LOGO VNBET
13. KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN
 
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Câu-lưu-sa, trú xứ Kiếp-masa,1[60b] cùng với đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ, A-nan ở tại chỗ thanh vắng suy nghĩ: “Kìdiệu thay! Hy hữu thay! Ánh sáng của mười hai duyên khởi2 mà đức Thế Tôn đã dạy thật là sâu xa, khó hiểu!
Nhưng theo ý ta quán xét thì như thấy ở trước mắt, cógì mà gọi là sâu xa?”
Rồi thì, A-nan liền rời khỏi tịnh thất đi đến chỗ Phật; đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên, bạch ThếTôn rằng:
“Vừa rồi, ở nơi tịnh thất, con tự thầm nghĩ: ‘Kì diệu thay! Hy hữu thay! Ánh sáng của mười hai duyên khởi mà Đức Thế Tôn đã dạy thật là sâu xa, khó hiểu! Nhưng theo ý ta quán xét thì như thấy ở trước mắt, cógì mà gọi là sâu xa?’”
Bấy giờ, Phật bảo A-nan:
“Thôi, thôi, A-nan! Chớ nói như vậy. Ánh sáng của mười hai duyên khởi rất sâu xa, khó hiểu. Mười hai duyên khởi này khó thấy, khó biết. Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, những người chưa thấy duyên, nếu muốn tư lương, quán sát, phân biệt nghĩa lý của nó, đều bị hoang mê không thể thấy nổi.
________________________
* 佛說長阿含第二分大緣方便經第九
1 Câu-lưu-sa quốc Kiếp-ma-sa trú xứ 拘流沙國劫摩沙住處; Pl.:Kurūsu viharati Kammāsadhammaṃ nāma Kurūnaṃ nigamo,trú giữa những người Kuru, tại một ấp của người Kuru gọi làKammāsadhamma. T 14: Câu-loại quốc, Pháp trị xứ 拘類國法治處.
2 Thập nhị nhân duyên chi quang minh thậm thâm nan giải 十二因緣之光明甚深難解; D15 (ii 55): yāva gambīro cāyaṃ bhante,paṭiccasamuppādo gambīrāvabhāso ca, lý duyên khởi thật sâuxa, sự biểu hiện (ánh sáng) cũng rất sâu xa. T 26(97): Thử duyênkhởi thậm kì; cực thậm thâm; minh diệc thậm thâm. 此緣起甚奇極甚深明亦甚深: duyên khởi này thật kì diệu, rất sâu thẳm; ánhsáng của nó cũng rất sâu thẳm.

* Trang 295 *
device

“Này A-nan, nay Ta nói với ngươi: Già-chết có duyên. Nếu có người hỏi: Cái gì là duyên của già-chết? Hãy trả lời người ấy: Sinh là duyên của già-chết. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của sinh. Hãy trả lời: Hữu làduyên của sinh. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của hữu? Hãy trả lời: Thủ là duyên của hữu. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của thủ? Hãy trả lời: Ái là duyên của thủ. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của ái? Hãy trả lời: Thọlà duyên của ái.3 Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của thọ? Hãy trả lời: Xúc là duyên của thọ. Nếu lại hỏi: Cái gìlà duyên của xúc? Hãy trả lời: Sáu xứ là duyên của xúc. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của sáu xứ? Hãy trảlời: Danh sắc là duyên của sáu xứ. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của danh sắc? Hãy trả lời: Thức là duyên của danh sắc. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của thức? Hãy trả lời: Hành là duyên của thức.4 Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của hành? Hãy trả lời: Vô minh5 là duyên của hành.
“Này A-nan, như vậy duyên vô minh có hành, duyên hành có thức, duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc có sáu xứ, duyên sáu xứ có xúc, duyên xúc có thọ, duyên thọ có ái, duyên ái có thủ, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sinh, duyên sinh có già, chết, lo, rầu, khổ, não, tập thành một khối đại hoạn. Đó là duyên của khối đại khổ uẩn vậy.6
“Này A-nan, duyên sinh có già-chết: điều này có ýnghĩa gì? Giả sử hết thảy chúng sinh không có sinh,7thì có già-chết không?”8
“A-nan đáp: “Không.”
_____________________
3 T 14: lần ngược từ lão tử lên đến ái thì trở lui: ái cầu 愛求nhân duyên thọ 受(thủ); thọ (thủ) nhân duyên hữu 有; hữu nhân duyên sinh 生; sinh nhân duyên lão tử 老死.
4 D15 ibid.: kiṃpaccayā viññāṇan’ti iti ce vadeyya, nāmarūpaccayāviññāṇan’ti iccassa vacanīyaṃ iti kho, ānanda, nāmarūpapaccayāviññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmaūpaṃ: duyên gì có thức? Duyêndanh sắc có thức. “Duyên danh sắc có thức, duyên thức có danhsắc.” Cf. D 14. Lưu ý, trong các bản Pàli dẫn trên, không đề cậpđến hai chi cuối là hành (saṅkhāra) và vô minh (avijja). Nhưng,bản Hán, trong phần quảng diễn sau, cũng chỉ truy lên đến “thứcduyên danh sắc và danh sắc duyên thức”, không lên đến hành và vô minh.
5 Nguyên Hán: si 痴.
6 D 25 ibid.: evam etassa kevalassa dukkhakkhandassa samudayo hoti, đó là sự tập khởi của khối đau khổ toàn diện này.
7 T 26(97): “giả sử không có sinh; cá…, chim…, trời..., người…, không có cái gì, không có bất cứ nơi đâu có sinh…” Cf. T 14.
8 D15, ibid.: sabbaso jātiyā asati jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṃpaññāyethā”ti? “Nếu hoàn toàn không có sự sinh, hay sinh đã diệt,thì có thể có khái niệm về già-chết không?”

* Trang 296 *
device

“Vậy nên, A-nan, Ta do lẽ đó, biết già-chết do sinh, duyên sinh có già-chết, nghĩa của Ta nói thế đó.9
“Lại nữa, này A-nan, duyên hữu mà có sinh là nghĩa thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu, thế thì có sinh không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết sinh do hữu, duyên hữu có sinh. Điều mà Ta nói, ý nghĩa là ở đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên thủ mà có hữu là nghĩa thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục thủ, kiến thủ, giới thủ, ngã thủ, thế thì có hữu không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết hữu do thủ, duyên thủcó hữu. Nghĩa của Ta nói tại đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên ái mà có thủ là nghĩa thếnào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục ái, hữu ái, vô hữu ái,10 thế thì có thủ không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết thủ do ái, duyên ái cóthủ. Nghĩa của Ta nói tại đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên thọ mà có ái, là nghĩa thếnào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có cảm thọlạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ,11 thế
thì có ái không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết ái do thọ, duyên thọ cóái. Nghĩa của Ta nói tại đó.
“A-nan, nên biết, nhân tham ái mà có tầm cầu, nhân tầm cầu mà đắc lợi,
________________________
9 Pāli, ibid.: eseva hetu etaṃ nidānaṃ esa samudayo esa paccayo jarāmaraṇassa, yadidaṃ jāti, như vậy là nhân, nhân do, tập khởi,duyên của già-chết, đó là sinh. T 26(97): đó là nhân 因, là tập習,là bản 本, là duyên 緣của già-chết, tức là sinh.
10 Pāli, ibid.: sáu ái thân, sắc ái (rūpataṇhā), cho đến pháp ái (dhammataṇhā).
11 Pāli, ibid.: sáu thọ thân: thọ sinh bởi nhãn xúc (cakkhusamphassajāvedanā), cho đến thọ sinh bởi ý xúc (maTsamphassajā vedanā).

* Trang 297 *
device

nhân đắc lợi mà thọ dụng, nhân thọdụng mà tham muốn, nhân tham muốn mà tham chấp, nhân tham chấp mà tật đố, nhân tật đố mà chấp thủ, nhân chấp thủ màphòng hộ.12 Này A-nan, do phòng hộ nên mới có dao gậy, tranh cãi, gây vô số điều ác. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Này A-nan, nghĩa đó thếnào? Giả sử hết thảy chúng sinh không phòng hộ thếthì có dao gậy, tranh cãi, gây ra vô số ác không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết dao gậy, tranh cãi là do tâm phòng hộ, nhân bởi tâm phòng hộ mà sinh ra. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại này A-nan, nhân chấp thủmà có phòng hộ13 là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không tâm chấp thủ thế thì có phòng hộ không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết có phòng hộ là do chấp thủ; nhân chấp thủ mà có sự phòng hộ. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại nữa, này A-nan, nhân tật đố có chấp
thủ là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không có tâm tật đố thế thì có chấp thủ không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết chấp thủ do tật đố; nhân tật đố mà có chấp thủ. Nghĩa của ta nói là ở đó. Lại nữa, này A-nan, nhân tham chấp mà có tật đố là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không tham chấp thế thìcó tật đố không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết tật đố do tham chấp; nhân tham chấp mà có tật đố. Nghĩa của Ta nói là ởđó. Lại nữa, này A-nan, nhân ham muốn mà có tham chấp là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không ham muốn thế thì có đắm trước không?”
Đáp: “Không.”
________________________
12 Chuỗi quan hệ của chín ái bản (P. taṇhāmūla), Hán: ái 愛, cầu 求, lợi 利, dụng 用, dục 欲, trước 著, tật 嫉, thủ 守, hộ 護. Pl.: taṇhā (khát ái), pariyesanā (tầm cầu), lābho (thủ đắc), vinicchayo(quyết định, sử dụng), chandarāgo (ham muốn), ajjhosānaṃ(tham chấp), pariggaho (giữ chặt), macchariyaṃ (keo kiệt), ārakkho (canh giữ). Cf. T 26 (97): ái 愛, cầu 求, lợi 利, phân 分,nhiễm dục 染欲, trước 著, xan 慳, gia 家, thủ 守. T 14: ái 愛, cầu 求, lợi 利, kế 計, lạc dục 樂欲, vãng ái 往愛, xan 慳, hữu gia 有家, thủ 守. Xem thêm các kinh Chúng tập, Thập thượng, Tăng nhất, mục pháp số 9.
13 Pāli, ibid.: nhân keo kiệt mà có canh giữ (macchariyaṃ paṭicca ārakkho’ti.).

* Trang 298 *
device

“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết tham chấp do ham muốn; nhân ham muốn mà có tham chấp. Nghĩa của Ta nói làở đó. Lại nữa, này A-nan, nhân thọ dụng mà có ham muốn là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không thọdụng thế thì có ham muốn không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết ham muốn do thọ dụng; nhân thọ dụng mà có ham muốn. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại nữa, này A-nan, nhân đắc lợi mà có thọ
dụng là nghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không đắc lợi thế thì có thọ dụng không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết thọ dụng do đắc lợi; nhân đắc lợi mà có thọ dụng. Nghĩa của Ta nói là ởđó. Lại nữa, này A-nan, nhân tầm cầu mà có đắc lợi lànghĩa thế nào? Giả sử chúng sinh không tầm cầu thếthì có đắc lợi không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết đắc lợi do tầm cầu; nhân tầm cầu mà có đắc lợi. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Lại nữa, này A-nan, nhân tham ái mà có tầm cầu là nghĩa
thế nào? Giả sử chúng sinh không tham ái thế thì cótầm cầu không?
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết tầm cầu do tham ái; nhân tham ái mà có tầm cầu. Điều mà Ta nói, ý nghĩa là ở đó.”
Lại bảo A-nan:
“Nhân tham ái mà có tầm cầu, cho đến có thủ hộ. Thọcũng vậy. Nhân thọ có tầm cầu, cho đến thủ hộ.”
Phật lại bảo A-nan:
“Duyên xúc mà có thọ, là nghĩa thế nào? Giả sử không có con mắt, không có sắc, không có thức con mắt, thếthì có xúc không?”
Đáp: “Không.”
“Nếu không có tai, không có tiếng, không có thức của tai; không có mũi, không có hương, không có thức của mũi; không có lưỡi, không có vị, không có thức của lưỡi; không có thân, xúc, thức của thân; không cóý, pháp, ý thức, thế thì có xúc không?”
Đáp: “Không.”

* Trang 299 *
device

“Này A-nan, giả sử chúng sinh không [61b] có xúc,thế thì có thọ không?”
Đáp: “Không.”
“A-nan, Ta do nghĩa đó, biết thọ do xúc; duyên xúc mà có thọ. Điều mà Ta nói, ý nghĩa là ở đó.
“Này A-nan, duyên danh sắc mà có xúc, là nghĩa thếnào? Giả sử chúng sinh không có danh sắc, thế thì cótâm xúc14 không?”
Đáp: “Không.”
“Nếu chúng sinh không có hình sắc, tướng mạo, thếthì có thân xúc không?”15
Đáp: “Không.”
“Nếu không có danh sắc, thế thì có xúc không?”
Đáp: “Không.”
“A-nan, Ta do lẽ đó, biết xúc do danh sắc; duyên danh sắc mà có xúc. Điều mà Ta nói, ý nghĩa là ở đó.
“Này A-nan, duyên thức mà có danh sắc, là nghĩa thếnào? Nếu thức không nhập thai mẹ thì chừng có danh sắc không?”
Đáp: “Không.”
___________________________
14 Hán: tâm xúc 心觸. T 14: tâm cánh 心更. Cf. 15 (ii 52).: yehi …ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi yehi uddesehi nāmakāyassa paññatti hoti, tesu (…) asati api nu kho rūpakāye adhivacana- samphasso paññāyethā ti? “Với những hình thái, dấu hiệu, hình tướng,biểu hiện, mà danh thân (danh trong danh sắc) được khái niệm,nếu những hình thái ấy không tồn tại, thì có thể có khái niệm vềxúc chạm tinh thần nơi sắc thân (sắc trong danh sắc) được không?” adhivacana-samphassa: tăng ngữ xúc, danh mục xúc, sự xúcchạm do bởi các yếu tố tinh thần hay tâm lý (danh); tương đối vớipaṭigha-samphassa, hữu đối xúc.
15 Hán: thân xúc 身觸. Cf. D15, ibid. : yehi … ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi yehi uddesehi rūpakāyassa paññatti hoti, tesu (…) asati api nu kho nāmakāye paṭighasamphasso paññāyethā ti? “Với những hình thái, những dấu hiệu, những hình tướng, những biểu hiện mà có khái niệm về sắc thân; nếu những cái ấy không tồntại, thì có thể có khái niệm về xúc chạm bởi vật chất (sắc) nơi danhthân được không? paṭigha-samphassa: hữu đối xúc, xúc chạm dođối ngại, tức sự tiếp xúc bởi vật chất, trái với adhivacana-samphassa, sự tiếp xúc bởi tinh thần.

* Trang 300 *
device

“Nếu thức nhập thai mẹ rồi không sinh ra,16 thế thì códanh sắc không?”
Đáp: “Không.”
“Nếu thức ra khỏi thai mẹ mà đứa hài nhi bị hỏng thì danh sắc có được tăng trưởng không?”
Đáp: “Không.”
“A-nan, nếu không có thức, thế thì có danh sắc không?”
Đáp: “Không.”
“A-nan, Ta do lẽ đó, biết danh sắc do thức; duyên thức mà có danh sắc. Nghĩa của ta nói là ở đó.
“A-nan, duyên danh sắc có thức là nghĩa thế nào? Nếu thức không trụ nơi danh sắc thời thức không có trú xứ. Nếu thức không có trú xứ, thế thì có sinh, già, bệnh, chết, ưu bi khổ não không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, nếu không danh sắc thì có thức không?”
Đáp: “Không.”
“A-nan, Ta do lẽ đó, biết thức do danh sắc; duyên danh sắc mà có thức. Nghĩa của Ta nói là ở đó. Vậy nên, duyên danh sắc có thức, duyên thức có danh sắc, duyên danh sắc có sáu xứ, duyên sáu xứ có xúc, duyên xúc có thọ, duyên thọ có ái, duyên ái có thủ, duyên thủ có hữu, duyên hữu có sinh, duyên sinh có giàchết, ưu bi khổ não, tập thành một đại khổ uẩn.
“Này A-nan, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ, trong giới hạn ấy là sự thích ứng, trong giới hạn ấy là hạn lượng, trong giới hạn ấy là sự phô diễn, trong giới hạn ấy là trí quán, trong giới hạn ấy là chúng sinh.17
_____________________
16 Hán: nhập thai bất xuất 入胎不出; Pl.: viññāṇaṃ mātukucchismiṃokkamitvā vokkamissatha, thức sau khi vào thai mẹ mà lại đi ra (bịtrụy thai).
17 Hán: tề thị vi ngữ, tề thị vi ứng, tề thị vi hạn, tề thị vi diễn thuyết, tề thị vi trí quán, tề thị vi chúng sinh 齊是為語齊是為應齊是為限齊是為演說齊是為智觀齊是為眾生. D15.: ettātavā adhivacanapatho,ettāvatā niruttipatho, ettāvatā paññattipatho, ettāvatāpaññāvacaraṃ, ettāvatā vaṭṭaṃ vattati itthattaṃ paññāpānāyayadidaṃ nāmarūpaṃ saha viññaṇa aññamaññapaccayatā pavattati, “trong giới hạn ấy là con đường của danh ngôn; … là con đường của ngữ nghĩa, … là con đường của sự giả lập (khái niệm), … là cảnh giới của trí tuệ, là sự lưu chuyển luân hồi để giả lập (có khái niệm) thế giới này, tức là danh sắc cùng với thức xoay

* Trang 301 *
device

“Này A-nan, các Tỳ-kheo nào ở trong pháp này mànhư thật chính quán, với tâm giải thoát vô lậu, Tỳ- kheo ấy được gọi là tuệ giải thoát.18 Tỳ-kheo giải thoát như vậy có thể biết Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết, cũng biết Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, cũng biết Như Lai chẳng phải vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết. Vì sao? Này Anan, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ, trong giới hạn ấy là sự thích ứng, trong giới hạn ấy là hạn lượng, trong giới hạn ấy là sự phô diễn, trong giới hạn ấy [61c] làtrí quán, trong giới hạn ấy là chúng sinh. Sau khi đãhiểu biết tận cùng, Tỳ-kheo với tâm giải thoát vô lậu, không còn có cái thấy biết về tri kiến như vậy.19
“Này A-nan, nói rằng chấp ngã, cho đến mức nào thìđược gọi là ngã kiến?20 Danh sắc và thọ đều được chấp là ngã.
“Có người nói, ‘thọ không phải ngã, ngã là thọ.’ Cóngười nói, ‘thọ không phải ngã, ngã không phải thọ; nhưng thọ pháp là ngã.’ Có người nói, ‘thọ không phải
ngã, ngã không phải thọ, thọ pháp không phải ngã; nhưng thọ là ngã.’21
________________________
chuyển làm điều kiện cho nhau.” Nói tóm, do mối quan hệ thức và danh sắc mà có ngôn ngữ, khái niệm, nhận thức.
18 Tuệ giải thoát (Pl.: paññā-vimutti), chỉ vị A-la-hán do tuệ màđoạn trừ sở tri chướng, chứng đắc giải thoát; khác với vị A-la-hán do định mà đoạn trừ phiền não chướng, chứng đắc giải thoát, vàđược gọi là tâm giải thoát (Pl.: citta-vimutti).
19 Hán: (…) bất tri bất kiến như thị tri kiến 不知不見如是知見. T 26(97): “Tỳ kheo với chính giải thoát như vậy không còn cóquan điểm về Như Lai tồn tại hay không tồn tại…”cf. D15: evaṃvimuttacittaṃ… bhikkhuṃ yo evaṃ vadeyya: ‘hoti tathāgato praṃmaraṇā itissa diṭṭhī ti tadallaṃ (…) tadabhiññāvi m u t t a ṃbhikkhuṃ ‘na jānāti na passati itissa diṭṭhī’ ti, tadakallaṃ: “Ai nói, Tỳ-kheo với tâm giải thoát như vậy mà có quan điểm rằng ‘Như Lai tồn tại sau khi chết (…)’, người ấy sai lầm. (…). Nói rằng, Tỳ-kheo với thắng trí giải thoát như vậy mà ‘không biết, không thấy quan điểm như vậy;’ điều ấy sai lầm.”
20 Pāli: attā samanupassamāno, sự quan sát tự ngã.
21 Hán: (1) thọ thị ngã 受是我; (2) thọ phi ngã, ngã thị thọ 受非我我是受; (3) thọ phi ngã, ngã phi thọ, thọ pháp thị ngã 受非我我非受受法是我; (4) thọ phi ngã, ngã phi thọ, thọ pháp phingã, đản thọ (bản khác: ái) thị ngã 受非我我非受受法非我但受(愛)是我. T 26(97): (1) thọ là ngã; (2) thọ không phải là ngã;nhưng ngã có cảm thọ, vì ngã là pháp có cảm thọ; (3) ngã hoàntoàn không được cảm thọ. Cf. D15 (ii 56): vedanā me attā ti: naheva kho me vedanā attā, appaṭisaṃvedano me attā; na heva khopana vedanā attā, no pi appaṭisaṃvedano ime attā, attā me vediyate,vedanādhammo hi me attā, (1) thọ là tự ngã của tôi; (2) thọ củatôi không phải là tự ngã, tự ngã của tôi không cảm thọ; (3) không phảithọ là tự ngã của tôi, cũng không

* Trang 302 *
device

“Này A-nan, đối với người thấy có ngã, nói rằng ‘thọlà ngã’, hãy nói với người ấy: Như Lai nói có ba thọlà cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ. Trong lúc hiện hữu thọ lạc thì không có thọ khổ, không có thọ không lạc không khổ. Trong khi hiện hữu thọ khổ thì không có thọ lạc, không có thọ không lạc không khổ. Trong lúc hiện hữu thọ không lạc không khổ thì không có thọ lạc, không có thọ khổ. Sở dĩ nhưvậy, A-nan, là vì do duyên là xúc lạc mà phát sinh thọ lạc. Nếu xúc lạc diệt mất, thì thọ lạc cũng diệt mất. Anan, do duyên là xúc khổ mà phát sinh cảm thọ khổ. Nếu xúc khổ diệt mất thì thọ khổ cũng diệt mất. Này A-nan, do duyên là xúc không lạc không khổ mà phát sinh thọ không lạc không khổ. Nếu xúc không lạc không khổ diệt mất thì thọ không lạc không khổ cũng diệt mất. A-nan, ví như hai khúc cây cọ lại với nhau thì lửa bật ra; hai khúc cây rời nhau thì lửa không có. Ở đây cũng vậy, nhân bởi duyên là xúc lạc mà thọ lạc phát sinh; nếu xúc lạc diệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Nhân bởi duyên là xúc khổ mà thọ khổ phát sinh; nếu xúc khổ diệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Nhân bởi duyên là xúc không lạc không khổ mà thọ không lạc không khổ phát sinh; nếu xúc không lạc không khổdiệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Này A-nan, ba thọ đólà hữu vi, vô thường, duyên khởi, là pháp phải tận, phải diệt, là pháp hủ hoại, nó chẳng phải sở hữu của ngã; ngã không phải là sở hữu của nó. Hãy chính quán điều đó một cách như thật với chính trí. A-nan, ai thấy có ngã, cho rằng ‘thọ là ngã’, người ấy sai lầm.
“A-nan, với những ai thấy có ngã, nói rằng, ‘thọkhông phải là ngã; (nhưng) ngã là thọ’, hãy nói với người ấy rằng: Như Lai nói có ba thọ: thọ khổ, thọ lạc, thọ không khổ không lạc. Nếu thọ lạc là ngã; khi thọlạc diệt mất, sẽ có hai ngã. Điều ấy sai lầm. Nếu thọkhổ là ngã; khi thọ khổ diệt mất thì sẽ có hai ngã. Điều ấy sai lầm. Nếu thọ không lạc không khổ là ngã; khi thọ không lạc không khổ diệt, thì sẽ có hai ngã. Điều ấy sai lầm. A-nan, những ai thấy có ngã, nói rằng ‘thọkhông phải là ngã; ngã là thọ’, người ấy sai lầm.22
 “A-nan, với những ai chủ trương có ngã, nói rằng: ‘thọ không phải là
_______________________
phải tự ngã của tôi không có cảm thọ, (nhưng) ngã của tôi được (bị) cảm thọ; (4) pháp cảm thọ là tự ngãcủa tôi. Bốn trường hợp này trả lời câu hỏi: tự ngã được quán sát nhưthế nào? (kittāvatā attānaṃ samanupassamāno samanupassati).
22 Bản Hán và Pāli không thống nhất về trường hợp này.

* Trang 303 *
device

ngã không phải là [62a] thọ, thọ pháp là ngã’,23 hãy nói với người ấy rằng: ‘Hết thảy không thọ, làm sao ông nói được có thọ pháp. Ông là thọ pháp chăng’?24 Đáp: ‘Không phải.’
“Vì vậy, A-nan, những ai chủ trương có ngã, nói rằng: ‘thọ không phải là ngã, ngã không phải là thọ; thọpháp là ngã’, người ấy sai lầm.
 “A-nan, với những ai chủ trương có ngã, nói rằng: ‘thọkhông phải là ngã, thọ pháp không phải là ngã; nhưng thọ là ngã”,25 nên nói với người ấy: ‘Hết thảy không cóthọ, làm sao có thọ. Ông chính là thọ chăng?’26 Đáp: ‘Không phải.’ Vì vậy, A-nan, những ai chủ trương cóngã, nói rằng: ‘thọ không phải là ngã, ngã không phải là thọ, thọ pháp không phải là ngã; thọ là ngã’, người ấy sai lầm.
“A-nan, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ; trong giới hạn ấy là sự thích ứng; trong giới hạn ấy là hạn lượng; trong giới hạn ấy là sự phô diễn; trong giới hạn ấy làtrí quán; trong giới hạn ấy là chúng sinh.
“A-nan, các Tỳ-kheo ở trong pháp này mà như thật chính quán, với tâm giải thoát vô lậu, A-nan, Tỳ-kheo ấy được gọi là tuệ giải thoát. Với Tỳ-kheo tâm giải thoát như vậy, có ngã cũng được biết, không có ngãcũng được biết, vừa có ngã vừa không có ngã cũng được biết, không phải có ngã không phải không cóngã cũng được biết. Vì sao? Này A-nan, trong giới hạn ấy là ngôn ngữ; trong giới hạn ấy là sự thích ứng; trong giới hạn ấy là hạn lượng; trong giới hạn ấy làsự phô diễn; trong giới hạn ấy là trí quán; trong giớihạn ấy là chúng sinh. Sau khi biết rõ thấu suốt nhưvậy, Tỳ-kheo với tâm giải thoát vô lậu không còn biết,
___________________________
23 Cf. D15: ne heva kho me vedanā attā, appaṭisaṃvedano me attā: thọ không phải là ngã của tôi; (nhưng) ngã của tôi (là cái) khôngcó cảm thọ.
24 (…): yattha panāvuso sabbaso vedayitaṃ natthi api nu kho tattha ‘ayam ahamasmī” ti? nơi nào hoàn toàn không được cảm thọ,nơi đó sao có thể nói: tôi đang hiện hữu?”
25 Cf. D15: na heva kho me vedanā attā, nopi appaṭisaṃvedano me attā, attā me vediyati, vedanādhammo hi me attā’ ti, “không phảirằng ngã của tôi là thọ, cũng không phải rằng ngã của tôi là cáikhông cảm thọ; (nhưng) ngã của tôi được (bị) cảm thọ, pháp thọthật vậy là ngã của tôi.”
26 Cf. ibid.: vedanā ca hi, āvuso, sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃaparisesā nirujjheyyuṃ, sabbaso vedanāya asati vedanānirodhāapi nu kho tattha ayam aham asmī ti siyā’ ti? “Này bạn, nếu tất cảcác loại cảm thọ, một cách triệt để, đều bị diệt hoàn toàn; vậy trongkhi cảm thọ không tồn tại, cảm thọ diệt, thế thì ở đó có thể nói: ‘tôiđang hiện hữu’ được chăng ?”

* Trang 304 *
device

không còn thấy tri kiến như vậy.”27Phật nói với A-nan:
“Với những người chủ trương có ngã, cho đến giới hạn nào thì được xác định? ”28
“Với những người chủ trương có ngã, hoặc nói: ‘Hữu hạn, sắc là ngã’;29 hoặc nói: ‘Vô hạn, sắc là ngã’;30hoặc nói: ‘Hữu hạn, vô sắc là ngã’;31 hoặc nói: ‘Vôhạn, vô sắc là ngã.’32 “A-nan, những người nói hữu hạn, sắc là ngã, xác định rằng ‘Hữu hạn, sắc là ngã: sở kiến của ta là đúng, ngoài ra đều sai.’ Những người nói vô hạn, sắc là ngã, xác định rằng ‘Vô hạn, sắc làngã: sở kiến của ta là đúng, ngoài ra đều sai.’ Những người nói hữu hạn, vô sắc là ngã, xác định rằng ‘Hữu hạn, vô sắc là ngã: sở kiến của ta là đúng, ngoài ra đều sai.’ Những người nói vô hạn, vô sắc là ngã, xác định rằng ‘Vô hạn, vô sắc là ngã: sở kiến của ta là đúng, ngoài ra đều sai.’”
Phật nói với A-nan:
“Có bảy trú xứ của thức,33 và hai nhập xứ,34 mà các Samôn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’
 “Những gì là bảy? Hoặc có hạng chúng sinh, với nhiều thân khác nhau và nhiều tưởng khác nhau, tức (một phần) chư Thiên và loài Người. Đó là trú xứ thứnhất của thức, mà các Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗnày là
_______________________
27 Bản Pāli: với Tỳ kheo vô lậu tâm giải thoát như vậy, ai nói vị ấy không thấy, không biết quan điểm như vậy; người ấy sai lầm.
28 Pāli: attapaññatti, khái niệm về tự ngã.
29 Hán: thiểu sắc thị ngã 少色是我. D15: rūpī me paritto attā, “ngãcủa tôi có sắc, có hạn lượng.”
30 Hán: đa sắc thị ngã 多色是我. D15: rūpī me ananto attā, “ngãcủa tôi có sắc, vô biên.”
31 Hán: thiểu vô sắc thị ngã 少無色是我. D15: arūpī me paritto attā, “ngã của tôi là vô sắc, có hạn lượng.”
32 Hán: đa vô sắc thị ngã 多無色是我. Pl.: arūpī me ananto attā, “ngã của tôi là vô sắc, vô biên.”
33 Thất thức trú 七識住; Pl.: satta viññāṇaṭṭhitiyo, bảy trạng thái tồn tại của thức. Tham chiếu các kinh số 9 “Chúng tập”, số 10 “Thập thượng”, số 11 “Tăng nhất”, mục 7 pháp.
34 Nhị nhập xứ 二入處; Pl.: dve āyatanāni.

* Trang 305 *
device

nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; [62b] là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’ Này A-nan, nếu Tỳ-kheo biết trú xứ thứ nhất của thức, biết sự tập khởi, biết sựdiệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại, biết sự xuất ly, biết một cách như thật; A-nan, Tỳ-kheo ấy nói: ‘Cái ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’’35 với tri kiến như thật.
“Hoặc có hạng chúng sinh với thân đồng nhất nhưng với nhiều tưởng khác nhau, như trời Phạm chúng (thời kiếp sơ mới sinh). Hoặc có hạng chúng sinh có thân sai biệt nhưng tưởng đồng nhất; ấy là trời Quang âm. Hoặc có hạng chúng sinh với thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, tức trời Biến tịnh. Hoặc có hạng chúng sinh trú nơi không vô biên xứ. Hoặc có hạng chúng sinh trú nơi thức vô biên xứ. Hoặc có hạng chúng sinh trú nơi vô sở hữu xứ. Đó là bảy trú xứ của thức màcác Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, làánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’ Này A-nan, nếu Tỳ-kheo biết bảy trú xứcủa thức, biết sự tập khởi, biết sự diệt tận, biết vị ngọt,
biết sự tai hại, biết sự xuất ly, biết một cách như thật; A-nan, Tỳ-kheo ấy nói: ‘Cái ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’ với tri kiến như thật.
 “Thế nào là hai nhập xứ? Vô tưởng xứ và phi tưởngphi phi tưởng xứ.36 A-nan, đó là hai nhập xứ mà các Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’ Này A-nan, nếu Tỳ-kheo biết hai nhập xứ, biết sự tập khởi, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại, biết sự xuất ly, biết một cách như thật; A-nan, Tỳ- kheo ấy nói: ‘Cái ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’ với tri kiến như thật.
“A-nan, lại có tám giải thoát.37 Những gì là tám? Có sắc, quán sắc; giải thoát thứ nhất. Bên trong không cósắc tưởng, quán ngoại sắc; giải thoát thứ hai. Tịnh giải
thoát; giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối
__________________________
35 Hán: bĩ phi ngã, ngã phi bĩ 彼非我我非彼. Tham chiếu Pl.: (…) kallaṃ nu tena tadabhinandituṃ ti? Có thích hợp chăng nếu vị ấy thích thú với trú xứ này?
36 Vô tưởng nhập 無想入; Pl.: asaññāsattāyatanaṃ, cảnh vực của chúng sinh không có tưởng. Hán: phi tưởng phi vô tưởng nhập 非想非無想入; Pl.: nevasaññānāsaññāyatanaṃ, cảnh vực phi cótưởng phi không có tưởng.
37 Xem các kinh, số 9 “Chúng tập”, số 10 “Thập thượng.”

* Trang 306 *
device

tưởng, không niệm tạp tưởng, an trú không vô biên xứ; giải thoát thứ tư. Vượt không vô biên xứ, an trúthức vô biên xứ xứ; giải thoát thứ năm. Vượt thức vô
biên xứ, an trú vô sở hữu xứ; giải thoát thứ sáu. Vượt vô sở hữu xứ, an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ; giải thoát thứ bảy. Diệt tận định, giải thoát thứ tám. A-nan,
các Tỳ-kheo an trú trong tám giải thoát này theo chiều thuận và nghịch, xuất nhập tự tại; Tỳ-kheo như vậy chứng đắc câu giải thoát.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.38
_______________________
38 Câu giải thoát, hay câu phần giải thoát 俱分解脫(Pl.: ubhatobhāga-vimutti), chỉ vị A-la-hán chứng đắc diệt tận định, với hai phần giải thoát là tâm giải thoát (Pl.: citta-vimutti) và tuệgiải thoát (paññā-vimutti).

* Trang 307 *
device

* Trang 308 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1