LOGO VNBET
14. KINH THÍCH ĐỀ-HOÀN NHÂN VẤN
 
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở tại nước Ma-kiệt-đà, trong hang Nhânđà- bà-la,1[62c] núi Tì-đà,2 phía Bắc thôn Am-bà-la.3
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân phát khởi thiện tâm vi diệu, muốn đến thăm Phật: “Nay ta hãy đi đến chỗThế Tôn.”
Khi ấy, chư Thiên Đao-lị hay rằng Thích Đề-hoànNhân phát khởi thiện tâm vi diệu muốn đi đến chỗPhật, bèn tìm gặp Đế Thích, tâu rằng:
“Lành thay, Đế Thích, ngài phát khởi thiện tâm vi diệu muốn đến Như Lai. Chúng tôi cũng rất vui sướng nếu được theo hầu ngài đi đến chỗ Thế Tôn.”
Thích Đề-hoàn Nhân liền nói với thần chấp nhạc là Ban-giá-dực4 rằng:
“Ta nay muốn đi đến chỗ Thế Tôn. Ngươi có thể đi theo. Chư Thiên Đao-lị này cũng muốn theo ta đến chỗ Phật.”
Đáp: “Thưa vâng.”
Rồi Ban-giá-dực cầm cây đàn lưu ly,5 ở trong chúng, trước mặt Đế Thích, gảy đàn cúng dường. Rồi Thích Đề-hoàn Nhân, chư Thiên Đao-lị, cùng Ban-giá-dực, hốt nhiên biến mất khỏi Pháp đường. Trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi
_________________________
* 佛說長阿含第二分釋提桓因問經第十
1 Nhân-đà-sa-la quật 因陀娑羅窟. T 15: Đế thích nham 帝釋巖. T 26(134): Nhân-đà-la thạch thất 因陀羅石室. Pl.: Indasāla-gūha.
2 Tì-đà sơn 毘陀山. T 15: Tì-đề-hê sơn 毘提呬山. T 26(134): Tiđà- đề sơn 鞞陀提山. Pl.: Vediyaka.
3 Am-bà-la thôn 菴婆菴婆羅村, T 26(134): Nại lâm thôn 奈林村. Pl.: Ambasaṇḍā.
4 Chấp nhạc thần Ban-giá-dực 執樂神般遮翼. Xem cht. 2 kinh số 3 “Điển tôn.” T 15: Ngũ Kế Càn-thát-bà Vương tử 五髻乾闥婆王子. T 26(134): Ngũ Kết Nhạc tử五結樂子. Pāli: Pañcasikha-gandhabbaputta.
5 Lưu ly cầm 琉璃琴. T 15: lưu ly bảo trang nghiêm không hầu 瑠璃寶裝箜篌, đàn không hầu làm bằng lưu ly. Pl.: beluvapaṇḍuvīṇa.

* Trang 309 *
device

cánh tay họ đến phía Bắc nước Ma-kiệt-đà, trong núi Tì-đà.
Bấy giờ Thế Tôn nhập hỏa diệm tam-muội,6 khiến cho cả núi Tì-đà đồng một màu lửa. Khi ấy, người trong nước thấy vậy, bảo nhau rằng:
“Núi Tì-đà này đồng một màu lửa. Phải chăng là do thần lực của chư Thiên?”
Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân nói với Ban-giá-dực rằng:
“Đức Như Lai, Chí Chân, rất khó được gặp. Nhưng Ngài lại rũ lòng đi xuống chỗ thanh vắng này, lặng lẽkhông tiếng động, làm bạn với muông thú. Chỗ này thường có các đại thiên thần thị vệ Thế Tôn. Ngươi hãy đi trước tấu đàn lưu ly để làm vui lòng Thế Tôn. Ta cùng chư Thiên sẽ đến sau.”
Đáp: “Kính vâng.”
Rồi ông cầm đàn lưu ly đi đến Phật trước. Cách Phậtkhông xa, ông tấu đàn lưu ly, và hát lên bài kệ7 rằng:
Bạt-đà8 ơi,
Kính lễ phụ thân nàng.
Phụ thân nàng đẹp rực rỡ,
Sinh ra nàng cát tường
Mà tâm ta rất thương yêu.
Vốn do nhân duyên nhỏ,
Dục tâm 9 sinh trong đó;
Càng ngày càng lớn thêm.
Như cúng dường La-hán.
Thích tử chuyên bốn thiền,
Thường ưa chốn thanh vắng,
Chính ý cầu cam lồ;
Tâm niệm ta cũng vậy.
________________________
6 Hỏa diệm tam-muội 火焰三昧.
7 T 26(134): Bài kệ liên hệ đến ái dục, liên hệ đến rồng, liên hệ Samôn, liên hệ A-la-hán (Thánh nhân). D 21: bài ca liên hệ Phật, Pháp, Thánh nhân, ái dục (buddhūpasaṃhitā, dhammūpasaṃhitāsaṅghūpasaṃhitāarahantūpasaṃhitākāmūpasaṃhitā).
8 Bạt-đà 跋陀. Hiền Nữ 賢女. T 26(134): Hiền 賢. Pl.: Bhaddā, con gái của Timbaru, Chấp nhạc Thiên vương.
9 Chỉ tình yêu của nhạc thần với thiên nữ.

* Trang 310 *
device

Đức Năng Nhân phát đạo tâm,
Tất muốn thành Chính giác;
Như tôi nay cũng vậy,
Ước ao hội họp với người con gái ấy.
Tâm tôi đã đắm đuối,
Yêu thương không dứt được.
[63a]Muốn bỏ, không thể bỏ,
Như voi bị móc câu kềm chế.
Như nóng bức mà gặp gió mát;
Như khát mà gặp con suối lạnh;
Như người nhập Niết-bàn;
Như nước rưới tắt lửa;
Như bệnh, gặp lương y;
Đói, gặp thức ăn ngon,
No đủ, khoái lạc sinh;
Như La-hán an trú Pháp.
Như voi bị câu móc kềm chặt,
Mà vẫn chưa khứng phục,
Bươn chạy, khó chế ngự,
Buông lung chẳng chịu dừng.
Cũng như ao trong mát,
Mặt nước phủ đầy hoa;
Voi mệt, nóng, vào tắm,
Toàn thân cảm mát rượi.
Những gì trước, sau, tôi bố thí,
Cúng dường các La-hán;
Và phước báo tôi có trong đời;
Thảy mong được cùng nàng.
Nàng chết, tôi cùng chết;
Không nàng, sống làm gì?
Chẳng thà tôi chết đi,
Còn hơn sống không nàng.
Chúa tể trời Đao-lị,
Thích chúa,10 nay cho tôi ước nguyện.
Tôi đã ca ngợi người đủ lễ tiết.
__________________________
10 Thích, chỉ Thích Đề-hoàn Nhân.

* Trang 311 *
device

Xin người suy xét kỹ.
Khi ấy, Thế Tôn xuất khỏi tam-muội, nói với Ban-giá-dực rằng:
“Hay lắm! Hay lắm, Ban-giá-dực! Ngươi đã có thểbằng âm thanh thanh tịnh hòa với đàn lưu ly mà tán thán Như Lai. Tiếng của đàn và giọng của ngươi không dài, không ngắn, buồn và thương uyển chuyển, làm rung động lòng người. Khúc đàn mà ngươi tấu hàm đủ các ý nghĩa. Nó nói đến sự trói buộc của dục, và cũng nói đến phạm hạnh, cũng nói đến Sa-môn, cũng nói đến Niết-bàn.”11
Khi ấy Ban-giá-dực bạch Phật rằng:
“Con nhớ lại, thuở xưa khi Thế Tôn vừa mới thành Đạo dưới gốc cây A-du-ba-đà ni-câu-luật,12 bên dòng sông Ni-liên-thiền,13 thôn Uất-Tì-la;14 lúc ấy có người con trai của Thiên đại tướng là Thi-hán-đà15 và con gái của Chấp nhạc Thiên vương16 đang cùng ở một chỗ, họ cùng ưa muốn nhau.17 Con khi ấy thấy được tâm tư họ, bèn làm một bài tụng. Bài tụng ấy nói đến sự trói buộc của dục; và cũng nói đến phạm hạnh, cũng nói Sa-môn, cũng nói Niết-bàn. Vị Thiên nữ kia khi nghe bài kệ của con, đưa mắt lên cười và nói với con rằng: ‘Ban-giá-dực, tôi chưa hề gặp Như Lai. Ởtrên Pháp đường của trời Đao-lị tôi đã từng nghe chưThiên xưng tán Như Lai, có công đức như vậy, năng lực như vậy. Ông hằng có lòng thành tín, thân cận Như Lai. Nay tôi muốn [63b] cùng ông làm bạn.’ ThếTôn, con sau khi nói chuyện với nàng một lần ấy, rồi không nói chuyện thêm lần nào nữa.”
Lúc bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân nghĩ như vầy: “Ban-giá- dực này đã làm vui lòng Thế Tôn rồi, nay ta hãy nghĩđến người ấy.” Rồi Thiên đế
___________________
11 T 15: trong già-tha này chứa ba loại âm thanh: âm thanh của ái lạc, âm thanh của rồng và của A-la-hán.
12 A-du-ba-đà ni-câu-luật 阿遊波陀尼俱律, Pl.: Ajapāla-nigrodha.
13 Ni-liên-thiền 尼連禪, Pl.: Nerañjarā.
14 Uất-Tì-la 鬱鞞羅, Pl.: Uruvelā.
15 Thi-hán-đà, Thiên đại tướng tử 尸漢陀天大將子; Pl.: Sikkhaṇḍīnāma Mātalissa saṭthāhakassa putto, Sikkhandi, vốn là con trai củathần đánh xe Mātali. T 26 (134): Vị thiên tên là Kết 結, con củathần đánh xe Ma-đâu-lệ 摩兜麗.
16 T 15: vị Càn-thát-bà vương tên Đống-mẫu-la 凍母囉(Pl.: Timbura), cócon gái tên Nhật Quang 日光(Pl.: Sūriya Vacchasā). T 26(134) Con gái của Nhạc vương Đam-phù-lâu 躭浮樓tên là Hiền
17 T 26(134): “Vị trời kia yêu cô gái ấy. Con cũng yêu cô gái ấy màkhông được.”

* Trang 312 *
device

Thích tức thì nghĩ đến người ấy. Lúc ấy Ban-giá-dực lại có ý nghĩ như vầy: “Thiên đếThích đang nghĩ đến ta.” Tức thì ông cầm cây đàn lưu ly đi đến chỗ Đế Thích. Đế Thích bảo rằng:
“Ngươi mang danh ta cùng ý của trời Đao-lị đến thăm hỏi Thế Tôn: ‘Đi đứng có nhẹ nhàng không? Lui tới có khỏe mạnh không?’”
Ban-giá-dực vâng lời chỉ giáo của Đế Thích, đi đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng sang một bên, bạch Thế Tôn rằng:
“Thích Đề-hoàn Nhân và chư Thiên Đao-lị sai con đến thăm Thế Tôn, hỏi Ngài đi đứng có nhẹ nhàng không? Lui tới có khỏe mạnh không?”
Thế Tôn trả lời:
“Mong Đế Thích của ngươi và chư Thiên Đao-lị thọmạng lâu dài, khoái lạc, không bệnh. Sở dĩ như vậy là vì chư Thiên, người đời, A-tu-la, và các chúng sinh
khác đều ham sống lâu, an lạc, không bịnh hoạn.”
Bấy giờ Đế Thích lại suy nghĩ: “Chúng ta nên đến lễviếng Thế Tôn.” Tức thì ông cùng với chư Thiên Đaolịđi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi đứng sang
một bên. Khi ấy, Đế Thích bạch Phật rằng:
“Không biết nay con có thể ngồi cách Thế Tôn bao xa?”18
Phật bảo Đế Thích:
“Thiên chúng các ngươi nhiều. Nhưng ai gần Ta thìngồi.”
Khi ấy, hang Nhân-đà-la mà Thế Tôn đang ở tự nhiên trở nên rộng rãi, không bị ngăn ngại. Bấy giờ Đế Thích cùng chư Thiên Đao-lị và Ban-giá-dực đều lễ chân
Phật, rồi ngồi sang một bên. Đế Thích bạch Phật:
“Một thời, Phật ở tại nhà một người Bà-la-môn ở nước Xá-vệ.19 Lúc bấy giờ Thế Tôn nhập hỏa diệm tammuội.20 Con khi ấy nhân có chút việc, cỡi xe báu nghìn căm, đi đến chỗ Tì-lâu-lặc Thiên vương. Bay ngang không trung, trông thấy một Thiên nữ chắp tay đứng trước Thế Tôn, con liền nói với Thiên nữ ấy rằng: ‘Khi Thế Tôn ra khỏi tam-muội, nàng hãy xưng tên ta màthăm hỏi Thế Tôn, đi đứng có nhẹ nhàng không, lui tới có khỏe mạnh không?’ Không biết Thiên nữ ấy sau đó có chuyển đạt
__________________________
18 T 15: vị Thiên chủ nghĩ: Hang này quá hẹp, mà chư thiên đông, làm sao ngồi?
19 D 21: trú ở Sāvatthi, trong am thất Salāla.
20 T 15: nhập hỏa giới tam-muội 火界三昧trong vườn Cấp cô độc.

* Trang 313 *
device

tâm tư ấy giùm con không?”
Phật nói:
“Ta có nhớ, Thiên nữ ấy sau đó có xưng tên ngươi mà thăm hỏi Ta. Ta ra khỏi thiền định mà còn nghe tiếng xe của ngươi.”
Đế Thích bạch Phật:
“Thuở xưa, nhân có chút duyên sự, con cùng chư Thiên Đao-lị tập họp tại Pháp đường. Các vị thiên thần cố cựu khi ấy đều nói rằng: ‘Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, thì Thiên chúng gia tăng, mà chúng [63c]A-tu-la giảm thiểu.’ Nay con chính tự thân gặp ThếTôn, tự thân biết, tự thân chứng nghiệm, rằng NhưLai xuất hiện ở đời thì các Thiên chúng gia tăng, màchúng A-tu-la giảm thiểu.
 “Có Cù-di Thích nữ21 này, theo Thế Tôn tu hành phạm hạnh, thân hoại mạng chung, sinh lên cung trời Đaolị, làm con của con. Chư Thiên Đao-lị đều khen: ‘Cù-di con cả của trời22 có công đức lớn, có uy lực lớn.’Lại có ba Tỳ-kheo khác theo Thế Tôn tịnh tu phạm hạnh, thân hoại mạng chung, sinh trong hàng các thần chấp nhạc thấp kém,23 hằng ngày đến để con sai khiến. Cù-di thấy vậy, làm bài kệ chọc tức24 rằng:
Ông là đệ tử Phật;
Khi tôi là tại gia,
Cúng dường ông cơm áo,
Lễ bái rất cung kính.
Các ông là những ai?
Tự thân được Phật dạy.
Lời dạy đấng Tịnh nhãn,
Mà ngươi không suy xét.
Ta xưa lễ kính ngươi,
Nghe Phật pháp vô thượng,
_____________________
21 Cù-di Thích nữ 瞿夷釋女, Pl.: Gopikā nāma Sakya-dhītā, con gái dòng họ Thích tên Gopikā. T 15: Mật Hành 密行. T 26(134): Cù-tìThích nữ 瞿毘釋女.
22 Cù-di tử 瞿夷大天子, Pl.: Gopaka deva-putta. T 26(134): Cù-bàthiên tử 瞿婆天子.
23 T 15: làm con của Càn-thát-bà Vĩ-na 尾那乾闥婆.
24 Xúc não 觸惱, Pl.: paṭicodeti, trách mắng.

* Trang 314 *
device

Sinh trời Tam thập tam,
Làm con trời Đế Thích.
Các ông sao không xét,
Công đức mà tôi có.
Trước vốn là thân gái,
Nay con trai Đế Thích.
Trước vốn cùng các ông
Đồng tu nơi phạm hạnh;
Nay riêng sinh chỗ thấp,
Để cho tôi sai khiến.
Xưa ông hành vi xấu,
Nên nay chịu báo này.
Riêng sinh chỗ ti tiện,
Để cho ta sai khiến.
Sinh chỗ bất tịnh này,
Bị người khác xúc phạm.
Nghe vậy, hãy nhàm chán
Chỗ đáng nhàm tởm này.
Từ nay hãy siêng năng,
Chớ để làm tôi người.25
 
Hai ông siêng tinh tấn,
Tư duy Pháp Như Lai.
Xả bỏ điều mê luyến,
Hãy quán, dục bất tịnh,
Dục trói, không chân thật,
Chỉ lừa dối thế gian.
Như voi bứt xiềng xích,
Siêu việt trời Đao-lị.
Đế Thích, trời Đao-lị,
Tập pháp trên giảng đường.
[64a] Kia với sức dũng mãnh,
Siêu việt trời Đao-lị.
Thích khen chưa từng có.
Chư Thiên cũng thấy qua.
_________________
25 Trở lên, lời của Cù-di. Từ đây trở xuống, thuật chuyện nỗ lực tu của hai trong số ba thần chấp nhạc mà tiền thân là ba tỳ kheo.

* Trang 315 *
device

Đấy con nhà họ Thích,
Siêu việt trời Đao-lị.
Đã chán dục trói buộc;
Cù-di nói như vậy.
Nước Ma-kiệt có Phật,
Hiệu là Thích-ca Văn.
Người kia vốn thất ý;
Nay phục hồi chính niệm.
Một trong số ba người,
Vẫn làm thần Chấp nhạc.
Hai người thấy Ðạo đế,
Siêu việt trời Đao-lị.
Pháp Thế Tôn đã dạy,
Đệ tử không hoài nghi.
Cũng đồng thời nghe Pháp;
Hai người hơn người kia.
Tự mình thấy thù thắng,
Đều sinh trời Quang âm.
Con quan sát họ rồi,
Nên nay đến chỗ Phật.
Đế Thích bạch Phật:
“Kính mong Thế Tôn bỏ chút thời gian, giải quyết cho con một điều nghi ngờ.”
Phật nói:
“Ngươi cứ hỏi, Ta sẽ giải thích cho từng điều một.”
Bấy giờ Đế Thích liền bạch Phật rằng:
“Chư Thiên, người thế gian, Càn-thát-bà,26A-tu-la cùng các chúng sinh khác, tất cả tương ưng với kết phược27 gì mà cho đến thù địch nhau, dao gậy nhắm vào nhau?”
Phật nói với Đế Thích:
_________________________
26 Càn-đạp-hòa 乾踏和. Pl.: gandhabba.
27 Kết 結, Pl.: saṃyojana.

* Trang 316 *
device

“Sự phát sinh của oán kết đều do tham lam, tật đố.28Vì vậy, chư Thiên, người thế gian, cùng các chúng sinh khác dùng dao gậy nhắm vào nhau.”
Đế Thích liền bạch Phật:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn. Oán kết sinh do bởi tham lam, tật đố; khiến cho chư Thiên, người đời, A-tu-la và các chúng sinh khác sử dụng dao gậy đối với nhau.
Con nay nghe lời Phật dạy, lưới nghi đã được dứt bỏ, không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu sựphát sinh của tham lam và tật đố, do đâu mà chúng
khởi lên; do bởi nhân duyên gì; cái gì làm nguyên thủ;29 từ cái gì mà có, do cái gì mà không?”
Phật bảo Đế Thích:
“Sự phát sinh của tham lam, tật đố, tất cả đều do bởi yêu và ghét;30 yêu ghét là nhân; yêu ghét là nguyên thủ; từ đó mà có, từ đó mà không.”
Bấy giờ, Đế Thích liền bạch Phật:
“Thật vậy, Thế Tôn, tham lam, tật đố phát sinh do bởi yêu ghét; yêu ghét là nhân; yêu ghét làm duyên; yêu ghét làm nguyên thủ; từ đó mà có, từ đó mà không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đã được dứt bỏ, không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu yêu ghét do đâu mà sinh; do bởi nhân gì, duyên gì; cái gì làm nguyên thủ; từ cái gì mà có, do cái gì mà không?”
[64b] Phật bảo Đế Thích:
“Yêu ghét phát sinh ở nơi dục;31 do nhân là dục, do duyên là dục; dục là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này thì nó không.”
Đế Thích liền bạch Phật:
“Thật vậy, Thế Tôn, yêu ghét phát sinh ở nơi dục; do nhân là dục, do duyên là dục; dục là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này thì nó cũng
________________________
28 Tham tật 貪嫉, Pāli: issā-macchariya. Sớ giải: thấy người thành công mà ganh tị là issā. Thành công của mình không chịu chia sẻchung với người khác là macchariyaṃ.
29 Cf. Pāli, định cú: kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃkiṃpabhavaṃ, cái gì là do duyên, cái gì tập khởi, cái gì sản sinh,cái gì nguyên khởi?
30 Do ái tắng 由愛憎; Pl.: piyāppiyanidānaṃ, nhân duyên là yêu vàghét. T 15: oán thân 怨親. T 26(134): ái bất ái 愛不愛.
31 Dục 欲, Pl.: chanda: ham muốn. T 15: sở dục 所欲.

* Trang 317 *
device

không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đã được dứt bỏ, không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu dục này do đâu mà sinh; do bởi nhân gì, duyên gì; cái gì làm nguyên thủ, do cái gì mà có, do cái gì mà không?”
Phật bảo Đế Thích:
“Ái32 do tầm33 sinh; do nhân là tầm, duyên là tầm; tầm làm nguyên thủ, từ đó mà có; cái đó không thì nókhông.”
Đế Thích liền bạch Phật:
“Thật vậy, Thế Tôn, ái do tầm sinh; do nhân là tầm, do duyên là tầm; tầm là nguyên thủ, từ đó mà có; không cái này thì nó không. Con nay nghe lời Phật dạy, mê hoặc đã được dứt bỏ, không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con không hiểu tầm do đâu mà sinh; do bởi nhân gì, duyên gì; cái gì làm nguyên thủ, do cái gì mà có, do
cái gì mà không?”
Phật bảo Đế Thích:
“Tầm phát sinh do nơi điệu hý;34 nhân điệu hý, duyên điệu hý; điệu hý làm nguyên thủ, từ đó mà có, cái đókhông thì không.
“Này Đế Thích, nếu không có điệu hý thì không cótầm. Không có tầm thì không có dục. Không có dục thì không có yêu ghét. Không có yêu ghét thì không có tham lam, tật đố. Nếu không có tham lam, tật đố thìtất cả chúng sinh không tàn hại lẫn nhau.
“Này Đế Thích, chỉ duyên điệu hý làm gốc; nhân điệu hý, duyên điệu hý; điệu hý làm nguyên thủ, từ đó cótầm. Từ tầm có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam, tật đố. Do tham lam, tật đố mà chúng sinh tàn hại lẫn nhau.”
______________________
32 Ái 愛đoạn trên nói là dục. Xem cht. 26.
33 Ái do tưởng sinh 愛由想生; Pl.: chando (... ) vitakkanidāno, dục cónguyên nhân là tầm 尋, tức suy nghĩ tìm tòi. T 26(134): niệm 念. T
15: sở dục từ nghi hoặc 疑惑.
34 Điệu hý 調戲, nghĩa đen: đùa giỡn. T 15: hư vọng 虛妄. T 26(134): tư思. Pl.: papañca- saññā- saṃkhā, hý luận vọng tưởng. Sớ giải (DA. ii. 372), có ba loại papañca (hý luận): taṇhā-papañca (ái hý luận), māna-papañca (mạn hý luận), diṭṭhi-papañca (kiến hý luận). Chúng khiến mê chấp dòng tương tục như là tự thân trong vòng luân chuyển(sayaṃ uappajjanti, taṃ santānaṃ sámāre papañcẹti – Sớ thích, DT. ii. 326), dẫn đến các hình thái kiêu sa phóng dật (mattapamattākārapāpanaṭṭhena,ibid.).

* Trang 318 *
device

Đế Thích bạch Phật:
“Thật vậy, Thế Tôn, do điệu hý mà có tầm; nhân điệu hý, duyên điệu hý; điệu hý làm nguyên thủ, từ đó cótầm. Từ tầm có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét
có tham lam, tật đố. Do tham lam, tật đố, chúng sinh tàn hại lẫn nhau. Nếu vốn không có điệu hý thì không có tầm. Không có tầm thì không có dục. Không có dục
thì không có yêu ghét. Không có yêu ghét thì không có tham lam tật đố. Nếu không có tham lam tật đố thìtất cả chúng sinh không tàn hại lẫn nhau. Nhưng tầm do điệu hý sinh; nhân điệu hý, duyên điệu hý; điệu hýlàm nguyên thủ, từ đó có tầm. Từtầm có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam, tật đố. Do tham lam, tật đố, chúng sinh tàn hại lẫn nhau. Con nay nghe những điều Phật dạy, mê hoặc đã trừ, không còn nghi ngờ gì nữa.”
Rồi Đế Thích bạch Phật:
“Hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên cùng một con đường diệt trừ [64c] điệu hý chăng? Hay không ởtrên con đường diệt trừ điệu hý?”35
Phật nói:
“Không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên cùng một con đường diệt trừ điệu hý. Sở dĩ như vậy, này Đế Thích, vì thế gian có nhiều chủng loại giới khác nhau. Mỗi chúng sinh y trên giới loại của mình, ôm giữ chặt cứng, không thể dứt bỏ; cho rằng điều của mình là thật, ngoài ra là dối. Vì vậy, Đế Thích, không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên con đường diệt trừ điệu hý.”
Đế Thích liền bạch Phật:
“Thật vậy, Thế Tôn, thế gian có nhiều chủng loại giới khác nhau. Mỗi chúng sinh y trên giới loại của mình, ôm giữ chặt cứng, không thể dứt bỏ; cho rằng điều của mình là thật, ngoài ra là dối. Vì vậy, không phải hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn đều ở trên cùng một con đường diệt trừ điệu hý. Con nay nghe những điều Phật dạy, mê hoặc đã trừ, không còn nghi ngờ gì nữa.”
_________________________
35 Hán: tận trừ điệu hý tại diệt tích (... ) 盡除調戲在滅跡. T 15: “Phải chăng dục lạc, ức niệm, sắc tướng của tất cả chúng sinh thảy đều bất đồng?” T 26 (134): “Vì sao hết thảy sa-môn, phạm chí không đồng một thuyết, một dục, một ái, một lạc, một ý?”D 21: sabbeva nu kho samaṇabrāmaṇā ekantavādā ekantasīlāekantachandā ekanta-ajjhosānā’ ti? Phải chăng hết thảy sa-môn, bà-la-môn đều đồng nhất thuyết, đồng nhất giới, đồng nhất dục, đồng nhất ý thú?”

* Trang 319 *
device

Đế Thích lại bạch Phật:
“Trong chừng mực nào là con đường diệt trừ điệu hý?”
Phật bảo Đế Thích:
“Điệu hý có ba; một là miệng, hai là tầm, ba là cầu.36Sau khi xả bỏ những lời nói nào do miệng người nói mà hại mình, hại người, hại cả hai; và nói những gìkhông hại mình, không hại người, không hại cả hai; Tỳ kheo biết nói đúng thời, đúng như những điều được nói, chuyên niệm không tán loạn. Sau khi xảbỏ những điều được tầm mà hại mình, hại người, hại cả hai; với những gì được tầm mà không hại mình,
không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết thời, đúng như những điều được tầm, chuyên niệm không tán loạn. Đế Thích, cầu cũng hại mình, hại người, hại cả hai; sau khi xả bỏ cầu ấy, đúng những gì được tầm cầu, không hại mình, không hại người, không hại cảhai, Tỳ-kheo biết thời đúng như những gì được tầm
cầu chuyên niệm không tán loạn.”
Bấy giờ, Đế Thích bạch Phật:
“Con nghe những điều Phật dạy, không còn hồ nghi nữa.”
Lại hỏi:
“Trong chừng mực nào thì gọi là xả tâm của Hiền Thánh?”
Phật nói với Đế Thích:
“Xả tâm có ba: một là hỷ thân, hai là ưu thân, ba làxả thân.37 Đế Thích; hỷ thân nào mà hại mình, hại người, hại cả hai; sau khi xả bỏ hỷ ấy, như điều được hoan hỷ, không hại mình, không hại người, không hại cả hai; Tỳ-kheo biết đúng thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là
_________________________
36 Nguyên Hán: Khẩu 口, tưởng 想(= tầm, Pl. vitakka), cầu 求(Pl.: pariyesanā). T 26 (134): niệm 念, ngôn 言, cầu 求. D 21:được hỏi: kathaṃ paṭipanno bhikkhu pātimokkhasaṃvarātapaṭipanno, tỳ kheo hành trì như thế nào để thành tựu biệt giảithoát luật nghi, Phật nói về thân hành (kāyasamācāra), khẩu hành(vacīsamācāra) và biến tầm cầu (pariyesanā) đáng thân cận vàkhông đáng thân cận.
37 D 21. Trả lời câu hỏi: kathaṃ paṭipanno pana bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppa- gāminiṃ paṭipadaṃ paṭipanno hotī”ti?Tỳ-kheo hành trì như thế ào để thích đáng dẫn đến diệt tận hý luậnvọng tưởng? Phật nói về ba thọ hỷ (somanassa), ưu (domanassa)và xả (upekkhā), đáng thân cận và không đáng thân cận.

* Trang 320 *
device

thọ giới cụ túc.38 Đế Thích, ưu thân nào mà hại mình, hại người, hại cả hai; sau khi xả bỏ ưu ấy, như điều ưu, không hại mình, không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết đúng thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là thọ giới cụ túc. Lại nữa, Đế Thích, xả thân nào mà hại mình, hại người, hại cả hai; sau khi xả bỏ [65a] xả thân ấy, như điều được xả, không hại mình, không hại người, không hại cả hai, Tỳ-kheo biết đúng thời, chuyên niệm không tán loạn, liền được gọi là thọ giới cụ túc.”
Đế Thích bạch Phật:
“Con nghe những điều Phật dạy, không còn hồ nghi nữa.”
Lại bạch Phật:
“Trong chừng mực nào thì được gọi là sự đầy đủ luật nghi các căn của bậc Hiền Thánh?”39
Phật bảo Đế Thích:
“Con mắt biết sắc, Ta nói có hai: đáng thân cận vàkhông đáng thân cận. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm ý biết pháp, Ta nói có hai:
đáng thân cận và không đáng thân cận.”
Đế Thích bạch Phật:
“Thế Tôn, Như Lai nói vắn tắt mà không phân biệt rộng rãi. Theo chỗ hiểu biết đầy đủ của con thì như thế này: ‘Mắt biết sắc, Ta nói có hai: đáng thân cận và không đáng thân cận. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp, Ta nói có hai: đáng thân cận và không đáng thân cận. Thế Tôn, như con mắt quán sát sắc, mà pháp thiện không tổn giảm, pháp bất thiện tăng. Mắt thấy sắc như thế, Ta nói không đáng thân cận. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp, mà pháp thiện tổn giảm, pháp bất thiện tăng trưởng, Ta nói không đáng thân cận. Như mắt biết sắc mà pháp thiện tăng trưởng, pháp bất thiện giảm; sự biết sắc của mắt như vậy, Ta nói
_________________
38 Theo bản Hán, đoạn này, với ba thọ, Phật dạy về sự thành tựu biệt giải thoát luật nghi của Tỳ-kheo. Nhưng theo sớ giải Pāli, đoạn này Phật dạy tu tập với ba thọ làm đối tượng. Do đó, đoạn kết về mỗi thọ, Phật nói, ở đây có tầm có tứ (yaṃ ce savitakkaṃ savicāraṃ) tức chứng sơ thiên, và không tầm không tứ (yaṃ ce avitakkaṃavicāraṃ) tức chứng nhị thiên.
39 Hiền Thánh luật chư căn cụ túc 賢聖律諸根具足: thành tựu căn luật nghi. Pl.: indriyasaṃvara- paṭipanno, thành tựu sự phòng hộcác căn.

* Trang 321 *
device

Đáng thân cận. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp, mà pháp thiện tăng trưởng, pháp bất thiện tổn giảm, Ta nói đáng thân cận.’”
Phật bảo Đế Thích:
“Lành thay, lành thay, đó gọi là sự đầy đủ luật nghi các căn của Hiền Thánh.”
Đế Thích bạch Phật:
“Con nghe những điều Phật nói, không còn hồ nghi nữa.’
Lại bạch Phật:
“Trong chừng mực nào Tỳ-kheo được nói là cứu cánh, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh an ổn, cứu cánh vôdư?”
Phật bảo Đế Thích:
“Thân bị khổ bởi ái đã diệt tận,40 là cứu cánh, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh an ổn, cứu cánh vô dư.”
Đế Thích bạch Phật:
“Những mối hoài nghi mà con ôm ấp lâu dài nay đãđược Như Lai mở bày, không còn gì nghi ngờ nữa.” Phật nói với Đế Thích:
“Trước đây ngươi có bao giờ đi đến các Sa-môn, Bà-la-môn hỏi ý nghĩa này chưa?”
Đế Thích bạch Phật:
“Con nhớ lại, thuở xưa, con đã từng đến Sa-môn, Bà-la-môn để hỏi nghĩa này. Xưa, có một thời, chúng con tập họp tại giảng đường, cùng các Thiên chúng bàn luận: ‘Như Lai sẽ ra xuất hiện ở đời chăng? Chưa xuất hiện ở đời chăng?’ Rồi chúng con cùng suy tầm, không thấy có Như Lai xuất hiện ở đời. Mỗi vị trở về cung điện của mình, hưởng thụ ngũ dục. Thế Tôn, về sau, con lại thấy các đại thiên thần sau khi tự thỏa mãn với ngũ dục, dần dần từng vị mạng chung. Lúc ấy, bạch Thế Tôn, con rất kinh sợ, lông tóc dựng đứng. Khi [65b] gặp các Sa-môn, Bà-la-môn sống nơi thanh vắng, lìa bỏ gia đình, lìa bỏdục lạc, con bèn
_______________________
40 Hán: ái sở khổ thân đắc diệt 愛所苦身得滅; Pāli: taṇhasaṃkhayavimuttā, ái tận giải thoát. Hình bản Hán hiểu làtaṇhākāya-vimuttā.

* Trang 322 *
device

tầm đến hỏi họ rằng: ‘Thế nào là cứu cánh?’ Con hỏi ý nghĩa ấy, nhưng họ không thể trả lời. Đã không thể trả lời, họ hỏi ngược lại con: ‘Ông là ai?’Con liền đáp: ‘Tôi là Thích Đề-hoàn Nhân.’ Kia lại hỏi: ‘Ông là Thích nào?’ Con đáp: ‘Tôi là Thiên đế Thích. Trong lòng có mối nghi nên đến hỏi.’ Rồi con và vị ấy theo chỗ thấy biết của mình cùng giải thích ý nghĩa. Vịkia nghe con nói, lại nhận làm đệ tử của con. Nay con là đệ tử Phật, chứng đắc Tu-đà-hoàn đạo, không còn đọa cõi dữ; tái sinh tối đa bảy lần tất thành đạo quả. Cúi mong Thế Tôn thọ ký con là Tư-đà-hàm.”
Nói xong, Đế Thích lại làm bài tụng:
Do kia nhiễm uế tưởng,
Khiến con sinh nghi ngờ.
Cùng chư Thiên, lâu dài
Suy tầm đến Như Lai.
Gặp những người xuất gia
Thường ở nơi thanh vắng,
Tưởng là Phật Thế Tôn,
Con đến cúi đầu lễ.
Con đến và hỏi họ
‘Thế nào là cứu cánh?’
Hỏi, nhưng không thể đáp,
Dấu đạo đi về đâu.
Ngày nay đấng Vô Đẳng,
Mà con đợi từ lâu,
Đã quán sát, đã hành,
Tâm đã chính tư duy.
Đấng Tịnh Nhãn đã biết
Sở hành của tâm con
Và nghiệp đã tu lâu dài,
Cúi mong thọ ký con.
Quy mạng đấng Chí Tôn,
Đấng siêu việt tam giới,
Đã bứt gai ân ái.
Kính lễ đấng Nhật quang.41
______________________
41 Hán: Nhật quang tôn 日光尊. Pl.: ādicca-bandhuna, thân tộc của mặt trời, mỹ từ chỉ Phật.

* Trang 323 *
device

Phật bảo Đế Thích:
“Ngươi có nhớ trước đây có khi nào ngươi có hỷ lạc, cảm nghiệm lạc chăng?”
Đế Thích đáp:
“Đúng vậy, Thế Tôn. Con nhớ hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà con có trước đây. Thế Tôn, xưa có lần con đánh nhau với A-tu-la. Khi đó con chiến thắng, A-tu-la bại trận. Con trở về với sự hoan hỷ, cảm nghiệm lạc. Nhưng hoan hỷ ấy, cảm nghiệm lạc ấy duy chỉ là hỷlạc của dao gậy uế ác, là hỷ lạc của đấu tranh. Nay hỷlạc, cảm nghiệm lạc mà con có được ở nơi Phật không phải là hỷ lạc của dao gậy, của đấu tranh.”
Phật hỏi Đế Thích:
“Hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà ngươi có hiện nay, trong đó muốn tầm cầu những kết quả công đức [65c] gì?”
Bấy giờ, Đế Thích bạch Phật:
“Con ở trong hỷ lạc, cảm nghiệm lạc, muốn tầm cầu
năm kết quả công đức.42 Những gì là năm? Rồi ĐếThích liền đọc bài kệ:
Nếu sau này con chết,
Xả bỏ tuổi thọ trời,
Đầu thai không lo lắng,43
Khiến tâm con hoan hỷ.44
Phật độ người chưa độ;
Hay nói đạo chân chính;
Ở trong pháp chính giác,45
Con cần tu phạm hạnh.
Sống với thân trí tuệ,
Tâm tự thấy chân đế;
Chứng đạt điều cần chứng,46
Do thế sẽ giải thoát.47
_________________________
42 Pl.: cha atthavase: 6 ích lợi.
43 Hán: bất hoài hoạn 不懷患Pl.: amūḷho gabbhamessāmi: không si ám, đầu thai (theo ý muốn).
44 Công đức thứ hai trong bản Pāli (dutiyaṃ atthavasaṃ).
45 Hán: tam-phật pháp 三佛法, tức nói đủ: tam-miệu-tam-phật-đàpháp, pháp của Phật Chính giác.
46 Để bản: bản sơ khởi 本初起; TNM: bản sơ thú 本初趣.

* Trang 324 *
device

Nhưng phải siêng tu hành,
Tu tập chân trí Phật.
Dù chưa chứng đạo quả;
Công đức vẫn hơn trời.
Các cõi trời thần diệu,
A-ca-ni,48 vân vân;
Cho đến thân cuối cùng,
Con sẽ sinh nơi ấy.49
Nay con ở nơi này,
Được thân trời thanh tịnh;
Lại được tuổi thọ tăng;
Tịnh Nhãn, con tự biết.
Nói bài kệ xong, Đế Thích bạch Phật:
“Con ở trong hỷ lạc, cảm nghiệm lạc, mà được năm kết quả công đức như vậy.”
Bấy giờ Đế Thích nói với Chư Thiên Đao-lị:
“Các ngươi ở trên trời Đao-lị đã cung kính hành lễtrước Phạm Đồng tử. Nay trước Phật lại cũng hành lễcung kính như vậy, há không tốt đẹp sao?”
Nói xong, phút chốc Phạm Đồng tử bỗng xuất hiện giữa hư không, đứng bên trên các Thiên chúng, hướng về phía Đế Thích mà đọc bài kệ rằng:
Thiên vương hành thanh tịnh,
Nhiều lợi ích chúng sinh;
Ma-kiệt, chúa Đế Thích,
Hỏi Như Lai ý nghĩa.
Bấy giờ, Phạm Đồng tử sau khi nói kệ, bỗng nhiênbiến mất. Khi ấy Đế Thích rời chỗ ngồi đứng dậy, lễ dưới chân Thế Tôn, đi quanh Phật ba vòng, rồi lui về. Chư Thiên Đao-lị cùng Ban-giá-dực cũng lễ dưới chân Phật rồi lui về.
____________________
47 Cf D 21 (ii 286): aññātā viharissāmi, sveva anto bhavissati, con sẽ sống với chánh trí; đây sẽ là đời cuối cùng.
48 A-ca-ni, tức A-ca-ni-trá 阿迦尼吒, sắc cứu cánh thiên 色究竟天. Pl.: Akaniṭṭha.
49 Công đức thứ sáu trong bản Pāli.

* Trang 325 *
device

Thiên đế Thích đi trước một đỗi, quay lại nói với Bangiá- dực:
“Lành thay, lành thay! Ngươi đã đi trước, đến gảy đàn trước Phật cho vui vẻ, sau đó ta mới cùng ChưThiên Đao-lị đến sau. Ta nay bổ ngươi vào địa vị của cha ngươi, làm thượng thủ trong các Càn-thát-bà, vàsẽ gả Bạt-đà con gái của vua Càn-thát-bà cho ngươi làm vợ.”
Khi Thế Tôn nói pháp này, tám vạn bốn nghìn ChưThiên xa lìa trần cấu, con mắt Chính pháp phát sinh đối với các pháp.
Bấy giờ Thích Đề-hoàn Nhân, Chư Thiên Đao-lị vàBan-giá-dực sau khi nghe những điều Phật dạy hoan hỷ phụng hành.50
________________________
50 Bản Hán, hết quyển 10.

* Trang 326 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1