, Pāli: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng là thân, khẩu và ý.
    3. Hành sinh ra Thức (, Sanskrit: vijñāna, Pāli: viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bào thai mẹ, Thức lựa chọn cha mẹ do Hành tốt hay xấu qui định.
   4. Thức sinh ra Danh Sắc (, Sanskrit, Pāli: nāmarūpa), là toàn bộ phần tâm lí và hình thể của bào thai mới, do Ngũ uẩn (Sanskrit: pañcaskandha, Pāli: pañca-khandha) tạo thành.
   5. Danh sắc sinh ra Lục căn (, Sanskrit: ṣaḍāyatana, Pāli: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả ăng suy nghĩ là sáu).
   6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (,  Sanskrit: sparśa, Pāli: phassa).
   7. Xúc sinh ra Thọ (, Sanskit, Pāli: Vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài.
   8. Thọ sinh ra Ái (, Sanskrit: tṛṣṇā, Pāli: taṇhā), luyến ái xuất phát từ ham muốn.
   9. Ái sinh ra Thủ (, Sanskrit, Pāli: upādāna) là điều người ta muốn chiếm hữu cho mình.
   10. Thủ sinh ra Hữu (, Sanskrit, Pāli: bhāva), là toàn bộ cái được gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.
   11. Hữu sinh ra Sinh (, Sanskrit, Pāli: jāti), một thế giới và con người xuất hiện trong đó.

* Trang 74 *
device

là không cùng tận. Các phiền não là đạo trường, vì biết hết thảy như thật. Chúng sinh là đạo trường, vì biết rằng đó là vô ngã. Tất cả các pháp là đạo trường, vì biết rằng các pháp đều là không. Hàng ma là đạo trường, vì chẳng khuynh động. Ba cõi là đạo trường, vì không có chỗ nào để hướng theo. Sư tử hống là đạo trường, vì mình thuyết pháp chẳng khiếp sợ. Sức vô úy với các pháp bất cộng (1) là đạo trường, vì không có những lỗi lầm. Ba minh là đạo trường, vì không còn trở ngại. Trong một giây nghĩ, biết hết tất cả các pháp, đó là đạo trường, vì thành tựu được cái trí biết tất cả.
 ‘Như vậy đó, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát dùng các ba-la-mật (2) mà giáo hóa chúng sinh, nên biết rằng
__________________
   12. Sinh sinh ra Lão tử (, Sanskrit: Pāli: jarāmaraṇa), vì có sinh nên có hoại diệt.
Cần chú ý rằng đây chỉ là trình tự liệt kê. Sự vận hành của mười hai nhân duyên thật ra là một vòng tròn khép kín, không có điểm khởi đầu hoặc điểm kết thúc. Đừng lầm tưởng rằng Vô minh là yếu tố đầu tiên rồi đến hành, thức…Các nhân duyên này theo nhau mà cùng có trong sinh tử, lại cũng theo nhau mà cùng diệt trong quá trình chứng ngộ. Khi sinh, tất cả đều sinh. Khi diệt, tất cả đều diệt.
(1) Các pháp bất cộng: Tức là Thập bát bất cộng pháp.
(2) Các ba-la-mật (Chư ba-la-mật): Tức là Sáu pháp ba-la-mật (Sanskrit: pāramitā), viết đủ là Ba-la-mật-đa, cũng gọi là Lục độ (tiếng hoa), dịch nghĩa là Cứu cánh đáo bỉ ngạn. Đó là cách hạnh thanh tịnh của hàng Bồ Tát, gồm có:
1. Bố thì Ba-la-mật (Sanskrit: dāna-pāramitā).
 2. Trì giới Ba-la-mật (Sanskrit: śīla-pāramitā).
 3. Nhân nhục Ba-la-mật ( Sanskrit: kṣānti-pāramitā).

* Trang 75 *
device

mọi việc làm của mình, cho đến những cử động nhỏ như nhấc chân, hạ chân, đều từ đạo trường mà lại, trụ nơi Phật Pháp.’
 “Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, năm trăm vị chư thiên và người ta đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
 Phật bảo Bồ Tát Trì Thế: (1) “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
 Bồ Tát Trì Thế bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con trụ nơi tĩnh thất. Lúc ấy, ma Ba-tuần hóa hình hệt như Đế-thích, có một muôn hai ngàn thiên nữ theo hầu, có cả tiếng âm nhạc, đàn địch ca xướng, đi lại chỗ con. Ma vương ấy với quyến thuộc đảnh lễ nơi chân con, chắp tay cung kính đứng về một bên. Con tưởng đó là Đế-thích, nên liền nói với vị ấy rằng: ‘Lành thay, Kiều-thi-ca! (2) Tuy ông đáng được hưởng phước, nhưng chẳng nên phóng túng.
_____________________
    4. Tinh tấn Ba-la-mật (, Sanskrit: vīrya-pāramitā).
    5. Thiền định Ba-la-mật (, Sanskrit: dhyāna-pāramitā).
   6. Trí huệ Ba-la-mật (, Sanskrit: prajñā- pāramitā).
(1) Bồ Tát Trì Thế (, Sanskrit: Lokadhāra).
(2) Kiều-thi-ca (Kauśika): tên riêng của đức Đế-thích, vua cõi trời Tam thập Tam thiên hay Đao-lỵ Thiên trong cõi Dục giới.

* Trang 76 *
device

Nên quán năm dục (1) là vô thường. Muốn được gốc lành, hãy tu kiên pháp (2) về thân, mạng, tài.’
 “Vị ấy liền nói với con rằng: ‘Chánh sĩ! (3) Xin ngài thâu nhận mười hai ngàn thiên nữ này, các nàng có thể lo việc quét tước giặt rửa.’
 “Con đáp: ‘Kiều-thi-ca! Tôi là sa-môn Thích tử, ông đừng yêu cầu tôi nhận những thứ không đúng với pháp tu hành. Điều đó là trái với nghi luật của tôi.’
 “Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật đến, bảo con rằng: ‘Chẳng phải Đế-thích, đó là ma (4) đến quấy rối ngài đó.’
 “Duy-ma-cật liền nói với ma rằng: ‘Các nàng này có thể tặng cho ta. Ta bằng lòng thâu nhận.’
 “Ma hoảng sợ, nghĩ rằng: ‘Duy-ma-cật chẳng phải định hại ta đây sao?’ Liền muốn ẩn hình trốn
______________________
(1) Năm dục (Ngũ dục): Năm sự ham muốn, khoái lạc có được do thỏa mãn 5 giác quan, bao gồm: 1. Sắc dục; 2. Thanh dục; 3. Hương dục; 4. Vị dục; 5. Xúc dục.
(2) Kiên pháp: những pháp bền vững mãi mãi. Có ba kiên pháp là: thân, mạng, tài. Người tu hành được: Thân vô cực, mạng vô cùng, tài vô tận. Đó gọi là 3 kiên pháp.
(3) Chánh sĩ: Bậc đại sĩ cầu chánh đạo, chánh quả, tức là danh xưng một vị Bồ Tát.
(4) Ma, phiên âm tiếng Phạn là Māra, là vị vua ở cung trời Tha hóa tự tại, cảnh thứ sáu, cảnh cao nhất trong cõi dục giới, thường gọi là Ma vương.

* Trang 77 *
device

 đi, nhưng chẳng được. Bèn dùng hết thần lực, cũng chẳng đi được. Liền nghe có tiếng nơi không trung nói rằng: ‘Ba-tuần! (1) Hãy trao tặng những nàng ấy cho Duy-ma-cật, rồi ông mới đi được.’
 “Vì khiếp sợ, ma miễn cưỡng mà cho.
 “Lúc ấy Duy-ma-cật nói với các nàng rằng: ‘Ma đã đem các cô tặng cho ta. Nay các cô nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’
 
 “Duy-ma-cật liền tùy theo chỗ thích hợp mà thuyết pháp với các nàng, khiến cho tất cả đều phát đạo ý.
 “Lại nói rằng: ‘Các cô đã phát đạo ý rồi. Nay có những điều vui theo đúng pháp để cho tự vui lấy, chẳng nên vui với năm dục nữa.’
 “Các thiên nữ liền hỏi: ‘Những gì là vui theo đúng pháp?’
 “Đáp rằng: ‘Vui thường tin Phật, vui muốn nghe Pháp, vui cúng dường Tăng. Vui lìa năm dục, vui quán năm ấm (2) như bọn oán tặc, vui quán bốn
_________________
(1) Ba-tuần (Sanskrit: Pāpīyan): tên gọi là Ma vương.
(2) Năm ấm (Ngũ ấm) hay Ngũ uẩn (, Sanskrit: pañca-skandha; Pāli: pañca-khandha): Năm món tích tụ, hòa hiệp tạo thành thân tâm, cũng được gọi là năm sự ràng buộc. Chỉ có Phật hay các vị A-la-hán mới không bị chúng trói buộc. Đó là:

* Trang 78 *
device

đại (1) như rắn độc, vui quán nội nhập (2) như xóm không dân cư. Vui tùy hộ đạo ý. Vui làm lợi ích chúng sinh. Vui kính dưỡng thầy. Vui làm việc bố thí rộng lớn. Vui giữ bền giới hạnh. Vui nhẫn nhục nhu hòa. Vui siêng gom góp căn lành. Vui thiền định chẳng loạn. Vui lìa cấu nhiễm, tỏ sáng trí huệ. Vui mở rộng tâm Bồ-đề. Vui hàng phục chúng ma. Vui cắt đứt các phiền não. Vui tịnh quốc độ của
______________________
   1. Sắc (, Sanskrit, Pāli: rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn).
   2. Thọ (, Sanskrit, Pāli: vedanā), tức là cảm giác.
   3. Tưởng (, Sanskrit, saṃjñā; Pāli: saññā)
   4. Hành (, Sanskrit, saṃskāra; Pāli: saṅkhāra)
   5. Thức (, Sanskrit, vijñāna; Pāli: viññāṇa).
(1) Bốn đại (Tứ đại, Sanskrit, Pāli: mahābhūta) là các yếu tố: đất (địa, Sanskrit: pṛthvī), nước (thủy, Sanskrit: āp), lửa (hỏa, sanskrit: tejah), gió (phong, Sanskrit: vāyu). Quan niệm xưa cho đây là bốn yếu tố hợp thành mọi vật thể, tượng trưng cho: độ cứng (đất), chất lỏng (nước), hơi nóng (lửa), và sự vận động (gió). Bốn yếu tố này hợp thành thân thể cũng như vạn vật.
(2) Nội nhập hay Nội lục thập, Lục nhập (, Sanskrit: ṣaḍāyatana, Pāli: saḷāyatana), là sáu căn đối với sáu trần:, kể ra như sau:
   1. Hình sắc, đối tượng của mắt.
   2. Âm thanh, đối tượng của tai.
   3. Mùi hương, đối tượng của mũi.
   4. Vị nếm, đối tượng của lưỡi.
   5. Cảm xúc, đối tượng của thân.
   6. Pháp (các hiện tượng, cũng có thể là một ý nghĩ, một khái niệm…) đối tượng của ý.

* Trang 79 *
device

Phật. Vui thành tựu tướng hảo, tu các công đức. Vui trang nghiêm đạo trường. Vui nghe pháp sâu xa mà chẳng sợ. Vui với ba môn giải thoát. Vui chẳng sai thời. Vui gần bạn đồng học. Vui giữa nhóm người chẳng đồng học, lòng không ngăn ngại. Vui hộ trì những kẻ quen biết xấu. Vui gần gũi những người quen biết tốt. Vui lòng ưa mến cảnh thanh tịnh. Vui tu các đạo phẩm (1) vô lượng. Đó là các niềm vui theo đúng pháp của Bồ Tát.’
 “Lúc ấy, ma Ba-tuần bảo các nàng ấy rằng: ‘Ta muốn cùng các cô trở về cung.’
 “Các nàng thưa rằng: ‘Ông đã đem chúng tôi mà tặng cho vị cư sĩ này. Có các điều vui theo như pháp, chúng tôi rất vui thích. Chúng tôi chẳng còn muốn trở lại vui thích năm món dục lạc nữa.’
 “Ma nói: ‘Cư sĩ! Ông nên buông xả các nàng này. Bồ Tát phải là người thí xả tất cả sở hữu của mình cho kẻ khác.’
 “Duy-ma-cật nói: ‘Ta đã buông xả rồi, ông có thể ra đi. Hãy khiến cho tất cả chúng sinh được phát nguyện đầy đủ.’
__________________
(1) Các đạo phẩm, tức là Tam thập thất đạo phẩm (Ba mươi bảy phẩm đạo).

* Trang 80 *
device

 “Lúc ấy, các thiên nữ hỏi Duy-ma-cật: ‘Chúng tôi sẽ làm gì khi ở nơi chốn cung ma?’
 “Duy-ma-cật nói: ‘Này các cô, có một phép tu gọi là Đèn không dứt. Các cô nên học phép tu ấy. Đèn không dứt có nghĩa là, như từ một ngọn đèn, mồi sáng ra trăm ngàn ngọn đèn liên tiếp. Những chỗ tối đều trở nên sáng, mà ánh sáng không hề dứt. Cũng vậy, một vị Bồ Tát mở đạo cho trăm ngàn chúng sinh, khiến cho tất cả đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Mà cái đạo ý ấy cũng không bao giờ dứt. Tùy theo chỗ thuyết pháp, tự mình tăng trưởng tất cả pháp lành. Đó gọi là Đèn không dứt. Các cô tuy ở nơi cung ma, hãy dùng phép tu Đèn không dứt này mà làm cho vô số thiên tử và thiên nữ đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Đó là báo đáp ơn Phật, cũng là làm lợi ích lớn cho tất cả chúng sinh.’
 “Lúc ấy, các Thiên nữ lấy đầu và mặt làm lễ sát chân Duy-ma-cật, rồi theo ma vương mà trở về cung. Bỗng nhiên, thảy đều biến mất.
 “Thế Tôn! Duy-ma-cật có thần lực tự tại và trí huệ biện tài như vậy đó. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
 Phật phán với Thiện Đức, con nhà trưởng giả:

* Trang 81 *
device

 “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
 Thiện Đức bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, ở nhà cha con, con có tự mình tổ chức một hội bố thí, cúng dường tất cả sa-môn, bà-la-môn, các thầy ngoại đạo và những kẻ bần cùng, hạ tiện, cô độc, hành khất. Kỳ hạn bố thí đủ bảy ngày. Bấy giờ, Duy-ma-cật đi lại, vào trong hội, bảo con rằng: ‘Chàng con nhà trưởng giả! Nếu là hội bố thí, chẳng nên tổ chức theo như cậu đang làm đây. Nên mở hội thí pháp, cần gì mở hội thí tài như vậy?’
 “Con hỏi cư sĩ ấy: ‘Sao gọi là Hội thí pháp?’
 “Đáp rằng: ‘Hội thí pháp là không thí cho kẻ trước người sau. Trong một lúc, cúng dường tất cả chúng sinh. Đó gọi là hội thí pháp.’
 “Con lại hỏi: ‘Như vậy là thế nào?’ Đáp rằng: ‘Đó là: Nhân vì Bồ-đề, phát khởi lòng từ. Nhân vì cứu độ chúng sinh, phát khởi tâm đại bi. Nhân vì giữ gìn Chánh pháp, phát khởi tâm hỷ. Nhân vì nhiếp thâu trí huệ, thi hành pháp xả. Nhân vì nhiếp phục khan tham, khởi nên pháp bố thí. Nhân vì cải hóa việc phạm giới, khởi nên pháp trì giới. Nhân vì pháp vô ngã, khởi nên pháp nhẫn nhục.

* Trang 82 *
device

Nhân vì lìa tướng thân tâm, khởi nên pháp tinh tấn. Nhân vì tướng Bồ-đề, khởi nên pháp thiền định. Nhân vì cái trí biết tất cả, khởi nên pháp trí huệ. Vì giáo hóa chúng sinh, mà khởi ra lẽ không. Vì chẳng bỏ pháp hữu vi, mà khởi lẽ vô tướng. Vì thị hiện thọ sinh, mà khởi lẽ vô tác. Do hộ trì Chánh pháp, bèn khởi sức phương tiện. Nhân vì độ chúng sinh mà khởi bốn pháp thâu nhiếp. Nhân vì kính trọng tất cả, khởi trừ pháp kiêu mạn. Đối với thân, mạng, tài, khởi ba kiên pháp. Đối với sáu niệm, (1) khởi pháp tưởng nhớ. Đối với sáu hòa kính, (2) khởi lòng chơn chất ngay thẳng. Thi hành
_________________
(1) Sáu niệm (Lục niệm) hay Lục tùy niệm (; Sanskrit: ṣaḍanusmṛtaya), cũng gọi là Lục niệm xứ , là sáu đối tượng mà người tu luôn luôn tâm niệm, nghĩ nhớ đến. Đó là:
  1. Phật (Sanskrit: buddha)
  2. Pháp (Sanskrit: dharma)
  3. Tăng (Sanskrit: saṅgha)
  4. Giới (Sanskrit: śīla)
  5. Bố thí (Sanskrit: dāna)
  6. Thiên (Sanskrit: deva)
(2) Sáu hòa kính (Lục hòa kính) cũng gọi Lục hòa (Sanskrit: śaḍsāramyadharma) là sáu điều hòa đồng, kính ái mà người học Phật phải thực hiện trong cuộc sống chung, nhất là khi sống trong Tăng đoàn. Nhờ thực hiện Lục hòa mà có thể tạo ra nếp sống hòa đồng giữa tất cả các thành viên trong một cộng động. Lục hòa kính bao gồm:
   1. Thân hòa đồng trú: củng giữ sự hòa thuận sống chung nhau.

* Trang 83 *
device

pháp lành một cách minh chánh, bèn khởi nên đời sống trong sạch. Lòng trong sạch vui vẻ, khởi ra việc gần gũi những bậc hiền thánh. Chẳng ghét kẻ dữ, khởi nên sự điều phục lòng người. Nhân vì pháp xuất gia, khởi nên lòng sâu vững. Nhân vì thi hành theo như thuyết, khởi nên tài đa văn. Nhân vì pháp không tranh chấp, khởi ra cảnh vắng vẻ, tịch tịnh. (1) Hướng theo huệ Phật, khởi nên pháp ngồi yên. Mở trói cho chúng sinh, khởi ra trụ địa tu hành. (2) Nhân vì tướng hảo và cõi Phật thanh tịnh, khởi nên nghiệp phước đức. Nhân biết được lòng nghĩ tưởng của tất cả chúng sinh, thuyết pháp ứng hợp, bèn khởi nên nghiệp trí. Biết rằng tất cả các
___________________
   2. Khẩu hòa vô tranh: cùng nói những lời ôn hòa, không tranh chấp.
   3. Ý hòa đồng duyệt: cùng chung ý chí tốt đẹp, vui vẻ.
  4. Lợi hòa đồng quân: cùng chia sẻ vật chất với nhau.
  5. Giới hòa đồng tu: cùng chuyên giữ giới luật, tu tập.
  6. Kiến hòa đồng giải: cùng chia sẻ sự hiểu biết, kiến giải.
Về cách hiểu và vận dụng Lục hòa kính trong cuộc sống hằng ngày, xin đọc thêm ở sách Những tâm tình cô đơn của Nguyên Minh, NXB Tôn giáo.
(1) Cảnh vắng vẻ, tịch tịnh, Hán văn gọi là Không nhàn xứ, tiếng Sanskrit là Araṇya, dịch âm là A-lan-nhã, là nơi vắng không, nhàn tĩnh, xa làng xóm, không có sự tranh cãi.
(2) Trụ địa tu hành (Tu hành địa): Tức Tu hành trụ trong Thập trụ của Bồ tát, gồm: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sinh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.

* Trang 84 *
device

 pháp là chẳng giữ cũng chẳng bỏ, vào được chỗ một tướng duy nhất, (1) bèn khởi nên nghiệp của trí huệ. Dứt tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả pháp chẳng lành, bèn khởi nên tất cả nghiệp lành. Nhân vì được tất cả trí huệ, tất cả pháp lành, mà khởi nên tất cả các pháp trợ Phật đạo. Như vậy, Thiện nam tử! Đó là hội thí pháp. Nếu Bồ Tát trụ ở hội thí pháp ấy, đó là đại thí chủ, cũng là ruộng phước của tất cả thế gian.’
 “Thế Tôn! Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, hai trăm người trong chúng bà-la-môn đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Khi ấy, tâm ý con được trong sạch, con khen là chưa từng có, liền đảnh lễ nơi chân Duy-ma-cật. Rồi con cởi ra xâu chuỗi ngọc, giá trị trăm ngàn mà dâng hiến, nhưng ông ấy chẳng nhận. Con liền nói: ‘Cư sĩ! Xin ông nhận lãnh, rồi muốn cho ai tùy ý.’
 “Duy-ma-cật bèn nhận chuỗi ngọc, chia làm hai phần. Ông đem một phần thí cho kẻ ăn xin nghèo hèn nhất trong hội ấy. Còn một phần, ông phụng hiến đức Như Lai Nan Thắng bên cõi nước kia. Tất cả chúng hội khi ấy đều nhìn thấy đức Như Lai Nan Thắng ở cõi nước Quang Minh. Chúng hội lại còn thấy được những hạt ngọc sang bên đức Phật
_____________________
(1) Một tướng duy nhất (nhất tướng): chỉ Thật tướng của chân như.

* Trang 85 *
device

kia, liền hóa thành một cảnh đài báu bốn cột, bốn mặt đều trang nghiêm, chẳng che khuất nhau.
 “Lúc ấy, Duy-ma-cật hiện thần biến như vậy rồi, lại nói rằng: ‘Nếu thí chủ có lòng bình đẳng, thí cho kẻ ăn xin nghèo hèn nhất, cũng như tướng ruộng phước Như Lai, không có chỗ phân biệt, giữ lòng đại bi bình đẳng, chẳng cầu quả báo. Đó mới gọi là hạnh thí pháp đầy đủ.’
 “Trong thành, kẻ ăn xin nghèo hèn nhất thấy sức thần ấy và nghe Duy-ma-cật thuyết pháp cũng phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
 “Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.”
 Cứ như vậy, các vị Bồ Tát lần lượt đối trước Phật nói ra duyên cớ của mình, xưng thuật lời lẽ của Duy-ma-cật. Tất cả đều thưa rằng chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.

* Trang 86 *
device

 
Kinh Duy-Ma-Cật