LOGO VNBET
KINH DUY-MA-CẬT (1)
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm thứ nhất

CÕI PHẬT

 
 
Tôi nghe như thế này: (2) Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ
_____________________
(1) Duy-ma-cật Sở Thuyết Kinh (Sanskrit: Vimalalīrtinirdeśa-sūtra) thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh. Ngày nay không còn nguyên bản Phạn ngữ (Sanskrit) mà chỉ còn lại các bản Hán ngữ. Có nhiều bản dịch chữ Hán, trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất là:
     1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh , 2 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào thời Tam Quốc (223-253).
     2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh 3 quyển, do ngài Cưu-ma-la-thập (344-413) dịch vào năm 406, là bản dịch quan trọng nhất và được sử dụng nhiều nhất, chính là bản kinh này.
    3. Thuyết vô cấu xưng kinh , 6 quyển, do ngài Huyền Trang (600-664) dịch vào năm 650. Cũng gọi theo nghĩa là tịnh danh kinh.
Duy-ma-cật là tên vị Bồ Tát hiện thân cư sĩ trong kinh này, gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật (Sanskrit: Vimalalīrti), dịch nghĩa là vô cấu xưng  trước đây cũng dịch nghĩa là tịnh danh.
(2) Tôi nghe như thế này (Như thị ngã văn): là lời ngài A-nan thuật lại. Tất cả kinh Phật đều mở đầu bằng câu này, để chỉ rõ là do ngài A-nan, bậc đa văn đệ nhất, nhe chính từ kim khẩu của Phật thuyết ra và sau đó mới ghi chép lại.

* Trang 9 *
device

Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo, (1) khiến cho lưu truyền chẳng dứt.
 Hàng phục ma oán, chế ngự các ngoại đạo, các ngài đã trở nên thanh tịnh, lìa hẳn các phiền não che phủ quấn quít, lòng hằng trụ yên nơi giải thoát vô ngại, niệm, định, tổng trì, (2) tài biện thuyết chẳng gián đoạn. Các ngài có đầy đủ những đức: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ và sức phương tiện. Các ngài đạt tới mức tự thấy mình không chứng đắc chi cả, chẳng cần khởi lòng nhẫn nhịn đối với mọi sự việc mà biết tùy thuận căn cơ của chúng sinh để quay bánh xe Pháp chẳng thối lui. (3) Các ngài biết rõ tướng trạng
_______________
(1) Tam bảo: ba ngôi quý nhất của thế gian, đó là: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
(2) Tổng trì : nghĩa là “thâu nhiếp hết tất cả”, dịch chữ dhāraṇī trong tiếng Sanskrit, phiên âm là đà-la-ni.
(3) Có tài nương theo chí hướng của người nghe mà thuyết pháp, giúp họ hiểu được chánh pháp.

* Trang 10 *
device

các pháp, hiểu được căn tánh chúng sinh. Các ngài bao trùm khắp đại chúng, đạt đến chỗ an ổn không sợ sệt.
 Các ngài tu tâm mình bằng công đức trí huệ. Những tướng chánh quý và những tướng phụ tốt tô điểm thân thể, làm cho dung sắc hình tượng các ngài đẹp đẽ bậc nhất. Các ngài chê bỏ mọi món trang sức tốt đẹp của thế gian. Danh tiếng của các ngài rất cao xa, vượt khỏi núi Tu-di. Đức tin của các ngài sâu vững như kim cang. Chánh pháp quý giá của các ngài soi sáng khắp nơi và tuôn xuống như mưa cam-lộ. (1) Tiếng nói của các ngài vi diệu đệ nhất.
 Các ngài thấu nhập sâu xa tới chỗ phát khởi của nhân duyên, chặt đứt các ý kiến tà vạy và ý kiến thiên lệch về hai bên, chẳng nghiêng về chấp có hoặc chấp không. Các ngài không còn những thói quen xấu. Các ngài diễn giảng pháp giáo một cách hùng hồn không sợ sệt, dường như tiếng sư tử rống. Tiếng giảng thuyết của các ngài vang dội như sấm dậy, không thể đong lường, quá số đong lường. Những điều quý giá mà các ngài thâu góp được trong Chánh pháp nhiều như châu báu mà
_________________
(1) Cam-lộ (Sanskrit: Amrta) phiên âm là A-mật-rí-đa, chất nước ngon ngọt, uống vào được sống lâu, rưới trên mình thì trừ hết bệnh tật.

* Trang 11 *
device

một vị hải đạo sư (1) tìm được ở biển cả. Các ngài thấu rõ nghĩa lý sâu xa huyền diệu của các pháp. Các ngài biết rành chỗ đã qua và chỗ sẽ đến của chúng sinh, cùng mọi manh động trong tâm ý của họ. Các ngài gần tới mức huệ tự tại của Phật mà không ai sánh bằng. Huệ ấy bao gồm những đức như: mười trí lực, lòng chẳng sợ, mười tám món công đức vượt trên hàng nhị thừa. (2) Các ngài đã
__________________
(1) Hải đạo sư: vị chủ thuyền cầm đầu một số người đi ra biển cả để tìm châu báu, ngọc quý.
(2) Tức là Thập bát bất cộng pháp ( – Sanskrit: aṣṭādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ): Mười tám pháp bất cộng, vượt qua cao hơn các quả vị Tiểu thừa và Duyên giác thừa, duy chỉ có hàng Bồ tát Đại thừa mới đạt đến, cũng gọi là Thập bát bất cụ pháp, bao gồm:
1. Thân vô thất (Thân không lỗi)
2. Khẩu vô thất ( Miệng không lỗi)
3. Niệm vô thất (Ý tưởng không lỗi )
4. Vô dị tưởng (không có ý tưởng xen tạp)
5. Vô bất định tâm (không có tâm xao động)
6. Vô bất tri dĩ xả (chẳng phải không biết chuyện đã bỏ)
7. Dục vô diệt (Sự dục không diệt)
8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn không diệt)
9. Niệm vô diệt (Ý tưởng không diệt )
10. Huệ vô diệt (Trí tuệ không diệt )
11. Giải vô diệt (Giải thoát không diệt )
12. Giải thoát tri kiến vô diệt ( Giải thoát tri kiến không diệt )
13. Nhất thiết không nghiệp tùy trí huệ hành (hết thảy nghiệp của thân tùy theo trí huệ mà thi hành)
14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (hết thảy nghiệp của miệng tùy theo trí huệ mà thi hành)
15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (hết thảy nghiệp của ý tùy theo trí huệ mà thi hành).

* Trang 12 *
device

 đóng kín hết các đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhưng tự mình thị hiện sinh sống trong năm đường: cõi trời, cõi người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Làm bậc đại y vương, các ngài trị lành các thứ bệnh. Tùy bệnh mà cho thuốc, các ngài khiến người ta được lành mạnh.
 
 Các ngài đều thành tựu vô lượng công đức. Vô lượng cõi Phật đều được các ngài làm cho trang nghiêm, thanh tịnh. Những ai nghe biết đến các ngài, thảy đều được lợi ích. Những việc mà các ngài làm đều mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Tất cả những công đức như vậy, các ngài đều có đầy đủ.
 Danh hiệu của các ngài là: Bồ Tát Đẳng Quan, Bồ Tát Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Đẳng Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Định Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tướng, Bồ Tát Quang Tướng, Bồ Tát Quang Nghiêm, Bồ Tát Đại Nghiêm, Bồ Tát Bảo Tích, Bồ Tát Biện Tích, Bồ Tát Bảo Thủ, Bồ Tát Bảo Ấn Thủ, Bồ Tát Thường Cử Thủ,
_________________________
16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ biết đời quá khứ không ngại.)
17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ biết đời vị lai không ngại)
18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ biết đời hiện tại không ngại.)

* Trang 13 *
device

Bồ Tát Thường Hạ Thủ, Bồ Tát Thường Thảm, Bồ Tát Hỷ Căn, Bồ Tát Hỷ Vương, Bồ Tát Biện Âm, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Chấp Bảo Cự, Bồ Tát Bảo Dũng, Bồ Tát Bảo Kiến, Bồ Tát Đế Võng, Bồ Tát Minh Võng, Bồ Tát Vô Duyên Quan, Bồ Tát Huệ Tích, Bồ Tát Bảo Thắng, Bồ Tát Thiên Vương, Bồ Tát Hoại Ma, Bồ Tát Điện Đức, Bồ Tát Tự Tại Vương, Bồ Tát Công Đức Tướng Nghiêm, Bồ Tát Sư Tử Hống, Bồ Tát Lôi Âm, Bồ Tát Sơn Tướng Kích Âm, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Bạch Hương Tượng, Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bất Hưu Tức, Bồ Tát Diệu Sinh, Bồ Tát Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đắc Đại Thế, Bồ Tát Phạm Võng, Bồ Tát Bảo Trượng, Bồ Tát Vô Thắng, Bồ Tát Nghiêm Độ, Bồ Tát Kim Kế, Bồ Tát Châu Kế, Bồ Tát Di-lặc, Bồ Tát Pháp vương tử Văn-thù Sư-lỵ... Những Bồ Tát như vậy là ba mươi hai ngàn vị.
 Lại có mười nghìn Phạm Thiên Vương, như Phạm vương Thi Khí..., từ các cõi Tứ thiên hạ (1) khác đến
______________________
(1) Tứ thiên hạ: Một thế giới có bốn châu, gọi là một Tứ thiên hạ. Cũng gọi là Tứ châu. Bốn cõi ở bốn phương của thế giới này:
 1. Phất-bà-đề tại phương Đông.
2. Cồ-da-ni tại phương Tây.
3. Diêm-phù-đề tại phương Nam.
4. Câu-lư-châu tại phương Bắc.

* Trang 14 *
device

nơi Phật ngự để nghe pháp. Lại có một mười hai ngàn vị thiên đế, cũng từ các cõi Tứ thiên hạ khác đến dự pháp hội. Cũng có cả chư thiên oai đức lớn, long thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, thảy đều đến ngồi nơi pháp hội. Chư tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di (1) cũng về ngồi trong pháp hội.
 Lúc ấy, Phật vì đại chúng vô lượng trăm ngàn người cung kính bao quanh mà thuyết pháp, như núi chúa Tu-di hiện rõ trên biển cả, Ngài ngồi yên trên tòa sư tử nghiêm sức bởi các báu, che mờ tất cả đại chúng đến dự pháp hội.
 Lúc bấy giờ, trong thành Tỳ-da-ly có một chàng con nhà trưởng giả, tên là Bảo Tích, cùng năm trăm chàng con nhà trưởng giả khác, thảy đều cầm những lọng bảy báu, đến nơi Phật ngự, đầu và mặt làm lễ sát chân Phật. Mỗi chàng đều đem lọng của mình mà cúng dường Phật. Oai thần của Phật khiến cho các lọng báu hiệp thành một cái
___________________
Cõi Diêm-phù-đề này là một cõi trong Bốn cõi thiên hạ.
(1) Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di: Còn gọi là Tứ bộ chúng, tức là bốn hàng đệ tử của Phật. Tỳ-kheo là nam giới xuất gia, thọ đủ giới. Tỳ-kheo ni là nữ giới xuất gia, thọ đủ giới. Ưu-bà-tắc hay cư sĩ nam là nam giới tu tại gia. Ưu-bà-di hay cư sĩ nữ là nữ giới tu tại gia.

* Trang 15 *
device

lọng duy nhất, che trùm cả thế giới tam thiên đại thiên. (1) Trọn tướng rộng dài của thế giới này đều hiện đủ trong cái lọng ấy. Lại nữa, các núi Tu-di, Tuyết sơn, Mục-chân-lân-đà, Ma-ha Mục-chân-lân-đà, Hương sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi, cùng với biển cả, sông cái, sông con, rạch, suối, nguồn, cùng mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, thiên cung, long cung, cung điện của các tôn thần thuộc thế giới tam thiên đại thiên này thảy đều hiện ra trong lọng báu ấy. Lại nữa, chư Phật mười phương, chư Phật đang thuyết pháp cũng hiện ra trong lọng báu ấy.
 Lúc ấy, tất cả đại chúng thấy sức thần của Phật, đều khen là chưa từng có. Cùng nhau chắp tay lễ Phật, chiêm ngưỡng vẻ mặt của Phật, mắt chẳng xao lãng. Chàng Bảo Tích, con nhà trưởng giả, liền đối trước Phật tụng kệ rằng:
 
Mắt trong, dài, rộng như sen xanh,
 Lòng sạch qua khỏi các thiền định,
 Tịnh nghiệp chứa lâu, lường không xiết,
 Dùng tịch dắt chúng, đáng đảnh lễ!
______________________
(1) Một ngàn thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới.

* Trang 16 *
device

Đã thấy Đại thánh dùng Thần biến,
 Hiện vô lượng cõi khắp mười phương,
 Chư Phật thuyết pháp các cõi ấy,
 Ở đây ai nấy đều nghe thấy.
 Pháp lực Pháp vương vượt quần sinh,
 Thường đem của pháp thí tất cả,
 Có tài phân biệt tướng các pháp,
 Đối Đệ nhất nghĩa, chẳng động chuyển.
 Đối với các pháp được tự tại,
 Cho nên đảnh lễ Pháp vương này.
 Nói pháp chẳng có cũng chẳng không,
 Các pháp do nhân duyên mà sinh.
 Không ta, không tạo, không người thọ,
 Nghiệp lành, nghiệp dữ cũng chẳng mất.
 Trước dẹp ma tại cội Bồ-đề,
 Đắc Diệt cam-lộ, thành giác đạo.
 Đã không tâm ý, không thọ hành,
 Mà tồi phục hết các ngoại đạo.
 Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên,(1)
____________________
(1) Ba chuyển pháp luân ở đại thiên (Tam Chuyển pháp luân ư đại thiên): Đức Phật Thích –ca thành đạo rồi, ngài vào Vườn Lộc gần thành Ba-la-nại thuyết pháp lần đầu, gọi là Chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp), thuyết pháp Tứ diệu đế bằng ba cách: Thị, Khuyến, Chứng, gọi là Tam chuyển pháp luân.
 1. Thị chuyển: Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. Ngài chỉ rõ bốn tướng của Bốn đế.
 2. Khuyến chuyển: Nên biết lẽ khổ, nên dứt lẽ tập (nguyên

* Trang 17 *
device

 Pháp ấy xưa nay thường trong sạch:
 Trời, người đắc đạo, đó là chứng,
 Tam bảo lúc ấy hiện thế gian.
 Đem diệu pháp ấy cứu quần sinh,
 Thọ rồi, chẳng thối, thường tịch nhiên,
 Đại y vương (1) độ lão, bệnh, tử,
 Nên lễ Pháp hải đức vô biên. (2)
 Chê, khen chẳng động, như Tu-di,
 Người lành, kẻ dữ, Phật thương đều,
 Lòng hành bình đẳng như hư không,
 Ai nghe Nhân bảo (3) chẳng kính vâng?
 Nay hiến Thế Tôn lọng báu này,
 Cõi thế giới ta hiện trong ấy:
 Cung điện các vị trời, rồng, thần,
 Càn-thát-bà với cung dạ-xoa,
 Mọi vật thế gian thấy trong đó.
_______________________
Nhân của khổ), nên chứng lẽ diệt, nên tu lẽ đạo. Tức là Phật khuyên tu hành Bốn đế.
  3. Chứng chuyển: Ta đã biết lẽ khổ, ta đã dứt lẽ tập, ta đã chứng lẽ diệt, ta đã tu lẽ đạo. Phật xác nhận rằng ngài thành đạo nhờ hiểu thấu và thực hành Bốn đế.
(1) Đại y vương: Vua thầy thước lớn, tiếng để tôn xưng Phật.
(2) Pháp hải đại đức vô biên: Biển pháp đức hạnh không bờ bến, tiếng để tôn xưng Phật.
(3) Nhân bảo: Ngôi báu, của quý trong loài người, tiếng để tôn xưng Phật.

* Trang 18 *
device

 Thập lực (1) phương tiện biến hóa ấy,
____________________
(1) Thập lực (tiếng hoa), Sanskrit: daśabala, Pàli: dasabal): Đức Phật có đủ mười Trí lực, nên xưng ngài là Thập lực. Mười Trí lực của Phật là:
  1. Tri thị xứ phi xứ trí lực (, Sanskrit: sthānāsthānajñāna, Pàli: ṭhānāṭhāna-ñāna): Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp.
  2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (, Sanskrit: karmavipākajñāna, Pàli: kammavipāka-ñāna): Biết rõ luật nhân quả (hay nghiệp quả), tức là nhân nào tạo thành quả nào.
  3. Tri nhất thiết sở dạo trí lực (, Sanskrit: sarva-tragāminīpratipaj-jñāna, Pàli: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa) : Biết rõ các nguyên nhân dẫn đến tái sinh về các cảnh giới khác nhau.
  4. Tri chủng chủng giới trí lực (tiếng hoa, Sanskrit: anekadhātu-nānādhātujñāna, Pàli:: anekadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố hình thành.
  5. Tri chủng chủng giải trí lực (,Sanskrit: nānā-dhimukti-jñāna, Pàli: nānādhimuttikatāñāṇa): Biết rõ cá tính của mỗi chúng sinh.
  6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (, Sanskrit: indriyapārapara-jñāna, Pàli: indriyaparopariyatta-ñāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mỗi chúng sinh.
  7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (, Sanskrit: sarvadhyāna-vimokṣa-ñāna, Pàli: jhāna-vimokkha-ñāṇa): Biết rõ tất cả các phương thức thiền định.
  8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (, Sanskrit: pūrvani-vāsānusmṛti-jñāna, Pàli: pubbennivāsānussati-ñāṇa) Biết rõ các tiền kiếp của chính mình.
  9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (, Sanskrit: cyutyupapādajñāna, Pàli: cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự hoại diệt và tái sinh của chúng sinh.

* Trang 19 *
device

Thấy việc ít có, chúng khen Phật.
 Nay ta đảnh lễ Tam giới tôn,
 Đại thánh Pháp vương: chỗ chúng theo,
 Tâm tịnh nhìn Phật, ai chẳng vui?
 Thảy thấy Thế Tôn trước mặt mình,
 Thần lực của Ngài chẳng ai bằng.
 Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng,
 Chúng sinh loài nào cũng hiểu được,
 
 Họ bảo: Thế Tôn nói tiếng mình,
 Như vậy, thần lực chẳng ai bằng.
 Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng,
 Chúng sinh ai nấy tùy chỗ hiểu,
 
 Thảy được thọ, hành, thâu lợi ích,
 Như vậy, thần lực chẳng ai bằng.
 Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng,
 Kẻ nghe sợ sệt hoặc vui vẻ,
 Hoặc sinh chán lìa, hoặc dứt nghi,
 Như vậy, Thần lực chẳng ai bằng.
 _______________
  10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (, Sanskrit: āśrava-kṣayajñāna, Pàli: āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các pháp ô nhiễm (Sanskrit: āśrava) sẽ chấm dứt như thế nào.
Các trí lực thứ 8, thứ 9 và thứ 10 cũng chính là Tam minh của Phật.

* Trang 20 *
device

 Đảnh lễ Thập lực đại tinh tấn.
 Đảnh lễ Bậc đắc không sợ sệt.
 Đảnh lễ Bậc trụ Bất cộng pháp.
 Đảnh lễ Thầy lớn dắt tất cả.
 
 Đảnh lễ Bậc dứt các trói buộc.
 Đảnh lễ Bậc tới bờ bên kia.
 Đảnh lễ Bậc độ các thế gian.
 Đảnh lễ Bậc lìa đường sinh tử.
 Biết rõ tướng lai khứ chúng sinh,
 Hiểu rành các pháp được giải thoát,
 
 Chẳng nhiễm thế gian, như hoa sen,
 Thường khéo vào nơi hạnh không tịch,
 Thấu các tướng pháp, không trở ngại,
 Đảnh lễ Như Không, chẳng dựa đâu.
 
 
 Lúc ấy, chàng Bảo Tích tụng những câu kệ ấy rồi, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, (1) nay muốn nghe việc được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ Tát.”
_____________________
(1) Phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề: phát nguyện thành Phật, nguyện tu tập hạnh Bồ Tát, hồi hướng về quả vị Phật.

* Trang 21 *
device

 Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ Tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”
 Lúc ấy, Bảo Tích và năm trăm chàng con nhà trưởng giả vâng lời dạy ngồi nghe.
 
 Phật dạy Bảo Tích rằng: “Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát. Tại sao vậy? Bồ Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ Tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ Tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh. Tỷ như người ta muốn tạo lập cung điện nhà cửa trên đất trống thì tùy ý mà tạo lập, không chi trở ngại. Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Bồ Tát cũng vậy, vì muốn giúp cho chúng sinh được thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy cõi Phật. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.
 
 Bảo Tích! Nên biết rằng: Tâm ngay thẳng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chẳng nịnh bợ sinh về

* Trang 22 *
device

nước ấy. Tâm sâu vững là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh đầy đủ công đức sinh về nước ấy. Tâm bồ-đề là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh Đại thừa sinh về nước ấy. Bố thí là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có thể bỏ tất cả sinh về nước ấy. Trì giới là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh làm mười việc lành (1) tròn nguyện sinh về nước ấy.
_____________________
(1) Thập thiện đạo hay Thập thiện là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3 việc), miệng (4 việc) và ý (3 việc). Bao gồm:
  1. Bất sát sinh (, Sanskrit: pāṇāṭipātā paṭivirati): Không sát hại, phải tha thứ, phóng sinh.
  2. Bất thâu đạo (, Sanskrit: adattādānādvirati ): Không trộm cắp, phải thường làm việc bố thí.
  3. Bất tà dâm (, Sanskrit: kāmamithyācārādvirati): Không tà dâm, phải chung thủy trong cuộc sống một vợ một chồng.
  4. Bất vọng ngữ (, Sanskrit: mṛṣāvādātvirati): Không nói xằng, nói bậy, phải nói lời chân thật.
  5. Bất lưỡng thiệt (, Sanskrit : paisunyātvirati ): Không nói hai lưỡi, nói theo cách đòn xóc hai đầu, phải nói lời cương trực, chân chánh.
  6. Bất ác khẩu (, Sanskrit: pāruṣyātprativirati): Không nói xấu người, phải nói lời hòa giải, hàn gắn.
  7. Bất ỷ ngữ (, Sanskrit: saṃbinnapralāpātprativirati ): Không dùng lời thêu dệt không đâu, phải nói lời có ích, có nghĩa lý.

* Trang 23 *
device

Nhẫn nhục là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sinh được trang nghiêm bởi ba mươi hai tướng tốt sinh về nước ấy. Tinh tấn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh siêng tu tất cả công đức sinh về nước ấy. Thiền định là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh giữ tâm chẳng loạn sinh về nước ấy. Trí huệ là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chánh định sinh về nước ấy.
 
 Bốn tâm vô lượng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh thành tựu các đức từ, bi, hỷ, xả sinh về nước ấy. Bốn pháp thâu nhiếp (1) là cõi nước thanh tịnh của
_________________
   8. Bất tham dục (, Sanskrit: abhidhyāyāḥprativirati): Không tham lam, phải hiểu rằng mọi vật là chẳng thật, bất tịnh, vô thường.
  9. Bất sân khuể (, Sanskrit: vyāpādātprativirati): Không giận dữ, phải từ bi nhẫn nhục.
  10. Bất tà kiến (, Sanskrit: mithyādṛṣṭi-prativirati): Không ôm ấm những ý niệm, kiến giải sai lầm, phải sáng suốt chánh kiến.
(1) Bốn pháp thâu nhiếp (Tứ nhiếp pháp - , Sanskrit: catvāri-saṃgrahavastūni ):bốn phương cách mà một vị Bồ Tát dùng để nhiếp phục chúng sinh:
  1. Bố thí nhiếp (, Sanskrit: dāna), nghĩa là dùng việc bố thí để nhiếp nhục người.

* Trang 24 *
device

Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh thoát khỏi chỗ nắm giữ sinh về nước ấy. Phương tiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh đối với tất cả các pháp tùy nghi vô ngại sinh về nước ấy. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (1) là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có Bốn
___________________
  2. Ái ngữ nhiếp (, Sanskrit: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để nhiếp phục người.
  3. Lợi hành nhiếp (, Sanskrit: arthacaryā), nghĩa là dùng hạy động vị tha, có lợi cho người khác để nhiếp phục họ.
  4. Đồng nhiếp sự (, Sanskrit: samānārthatā), nghĩa là củng hòa nhập, chung cùng với chúng sinh, người thiện cũng như người ác, để hướng họ đến bờ giác ngộ.
(1) Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: ( Tam thập thất trợ đạo phẩm, Sanskrit: saptatriṃṣaḍbodhipākṣika-dharma) Gồm cả thảy 37 pháp, chia làm 7 nhóm:
  1. Bốn niệm xứ (, Tứ niệm xứ, Sanskrit: catuḥsmṛtyu-pasthāna).
  2. Bốn tinh tiến (, Tứ chính cẩn,Sanskrit: samyak-prahā-nāni).
  3. Bốn Như ý túc (,Tứ như ý túc Sanskrit: ṛddhipāda).
  4. Năm căn (, Ngũ căn, Sanskrit: pañcendriya).
  5. Năm lực (, Ngũ lực, Sanskrit: pañcabala).
  6. Bảy giác chi (, Thất giác chi, Sanskrit: sapta-bodhyaṅga)
  7. Bát chính đạo (, Sanskrit: aṣṭāṅgika-mārga).
Tổng cộng là 37 pháp, sẽ được lần lượt trình bày chi tiết trong các chú giải tiếp theo đây.

* Trang 25 *
device

niệm xứ, Bốn chánh cần, (1) Bốn thần túc, (2) Năm căn, (3) Năm sức, (4) Bảy thánh giác, (5) Tám chánh đạo (6) sinh về nước ấy. Tâm hồi hướng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, ngài được quốc độ đầy đủ tất cả công đức. Thuyết trừ tám nạn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không có Ba ác, Tám nạn. (7) Tự mình giữ giới hạnh, chẳng chê kẻ khác lỗi lầm là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không nghe đến chuyện phạm cấm. Mười điều thiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, mạng sống không ngắn ngủi, chết yểu, những chúng sinh giàu có, giới hạnh trong sạch, nói lẽ thành thật, thường dùng lời êm ái, quyến thuộc chẳng chia lìa, khéo
____________________
(1) Tứ chánh cần (, Sanskrit: samyak-prahāṇāni, Pāli: sammā-padhāṇa): bốn phương pháp tinh tấn chuyên cần để loại trừ các pháp bất thiện. Bốn pháp tinh cần ấy là:
  1. Tinh tấn trong việc ngăn ngừa, tránh làm các điều ác từ lúc còn chưa sinh khởi (Sanskrit: anutpannapāpakākuśaladharma).
  2.Tinh tấn trong việc từ bỏ, vượt qua những điều ác đã sinh khởi (Sanskrit: utpanna-pāpakākuśala-dharma).
  3. Tinh tấn phát triển các điều thiện đã có (Sanskrit: utpannakuśala-dharma).
  4. Tinh tấn làm cho các điều thiện phát sinh (Sanskrit: anutpannakuśala-dharma
Bốn pháp tinh cần này cũng chính là Chánh tinh tấn trong Bất chánh đạo.

* Trang 26 *
device

_______________________________
(2) Bốn thần túc (Tứ thần túc), hay còn được gọi là Tứ như ý túc (, Sanskrit: catvāra ṛddhipādāḥ). Bao gồm:
  1. Dục như ý túc (Sanskrit: chanda): tập trung vào các ý chí mạnh mẽ.
  2. Tinh tấn như ý túc (Sanskrit: vīrya): tập trung vào nghị lực.
  3. Tâm như ý túc (Sanskrit: citta): sự chú tâm.
  4. Trạch pháp như ý túc (Sanskrit: mīmāṃsā): chú tâm vào sự tra tìm.
(3) Năm căn (Ngũ căn, Sanskrit: pañca-indriya): Năm pháp căn bản làm nảy sinh các thiện pháp khác, nên còn gọi là Năm căn lành:
   1. Tín căn : sự tin tưởng vào Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và Bốn chân lý (Tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo).
   2. Tinh tấn căn, hay Cần căn, là sự dũng mãnh tinh tấn trong việc tu tập các thiện pháp.
   3. Niệm căn: lòng nghĩ nhớ, niệm tưởng đến chánh pháp.
   4. Định căn, nhiếp giữ tâm định mà không mất.
   5. Huệ căn, trí huệ suy xét, hiểu rõ được chân lý.
(4) Năm sức (Ngũ lực), bao gồm:
   1. Tín lực (, Sanskrit: śraddhābala): có đức tin mạnh mẽ vào Chánh pháp, từ bỏ những sự tin tưởng sai lầm.
  2. Tinh tấn lực (Sanskrit: vīryabala): năng lực tu trì Bốn tinh tấn, hay Bốn Chánh cần (Sanskrit: sayak-prahanani) để diệt trừ bất thiện pháp.
  3. Niệm lực (, Sanskrit: smṛtinala): sức mạnh do sự hành trì Bốn niệm xứ mang lại, có thể phá được các tà niệm.
  4. Định lực ( Sanskrit: samādhibala): sức mạnh do thiền định (Sanskrit: dhyāna) mang lại, loại bỏ được mọi tham ái.
  5. Huệ lực (, Sanskrit: prajñābala): sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến về Tứ diệu đế, phá tan được các lậu hoặc trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
(5) Bảy thánh giác (Thất thánh giác), cũng gọi là Thất giác chi, Thất giác ý (Sanskrit: saptabodhyaṅga): Gồm có:

* Trang 27 *
device

___________________
  1. Trạch pháp ( Sanskrit: dharmapravicaya).
  2. Tinh tấn (, Sanskrit: vīrya)
  3. Hỷ ( Sanskrit: prīti)
  4. Khinh an (Sanskrit : praśabdhi)
  5. Niệm (Sanskrit: smṛti)
  6. Định (, Sanskrit: samādhi)
  7. Xả ( Sanskrit: upekṣā)
(6) Tám chánh đạo (Bát chánh đạo): Con đường mà người học Phật phải noi theo để đạt đến giải thoát, gồm 8 sự chân chánh như sau.
   1. Chánh kiến (Pāli: sammā-diṭṭhi, Sanskrit: samyag-dṛṣṭi): suy nghĩ đúng đắn về Tứ diệu đế và giáo lí Vô ngã.
   2. Chánh tư duy (Pāli: sammā-saṅkappa, Sanskrit: samyak-saṃkalpa): suy nghĩ đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
  3. Chánh ngữ (Pāli: sammā-vācā, Sanskrit: samyag-vāc): nói lời chân chánh, không nói dối, không nói phù phiếm.
  4. Chánh nghiệp (Pāli: sammā-kammanta, Sanskrit: samyak-karmānta): theo các nghiệp lành, chân chánh, tránh phạm vào giới luật.
  5. Chánh mạng (Pāli: sammā-ājīva, Sanskrit: samyag-ājīva): tránh các nghề nghiệp giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện…
  6. Chánh tinh tấn (Pāli: sammā-vāyāma, Sanskrit: samyag-vyāyāma): tinh cần phát triển điều thiện, diệt trừ điều ác. Pháp này bao gồm Tứ chánh cần.
  7. Chánh niệm (Sanskrit: samyag-smṛti, Pāli: sammā-sati): tỉnh giác trên cả ba hình thức thân, miệng và ý.
  8. Chánh định (Pāli: sammā-samādhi, Sanskrit: samya-samādhi): tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian.
(7) Ba ác, Tám nạn (Tam ác, Bát nạn):
    - Ba ác hay ba đường ác là: 1. Địa ngục, 2. Súc sinh, 3. Ngạ quỷ.

* Trang 28 *
device

hòa việc tranh tụng, nói lời có ích, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si sinh về nước ấy.
 Bảo Tích! Như vậy, Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững. Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho
___________________
-Tám nạn (Sanskrit: aṣṭāvakṣanā) là tám sự trở ngại, khó tu hành, cũng gồm cả Ba ác vừa kể. Tám nạn gồm có:
   1. Địa ngục (, Sanskrit: naraka)
   2. Súc sinh (Sanskrit: tiryañc)
   3. Ngạ quỉ (, Sanskrit: preta)
   4. Trường thọ thiên (Sanskrit: dīrghāyurdeva), là cõi trời thuộc sắc giới với thọ mạng kéo dài. Thọ mạng cao cũng là một chứa ngại vì nó làm mê hoặc, khiến dễ quên những nỗi khổ của sinh lão bệnh tử trong luân hồi.
  5. Biên địa (Sanskrit: pratyanatajanapāda), là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học chánh pháp.
  6. Căn khuyết (Sanskrit: indriyavaikalya), không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, điếc…
  7. Tà kiến (Sanskrit: mithyādarśana), những kiến giả sai lệch, bất thiện.
  8. Như Lai bất xuất sinh (Sanskrit: tathāga-tānām anutpāda), nghĩa là sinh ra trong thời gian không có Phật hoặc giáo pháp của Ngài xuất hiện.

* Trang 29 *
device

 chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh.
      Bảo Tích! Cho nên, nếu Bồ Tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh.
      Lúc ấy, nương oai thần của Phật, Xá-lỵ-phất có ý nghĩ này: “Nếu như tâm của Bồ Tát thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh. Như vậy, phải chăng đức Thế Tôn của chúng ta khi còn làm Bồ Tát tâm ý chẳng thanh tịnh nên cõi nước của ngài nay mới chẳng được thanh tịnh như thế này?
      Phật biết được ý nghĩ ấy, bảo Xá-lỵ-phất rằng: “Ý ông thế nào, mặt trời, mặt trăng há chẳng sáng hay sao mà kẻ mù chẳng thấy hai vầng ấy?”
      Xá-lỵ-phất thưa: “Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Đó là lỗi ở kẻ mù, chẳng phải lỗi ở mặt trời, mặt trăng.”
      “Xá-lỵ-phất! Do tội của chúng sinh, nên họ chẳng thấy quốc độ của Như Lai trang nghiêm thanh tịnh, chẳng phải lỗi của Như Lai. Xá-lỵ-phất! Cõi đất

* Trang 30 *
device

này của ta là thanh tịnh, nhưng ông chẳng thấy được như vậy.”
     Lúc ấy, Phạm Vương Loa Kế bảo Xá-lỵ-phất: “Đừng nghĩ như vậy, cho rằng cõi Phật này là không thanh tịnh. Vì sao vậy? Ta thấy rằng cõi Phật của đức Thích-ca Mâu-ni là thanh tịnh như cung trời Tự tại.”
      Xá-lỵ-phất nói: “Tôi chỉ thấy cõi này toàn là gò nổng, hầm hố, gai gốc, sỏi sạn, núi đất, núi đá, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa.”
      Phạm Vương Loa Kế nói: “Lòng của nhân giả có cao thấp, chẳng y theo trí huệ Phật. Vậy nên ông thấy cõi này là không thanh tịnh. Xá-lỵ-phất! Bồ Tát giữ lẽ bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, lòng dạ sâu vững thanh tịnh, y theo trí huệ Phật, ắt thấy cõi Phật này là thanh tịnh.”
      Lúc ấy, Phật dùng ngón chân mà nhấn xuống đất. Tức thời, cõi thế giới tam thiên đại thiên này được nghiêm sức bởi trăm ngàn thứ trân bảo, cũng giống như cõi vô lượng công đức trang nghiêm của đức Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả đại chúng đều khen rằng: “Chưa từng có!” Và ai nấy đều tự thấy mình được ngồi trên tòa sen báu.
      Phật hỏi Xá-lỵ-phất: “Ông nhìn thấy cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh rồi chứ?”

* Trang 31 *
device

   Xá-lỵ-phất bạch rằng: “Dạ, Thế Tôn! Từ trước con chưa từng được thấy, chưa từng được nghe như thế này. Nay, quốc độ nghiêm tịnh của Phật đã hiện.”
   Phật bảo Xá-lỵ-phất: “Cõi Phật độ của ta thường thanh tịnh như vậy. Nhưng vì muốn độ những kẻ thấp kém ở đây, cho nên ta thị hiện ra cõi bất tịnh với mọi thứ nhơ xấu.
   “Ví như chư thiên cùng ăn cơm đựng trong chén bát quý báu, nhưng tùy theo phước đức của họ mà hình sắc của cơm có khác. Xá-lỵ-phất! Cũng vậy đó, nếu lòng người ta tịnh, liền thấy được những công đức trang nghiêm của cõi này.”
    Trong khi Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, năm trăm chàng con nhà trưởng giả do Bảo Tích dẫn dắt đều đắc Vô sinh pháp nhẫn. (1) Tám mươi bốn ngàn người trong hội đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
    Phật lấy ngón chân thần lên, thế giới liền trở lại như cũ. Ba mươi hai ngàn chư thiên và những
___________________
(1)Vô sinh pháp nhẫn: Đức nhẫn nhục của người giác ngộ nhờ nhận ra được rằng: thật không có chúng sinh, thật không có các pháp, các chúng sinh (hữu tình) và các pháp (vô tình) vốn không sinh, không diệt. Nhận thức như vậy, người tu không còn khởi lên sự buồn giận đối với chúng sinh phá hại mình, đối với các pháp ngăn trở mình.

* Trang 32 *
device

người cầu Thanh văn thừa hiểu ra được rằng các pháp hữu vi là vô thường, liền xa trần cảnh, lìa cấu nhiễm, được Pháp nhãn tịnh. (1) Tám ngàn vị tỳ-kheo chẳng thọ nạp các pháp, dứt phiền não rỉ chảy, tâm ý được giải thoát.
_________________
(1) Pháp nhãn tịnh hanh Pháp nhãn ( Sanskrit: dharmacakṣus): mắt pháp thanh tịnh, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu, Người tu Thanh văn thừa, khi dắc pháp nhãn tịnh, thấy được trần thế là giả dối ô trược, bèn chán ngán sự đời mà vui với đạo lý, hướng đến Niết-bàn. Đắc pháp nhãn tịnh cũng tức là đắc quả đầu tiên trong 4 thánh quả của Thanh văn thừa: quả Tu-đà-hoàn. Quả cao nhất là quả A-la-hán.
Pháp nhãn tịnh hay Kiến pháp thanh tịnh cũng là địa vị đầu tiên trong Thập địa của Bồ Tát, gọi là Hoan hỷ địa.

* Trang 33 *
device

* Trang 34 *
device

 
Kinh Duy-Ma-Cật