LOGO VNBET
17. KINH THANH TỊNH
 
[72c13] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Ca-duy-la-vệ,1 trong khu rừng của Ưu-bà-tắc Miên-kì,2 cùng với đại chúng Tỳ- kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ, có sa-di Châu-na,3 ở tại nước Ba-ba,4sau an cư mùa hạ, cầm y bát, đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Miên-kì; đến chỗ A-nan, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch A-nan rằng:
“Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tìm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bạch Đại đức A-nan, bấy giờ, những người thờ Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.”
A-nan nói với sa-di Châu-na:
“Ta có điều muốn bạch Thế Tôn. Ngươi hãy đi với ta, trình bày Thế Tôn về sự việc này. Nếu Thế Tôn có răn dạy điều gì, chúng ta hãy cùng phụng hành.”
Rồi thì, sa-di Châu-na sau khi nghe A-nan nói bèn cùng đi theo đến chỗ Thế Tôn. Sau khi cúi lạy dướichân Thế Tôn, bèn đứng sang một bên.
___________________________
* 第二分[19]清淨經第十三
1 Ca-duy-la-vệ 迦維羅衛(Ca-Tì-la-vệ). Pl.: Kapilavatthu.
2 Miên-kì ưu-bà-tắc lâm trung 綿祇優婆塞林中. Phiên âm Miênkìkhông tìm thấy Pāli. tương đương chính xác. D 29: Phật ở giữa người họ Thích (Sakkesu), trong ngôi nhà lầu trong khu vườn xoài của một người họ Thích có tên là Vadhaññā.
3 Châu-na 周那. Pl.: Cunda Samaṇuddesa.
4 Ba-ba 波波. Pl.: Pāvā, một thị trấn gần Vương xá (Pl.: Rājagaha), thủ phủ của bộ tộc Malla.

* Trang 357 *
device

Lúc bấy giờ, A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-di Châu-na này, sau an cư mùa hạ ở nước Baba, cầm y bát, đi lần đến đây. Sau khi đảnh lễ [73a]dưới chân con, nói với con rằng: ‘Có Ni-kiền Tửtrong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tửcủa ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tìm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thểbiết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thìsai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bấy giờ, những người thờ Ni-kiền-tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.’”
Thế Tôn nói với Châu-na:
“Quả vậy, Châu-na, trong phi pháp ấy không có gìđáng để nghe. Đó không phải là những điều được nói bởi một vị Chính Đẳng Chính Giác.5 Cũng như ngôi tháp đổ nát, khó có thể tô trét.6 Kia tuy có thầy, nhưng thảy đều ôm giữ tà kiến. Tuy có pháp, nhưng thảy đều không chân chính, không đáng để nghe theo, không có khả năng xuất ly, không phải là những điều được nói bởi Chính Đẳng Chính Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét được nữa vậy.
“Trong số các đệ tử của vị ấy có người không thuận theo pháp ấy, dứt bỏ tà kiến ấy, đi theo chính kiến. Châu-na, nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy ông là chân chính, nên tu hành trong pháp ấy, sao lại bỏ đi?’ Nếu người đệtử này mà tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Kia tuy có pháp, nhưng không chân chính.
“Châu-na, nếu thầy không tà kiến, và pháp ấy chân chính, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất yếu, là pháp được nói bởi Chính Đẳng Chính Giác. Cũng như ngôi tháp mới có thể dễ dàng tô trét. Nhưngnếu các đệ tử, ở trong pháp ấy, không tinh cần tu tập, không thể thành tựu, bỏ con đường bình đẳng, đi vào tà kiến. Nếu có người đến nói với các
_________________________
5 Nguyên Hán: tam-da-tam-phật-đà 三耶三佛陀. Pl.: sammā-sambuddha.
6 Hán: nan khả ô sắc 難可污色, nên sửa lại: nan khả ô dã 難可圬也. Xem kinh “Phúng tụng” (T 1(9), 49c15).

* Trang 358 *
device

đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy các người là chân chính, nên ở trong đó mà tu hành, sao lại bỏ đi mà đi vào tà kiến?’ Các đệ tử ấy nếu tin lời ấy, thì cả hai đều thấy chân chính, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chính.”
Phật bảo Châu-na:
“Những người kia tuy có thầy, nhưng ôm giữ tà kiến. Tuy cũng có pháp, nhưng thảy đều không chân chính, không có khả năng xuất yếu, không phải là pháp được thuyết bởi Chính Đẳng Chính Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét. Các đệ tử kia thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận theo mà tu hành, nhưng lại khởi tà kiến. Châu-na, nếu có người đến nói đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chính. Điều ngươi làm là đúng. Nay ngươi tu hành cần khổ như vậy, cóthể ở trong đời này ngươi sẽ thành tựu đạo quả.’ Các [73b] đệ tử kia tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp không chân chính vậy.
“Này Châu-na, nếu bậc thầy không tà kiến; pháp của vị ấy chân chính, có thể khéo léo nghe theo, có khảnăng xuất ly, là pháp được thuyết bởi Chính Đẳng Chính Giác. Cũng như ngôi tháp mới thì dễ tô trét. Nay đệ tử của vị ấy thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận tu hành mà sinh chính kiến. Nếu có người đến nói vớicác đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chính. Sở hành của ngươi là đúng. Nay cần khổ tu hành nhưvậy, có thể ở trong đời này mà thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, cả hai đều chính kiến, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chính.
“Này Châu-na, hoặc có bậc Đạo sư xuất thế khiến cho các đệ tử ưu sầu. Hoặc có Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử không ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử sinh ưu sầu?
“Này Châu-na, Đạo sư mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của vị ấy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chân yếu nhưng không được phân bốrộng khắp, rồi vị Đạo sư ấy lại chóng diệt độ. Các đệ tử vì thế không được tu hành, thảy đều ưu sầu mànói rằng: ‘Thầy vừa mới xuất thế, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, nhưthật chân yếu, nhưng rốt cùng lại không được phân bốrộng khắp, mà nay Đạo sư lại nhanh chóng diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta không được tu hành.’ Đấy làcó vị Đạo sư xuất thế nhưng đệ tử lại ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu?
“Có vị Đạo sư xuất thế, pháp của vị ấy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh,

* Trang 359 *
device

như thật chân yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ. Các đệ tử vì thế màđược tu hành, không ưu sầu, mà nói rằng: ‘Thầy mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chân yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta thảy đều được tu hành.’ Này Châu na, như vậy, Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu.”
Phật lại bảo Châu-na:
“Phạm hạnh tuy thành tựu với những chi này, nhưng Đạo sư xuất thế mà xuất gia chưa bao lâu, danh tiếng chưa rộng, đó gọi là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này. Này Châu-na, Đạo sư xuất thế mà xuất gia đãlâu, danh tiếng đã rộng rãi, đó gọi là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, nhưng các đệ tử trưởng lão chưa nhận được sự dạy dỗ,7 chưa đầy đủ phạm hạnh, chưa đến nơi an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thểphân bố diễn thuyết pháp đã được thọ lãnh; nếu códị luận nổi lên thì không [73c] thể như pháp mà diệt, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa.8 Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này. “Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, mà các đệ tử trưởng lão thảy đều chịu giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, đã đạt được mục đích của mình, lại có thể phân biệt diễn thuyết pháp được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi thì có thể như pháp màdiệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa đầy đủ. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, nhưng các Tỳ-kheo-ni9 chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đến chỗ an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đãđược lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên chưa thể nhưthật diệt trừ bằng Chính pháp, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này. Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất
___________________
7 Xét theo nội dung các đoạn sau, cho thấy bản Hán nhảy sót, nên thêm vào cho đủ nghĩa. Pl. ibid.: (…) no ca khvassa therā bhikkhūsāvakā viyattā vinītā…, “nhưng các đệ tử Tỳ-kheo Trưởng lão của vị ấy không có khả năng, chưa được điều phục…”
8 Pl.ibid.: (na…) sappāṭihāriyam dhammam desetum: (không có…) khả năng tuyên thuyết pháp kì diệu (thần biến)…
9 Sau hàng trưởng lão, kế đến Tỳ-kheo, rồi Tỳ-kheo ni. Bản Hán có thể nhảy sót.

* Trang 360 *
device

gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, các Tỳ-kheo-ni thảy đều nhận được giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đãđến nơi an ổn, có thể phân biệt diễn thuyết pháp đãlãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên thì như pháp mà trừdiệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na, các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di rộng tu phạm hạnh... cho đến... đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa, cũng vậy.
“Này Châu-na, nếu Đạo sư không còn ở đời, nhưng không có danh tiếng, sự lợi dưỡng tổn giảm; đó làphạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đều có đủ, không có tổn giảm; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Nếu Đạo sư còn ở đời, danh tiếng và lợi dưỡng thảy đều đầy đủ, nhưng các Tỳ-kheo không thể đầy đủ danh tiếng và lợi dưỡng; đó là phạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đầy đủ không tổn giảm, chúng các Tỳ-kheo cũng đầy đủ như vậy; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Chúng Tỳ-kheo-ni cũng vậy.
“Châu-na, Ta xuất gia đã lâu, danh tiếng rộng xa, các Tỳ-kheo của Ta đã nhận lãnh giáo huấn, đã đến chỗ an ổn, đã tự mình đạt được mục đích, lại có thể nói cho người khác pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông cókhả năng biến hóa. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cũng vậy.
“Châu-na, Ta đã lưu bố rộng rãi phạm hạnh... cho đến, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa.
“Này Châu-na, hết thảy Đạo sư trong thế gian, không thấy có ai có danh tiếng và [74a] lợi dưỡng như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác.
“Này Châu-na, hết thảy đồ chúng có trong thế gian, không thấy ai có danh tiếng và lợi dưỡng như Chúng của Như Lai.
“Châu-na, nếu muốn nói cho chân chính, thì nên nói ‘thấy mà không thấy.’10 Thế nào là thấy mà không thấy? Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh
____________________
10 Hán: kiến bất khả kiến 見不可見. Pl.: passan na passati. Sớ giải: passanto na passati, “nó đang nhìn mà không thấy.”

* Trang 361 *
device

cụ túc, đã được tuyên thuyết, được lưu bố hiển thị.11 Đó gọi là thấy màkhông thấy.”
Rồi thì, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Uất-đầu-lam Tử,12 ở giữa đại chúng, nói như vậy: ‘Thấy mà không thấy.’13 Thế nào là thấy mà không thấy? Như có thể thấy con dao nhưng không thể thấy lưỡi dao.14 Này các Tỳ-kheo, vị ấy chỉ dẫn lời nói của phàm phu, không hiểu biết, mà ví dụ. Như vậy, này Châu-na, nếu muốn nói một cách chân chính, nên nói: ‘Thấy mà không thấy.’ Thế nào là thấy mà không thấy? Ngươi cần phải nói một cách chân chính rằng:‘Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh đầy đủ, được tuyên thị, lưu bố. Đó là thấy mà không thấy.’
“Này Châu-na, phạm hạnh ấy không thể bớt đi cho đầy đủ hơn; phạm hạnh ấy cũng không thể thêm lên cho đầy đủ hơn.15 Này Châu-na, phạm hạnh trong các pháp, là đề hồ trong các thứ tô lạc.”
Rồi Thế Tôn nói với Châu-na :16
“Những pháp này mà Ta đã tự thân tác chứng, đó làbốn niệm xứ, bốn thần túc, bốn chính cần, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám
_____________________
11 D.iii. 126: sabbākārasampannaṃ sabbākāraparipūraṃanūnamanadhikam svākhātaṃ kevalaṃ paripūraṃbrahmacariyaṃ suppakāsan’ ti: phạm hạnh được mô tả là thànhtựu hết thảy tướng (hình thái), tròn đầy hết thảy tướng, khôngthiếu sót, không dư thừa, được khéo tuyên thuyết, tuyệt đối viênmãn.
12 Uất-đầu-lam Tử 鬱頭藍子. Pl.: Uddaka-Rāmaputta.
13 Sớ giải Pāli, DA. iii. 911: truyền thuyết nói Uddaka-rāmaputta hỏi đại chúng câu hỏi này nhưng không ai trả lời được. Ông nói: Đây là câu rất sâu xa; chỉ khi nào có thực phẩm thích hợp, sau khi tư duy mỗi lúc một ít thì có thể thảo luận. Trong bốn tháng, họcùng thảo luận vấn đề này một cách kính cẩn.
14 Đạo khả kiến, nhẫn bất khả kiến 刀可見刃不可見. D 29: khurassa sādhunisitassa talamassa passati, dhārañca khvassa na passati, thấy bề mặt của một con dao cạo rất bén nhưng không thấylưỡi dao.
15 Hán: bỉ tương tục pháp bất cụ túc nhi khả đắc; bất tương tục pháp cụ túc bất khả đắc 彼相續法不具足而可得。不相續法具足而不可得, văn dịch tối nghĩa. Cf. D 29 ibid.: idam ettha apakaḍḍheyyaevam tam parisuddhataram assāti iti hetam na passati, idam etthaupakaḍḍheyya evam tam paripūraṃ, (…) upakaḍḍheyya evaṃ taṃparipūraṃ assāti iti hetam na passati: “(nếu nghĩ rằng) ở đây nên bớt đi cái này thì nó (phạm hạnh này) sẽ thanh tịnh hơn, ấy làkhông thấy; (nếu nghĩ rằng) ở đây nên thêm cái này thì nó (phạm hành này) sẽ đầy đủ hơn, ấy là không thấy.”
16 Bản Hán: Phật bảo các Tỳ-kheo.

* Trang 362 *
device

chi đạo Hiền Thánh. Các ngươi tất cả hãy cùng hòa hiệp chớ sinh tranh cãi. Cùng theo học một Thầy, cũng như nước vàsữa hòa một, ở trong Chính pháp của Như Lai, hãy tựthắp sáng cho mình, nhanh chóng được an lạc.
“Sau khi đã được an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào, trong lúc có Tỳ-kheo đang thuyết pháp, mà nói rằng: ‘Điều được nói của vị kia, văn cú không chính; nghĩa lýkhông chính.’ Tỳ-kheo nghe như thế không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà hãy nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Chư Hiền? Câu của tôi như vậy. Câu của các ngài như vậy. Nghĩa củatôi như vậy. Nghĩa của các ngài như vậy. Cái nào hơn? Cái nào kém?’ Nếu Tỳ-kheo kia nói rằng: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Nghĩa của tôi nhưvậy. Nghĩa của ngài như vậy. Câu của ngài hơn. Nghĩa của ngài cũng hơn.’ Tỳ-kheo kia nói vậy, nhưng cũng chớ cho là đúng, cũng chớ cho là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy từ bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy, cùng nhau hòa hiệp, chớ sinh tranh chấp. Cùng một Thầy học, như sữa và nước hiệp nhất, ở trong Chính pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi cóTỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều màvị ấy nói, văn cú không chính, nhưng nghĩa thì chính.’Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, [74b] cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi nhưvậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Nhưvậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sinh tranh chấp, đồng một Thầy học, như nước sữa hiệp nhất, ở trong Chính pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, nhanh chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều màvị kia nói, văn cú chính, nhưng nghĩa không chính.’Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ- kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi nhưvậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi nhưvậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên

* Trang 363 *
device

can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sinh tranh chấp, đồng một Thầy học, cùng hòa hiệp như nước với sữa, ở trong Chính pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi được an lạc, nếu có Tỳ-kheo trong khi cóTỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy ‘Điều được thuyết kia, văn cú chính, nghĩa chính.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói là sai, mà hãy nên khen ngợi Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Điều ngài nói là đúng. Điều ngài nói là đúng.’ Vì vậy, này Tỳ-kheo, trong mười hai bộ kinh17 hãy tự mình chứng nghiệm, rồi lưu bốrộng rãi. Một là Quán kinh. Hai là Kì-dạ kinh. Ba làThọ ký kinh. Bốn là Kệ kinh. Năm là Pháp cú kinh. Sáu là Tương ưng kinh. Bảy là Bản duyên kinh. Tám là Thiên bản kinh. Chín là Quảng kinh. Mười là Vị tằng hữu kinh. Mười một là Thí dụ kinh. Mười hai là Đại giáo kinh. Các ngươi hãy khéo thọ trì, hãy tùy năng lực mà suy xét, phân bố rộng rãi.
“Này các Tỳ-kheo, y mà Ta quy định, hoặc y lấy từbãi tha ma, hoặc y do gia chủ bố thí, hoặc y xấu hèn;các thứ y ấy đủ để che nóng che lạnh, muỗi mòng; đủđể trùm kín bốn chi thể.
“Này các Tỳ-kheo, ẩm thực mà Ta quy định, hoặc thực phẩm do khất thực, hoặc từ cư sỹ; các loại thực phẩm ấy đủ no. Nếu thân thể khổ não, các bệnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể vì thế mà chết, cho nên Ta cho phép các loại thực phẩm ấy, để tri túc thì thôi.
“Này các Tỳ-kheo, trú xứ mà Ta quy định, hoặc dưới gốc cây, hoặc chỗ trống, hoặc ở [74c] trong phòng, hoặc trên lầu gác, hoặc trong hang, hoặc tại các trúxứ khác; các trú xứ ấy đủ để ngăn che nóng lạnh, che nắng, che mưa, muỗi mòng, cho đến chỗ vắng vẻ đểnghỉ ngơi.
“Này các Tỳ-kheo, thuốc men mà Ta quy định, hoặc từ nước tiểu,18
________________________________________
17 Mười hai bộ kinh, 12 bộ phận của Thánh điển: 1. Quán kinh 貫經(Pl. sutta), 2. Kì-dạ 祇夜(Pl. geyya), 3. Thọ ký 授記(Pl..veyyekāraṇa), g 4. Kệ 偈(Pl., Skt. gāthā),5. Pháp cú 法(udāna)6. Tương ưng 相應(Pl.. itivuttaka), 7. Bản duyên 本緣(Pl.jātaka), 8. Thiên bản 天本(Pl. nidāna). 9. Quảng kinh 廣經(Pl.vedalla)10. Vị tằng hữu 未曾有(Pl. abbhutadhamma), 11. Thí dụ譬喻(Pl. apadāna) 12. Đại giáo大教(Pl. upadesa). Đoạn trên,kinh 2 “Du hành” kể có chín.
18 Để bản: đại tiểu tiện 大小便; TNM: trần khí dược 陳棄藥(Pl.: pūtimutta), thường được hiểu là thuốc từ nước đái quỷ.

* Trang 364 *
device

hoặc bơ, dầu, hoặc mật, đường đen; các thứ thuốc ấy tự đủ, nếu thân thể phát sinh đau nhức, các thứ bịnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể chết, cho nên Ta quy định các thứ thuốc ấy.”
Phật lại nói:
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo19 đến nói điều này: ‘Samôn Thích tử sống chỉ cầu an lạc.’20 Nếu có người nói như vậy, nên trả lời rằng: ‘Ông chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử sống chỉ cầu lạc.’ Vì sao? Có thứ lạc trú bị Như Lai chê trách. Có thứ lạc trú được Như Lai khen ngợi.
“Nếu Phạm-chí ngoại đạo hỏi: ‘Thứ lạc trú nào bịCù-đàm chê trách?’ Nếu có hỏi như vậy, nên trảlời rằng: ‘Năm phẩm chất của dục,21 đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Thế nào là năm? Sắc được biết bởi mắt, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Này ChưHiền, hỷ lạc phát sinh do bởi duyên là năm dục, đólà điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác chê trách. Cũng như có người cố tình sát hại chúng sinh, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai, ChíChân, Đẳng Chính Giác chê trách. Cũng như cóngười lén lút trộm cắp của người, cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người xâm phạm tịnh hạnh của người khác, tự cho thế làlạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như cóngười cố ý nói dối, tự cho thế là lạc; đó là điều màNhư Lai chê trách. Cũng có người sống phóng đãng buông thả; đó là diều Như Lai chê trách. Cũng cóngười hành khổ hạnh bề ngoài, không phải là hành chân chính mà Như Lai dạy, tự cho thế là lạc; đó làđiều Như Lai chê trách.
“Này các Tỳ-kheo, năm phẩm chất của dục vốn đáng chê trách, mà mọi người tham đắm. Những gìlà năm? Sắc được biết bởi mắt, đáng ưa đáng thích, là cái mà con người tham đắm. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người tham đắm. Sa-môn Thích tử không có những thứ lạc như vậy. Cũng như có người cố ý sát sinh, cho đó là lạc;
_________________
19 Ngoại đạo Phạm-chí 外道梵志, Pl.: aññatitthiya paribbājaka, ngoại đạo xuất gia.
20 Hán: dĩ chúng lạc tự ngộ 以眾樂自娛. Cf. Pl.: sukkhallikānuyogam anuyuttā viharanti, sống chuyên tâm cầu sự an lạc hành.
21 Hán: Ngũ dục công đức 五欲功德, Pl.: pañca kāma-guṇa.

* Trang 365 *
device

Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng nhưcó người trộm cướp, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như [75a] cóngười phạm hạnh, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tửkhông có cái lạc như vậy. Cũng như người cố ý nói dối, cho đó là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người hành khổ hạnh bềngoài, cho thế là lạc. Sa-môn Thích tử không cócái lạc như vậy.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo hỏi như vậy: ‘Thứ lạc trú nào mà Sa-môn Cù-đàm khen ngợi?’ Này các Tỳ-kheo, nếu người kia có nói như vậy, các ngươi nên trả lời rằng: ‘Này Chư Hiền, năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Những gì là năm? Sắc được biết bởi mắt... (cho đến), xúc biết bởi thân, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Này Chư Hiền, lạc phát sinh do bởi nhân duyên là năm dục, nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người cố ý sát sinh, tự cho thế là lạc; lạc như thế, nên nhanh chóng diệt trừ. Có người trộm cắp, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người phạm tịnh hạnh, tự cho thếlà lạc; lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người hành khổhạnh bề ngoài, cho thế là lạc; lạc ấy nên chóng diệttrừ. Cũng như có người ly dục, lìa bỏ pháp ác bất thiện, có tầm có tứ, có hỷ lạc phát sinh do ly dục, nhập sơ thiền. Lạc như thế là điều Phật khen ngợi. Cũng như có người diệt tầm tứ, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sinh, nhập nhịthiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Cũng nhưcó người trừ hỷ, an trú xả, tự thân cảm giác lạc, điều mà Hiền Thánh là xả, an trú lạc với chính niệm, nhất tâm, nhập đệ tam thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Lạc hết, khổ hết, ưu và hỷ trước đã diệt, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền. Lạc như vậy được Phật khen ngợi.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Trong lạc ấy, các ông tìm kết quả gì, công đức gì?’ Nên trả lời rằng: ‘Lạc ấy sẽ đưa đến bảy quả, bảy công đức.22Những gì là bảy? Ngay trong đời này, chứng đắc Thánh đạo.23 Giả sử chưa chứng, thì ngay khi chết,24sẽ [75b] chứng đắc Thánh
___________________
22 Bảy quả. Bản Pl.: bốn quả, bốn lợi ích (cattāri phālāni cattāro ānisaṃsā).
23 Chỉ trường hợp A-la-hán.
24 Hán: lâm mạng chung thời 臨命終時, nên hiểu ngay khi, chứkhông phải sau khi chết. Trường hợp chứng A-la-hán ngay trước khi chết.

* Trang 366 *
device

đạo. Nếu trong khi chết màchưa chứng đắc, thì sẽ đoạn trừ năm hạ phần kết, sẽ chứng đắc trung bát Niết-bàn, sinh bát Niết-bàn, hành bát Niết-bàn, vô hành bát Niết-bàn, thượng lưu a-canị- trá Niết-bàn.25 Này Chư Hiền, lạc ấy có bảy công đức là như vậy.
“Chư hiền, hoặc có Tỳ-kheo đang ở bậc học địa màmuốn hướng thượng, tầm cầu chỗ an ổn, nhưng chưa trừ năm triền cái. Những gì là năm? Tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hýtriền cái, nghi triền cái. Tỳ-kheo hữu học kia muốn cầu hướng thượng, tầm cầu chỗ an ổn, nhưng chưa diệt trừ năm triền cái, không hay tinh cần nơi bốn niệm xứ, không hay tinh cần với bảy giác chi, nhưng lại muốn chứng được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệ của Hiền Thánh, mong cầu muốn biết, muốn thấy; không có trường hợp ấy.
“Chư hiền, Tỳ-kheo hữu học muốn cầu hướng thượng, tầm cầu chỗ an ổn, mà có thể diệt trừ năm triền cái làtham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái, hay tinh cần với bốn niệm xứ lại, như thật tu hành bảy giác chi; nếu vị ấy muốn được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệcủa Hiền Thánh, muốn biết muốn thấy; có trường hợp như vậy.
“Chư hiền, có Tỳ-kheo là A-la-hán lậu tận, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch các kết sử của hữu, với chính trí đã giải thoát; vị ấy không làm chín việc. Những gì là chín? Một là không giết. Hai là không lấy trộm. Ba là không dâm. Bốn là không nói dối. Năm là không xả đạo.26 Sáu là không bị dục chi phối. Bảylà không bị sân chi phối. Tám là không bị sợ hãi chi phối. Chín là không bị nghi chi phối. Chư hiền, ấy làvị lậu tận A-la-hán đã làm xong điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch kết sử của hữu, chính trí giải thoát, xa lìa chín sự.27
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ.’28 Nên trả lời vị ấy rằng: ‘Chư hiền, chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử cópháp bất trụ. Vì sao vậy? Pháp của Sa-môn Thích
__________________
25 Năm trường hợp nhập Niết-bàn của A-na-hàm (Bất hoàn).
26 D 29: không cất chứa tiền bạc để hưởng thụ dục lạc.
27 Có sự đảo lộn đoạn mạch trong bản Hán so với bản Pāli. Xem cht 28 tiếp theo.
28 Hán: bất trụ pháp 不住法. D 29 (iii 133): aṭṭhitadhammā... viharanti, sống với pháp không ổn định, sống không có lập trường. Sớ giải:không có bản chất ổn định (naṭṭhitasabhāvā = anavaṭṭhitasabhāvā),không tin tưởng có Đạo, Quả, Niết bàn.

* Trang 367 *
device

là thường trụ, không bị dao động. Cũng như ngưỡng cửa29 thường trụ không động. Pháp của Sa-môn Thích tử cũng vậy, thường trụ không di động.’30
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết suốt việc trong đời quá khứ, nhưng không biết việc trong đời vị lai.’ Tỳ-kheo kia, cùng Phạm-chí dị học ấy bằng trí này mà quán sát trí kia,31cho nên lời nói hư dối. Như Lai đối với việc quá khứkia, không gì không thấy biết, rõ như ở trước mắt. Đối với đời vị lai, Như Lai có trí phát sinh từ [75c] đạo.32 Việc trong đời quá khứ vốn hư dối không thật, không đáng vui thích, không lợi ích gì, Như Lai không ghi nhận. Hoặc việc quá khứ có thật, nhưng không đáng ưa thích, không ích lợi gì, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, nhưng không lợi ích, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ cóthật, đáng ưa, có lợi ích, Như Lai biết suốt, sau đó mới ghi nhận. Vị lai, hiện tại, cũng vậy.
“Như Lai đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, có lợi, nói đúng pháp, đúng luật, không có lời hư dối. Phật từ đêm đầu tiên thành Vô thượng chính giác cho đến đêm cuối cùng, trong khoảng giữa, có nói điều gì, thảy đều như thật; do đó gọi là Như Lai.
“Lại nữa, những điều Như Lai nói đúng như sự; sựđúng như lời; do đó gọi là Như Lai.
“Do nghĩa gì mà gọi là Đẳng chính giác? Những gìmà Phật thấy biết, diệt trừ, giác ngộ, Phật thảy đều giác ngộ, biết rõ, nên gọi là Đẳng chính giác.
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Thế gian thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều là hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian này làkhông thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có
____________________
29 Hán: môn khổn 門閫. D 29: indakhīla, cột Inda, cột nêu ở cổng chợ.
30 Trong bản Pāli, D 29, chín pháp không hành của A-la-hán, đoạn trước trong bản Hán, được nêu để giải đáp nghi vấn này.
31 Hán: trí dị, trí quán diệc dị 智異觀亦異. Pl.: aññavihitakena ñāṇadassanena aññavihitakam ñāṇadassanam paññapetabbaṃ, (cho rằng) có thể nhận biết tri kiến bị vô tri che lấp này bằng trikiến bị vô tri che lấp khác.
32 Hán: sinh ư đạo trí 生於道智. Pl.: bodhijaṃ ñāṇaṃ, trí phát sinh từ bồ đề hay giác ngộ.

* Trang 368 *
device

người nói: ‘Thế gian không phải thường hằng, không phải không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra là hưdối.’“Hoặc có người nói: ‘Thế gian hữu biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc nói: ‘Thế gian không phải hữu biên không phải vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’
“Hoặc nói: ‘Chính mạng33 tức là thân. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng không phải là thân. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Không phải mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’
“Hoặc nói: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết.34 Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói:
‘Như Lai vừa tồn tại sau khi chết vừa không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không
phải không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’
“Những ai có quan điểm như vậy, gọi là ‘bản sinh bản kiến.’35 Nay ta ký thuyết cho ngươi rằng: ‘Thế gian là thường hằng ... cho đến, Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không phải không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là [76a] dối.’ Đó là bản kiến bản sinh. Hãy ghi nhớ lấy.
“Gọi là ‘mạt36 kiến mạt sinh’37 Ta cũng đã ký thuyết. Những gì là mạt kiếp mạt sinh được ta ký thuyết? Sắc là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối
________________
33 Mạng, chỉ linh hồn; Pl.: jīva, một khái niệm khác về tự ngã - attā.
34 Hán: Như Lai hữu chung 如來有終v.v... Pl.: hoti tathāgato paraṃ maraṇnā: Như Lai tồn tại sau khi chết, v.v…
35 Bản sinh bản kiến 本生本見, so sánh với bản kiếp bản kiến trong kinh Phạm võng (Phạm động, kinh 21). Pl.: pubbantasahagatadiṭṭhinissayā, y chỉ cho kiến chấp liên hệ quá khứ.
36 Để bản: vị 未;TNM: mạt 末.
37 Mạt kiến mạt sinh 末見末生. Pl.: aparanta-sahagata-diṭṭhi-nissaya.Quan điểm liên hệ vị lai.

* Trang 369 *
device

cùng;38 đây là thật còn ngoài ra là dối. Vô sắc là ngã, tùy theo tưởng có cuối cùng. Vừa có sắc vừa vô sắc là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Không phải có sắc không phải không sắc là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ngã là hữu biên, ngã là vô biên, ngã vừa hữu biên vừa vô biên, ngã không phải hữu biên cũng không phải vô biên, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ngã có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ngã không có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ngã vừa có khổ vừa có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ngã không khổ cũng không lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Một tưởng là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Nhiều tưởng là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ít tưởng là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Vô lượng tưởng là ngã, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Đây là thật, ngoài ra là dối. Đó là tà kiến bản kiến bản sinh, được Ta ký thuyết.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, có luận như vầy, có kiến như vầy: ‘thế gian này thường hằng: đây là thật, ngoài ra là dối ... (cho đến), vô lượng tưởng là ngã: đây là thật, ngoài ra là dối.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia lại nói như vầy, thấy như vầy: ‘Đây là thật, ngoài ra là hư dối.’ Nên trả lời người ấy rằng: Có phải ông chủtrương rằng, thế giới này là thường hằng: đây là thật còn ngoài ra là dối? Lời nói như vậy Phật không chấp nhận. Vì sao? Trong các kiến giải đó mỗi thứ đều có kết sử. Ta lấy lý mà suy, trong các Sa-môn, Bà-la-môn, không ai bằng Ta, huống hồ muốn hơn Ta. Các tà kiến như vậy chỉ có nơi lời nói mà thôi, không đáng cùng bàn luận... (cho đến), vô lượng tưởng là ngã, cũng vậy.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Thế gian này tự tạo.’ Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Thế gian này do cái khác tạo.’ Hoặc nói: ‘Vừa tự tạo vừa do cái khác tạo.’Hoặc nói: ‘không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo nhưng ngẫu nhiên mà có.’ Samôn, Bà-la-môn nào nói rằng thế gian là tự tạo thì các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đều nhân bởi nhân duyên là xúc. Nếu lìa xúc là nhân mà có thể nói được; không có trường hợp ấy. Vì sao? Do sáu xứ thân39 mà phát sinh xúc. Do xúc mà sinh thọ. Do thọ mà sinh ái. Do ái mà sinh thủ. Do thủ mà sinh hữu. Do hữu mà sinh sinh. Do sinh mà có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau. Nếu không có sáu xứ, thì không có xúc. Không có xúc thì
_________________
38 Không tồn tại sau khi chết. Cf. D 29 (ii 139): rūpī attā hoti arogo paraṃ maraṇāṃ, ngã có sắc, sau khi chết (tồn tại) không bệnh;bốn trường hợp.
39 Sáu nhập thân 六入身, tức sáu xứ y trên thân; sáu sở y của thức.

* Trang 370 *
device

không có thọ. [76b] Không có thọthì không có ái. Không có ái thì không có thủ. Khôngcó thủ thì không có hữu. Không có hữu thì không cósinh. Không có sinh thì không có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau.
“Lại nói, ‘thế gian này do cái khác tạo’; lại nói, ‘thếgian này vừa tự tạo vừa do cái khác tạo’; lại nói, ‘thếgian này không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo, nhưng ngẫu nhiên mà có’; cũng vậy. Nhân xúc mà có, không có xúc thì không.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu muốn diệt trừ các quan điểm tà ác ấy, nên tu ba hành40nơi bốn niệm xứ. Thế nào Tỳ-kheo diệt trừ các tà ác, nên tu ba hành với bốn niệm xứ? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớkhông quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, tâm, pháp, cũng vậy. Đó là muốn diệt trừ ba hành đối với bốn niệm xứ.
“Có tám giải thoát. Những gì là tám? Có sắc, quán sắc, đó là giải thoát thứ nhất. Bên trong không cósắc tưởng, quán ngoại sắc; giải thoát thứ hai. Tịnh giải thoát, giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, trú không vô biên xứ, giải thoát thứ tư. Xả không vô biên xứ trú thức vô biên xứ; giải thoát thứ năm. Xả thức vô biên xứ, trú vô sở hữu xứ;41 giải thoát thứ sáu. Xả vô sở hữu xứ, trú phi tưởng phi phitưởng xứ; giải thoát thứ bảy. Diệt tận định, giải thoátthứ tám.”
Bấy giờ, A-nan đang đứng sau Thế Tôn, cầm quạt, quạt Phật, bèn trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chấp tay bạch Phật rằng:
“Kì diệu thay, Thế Tôn. Pháp này thanh tịnh, vi diệu bậc nhất, nên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?”
Phật bảo A-nan:
_________________
40 Ba hành: thân hành (Pl.. kāyasaṅkhāra), khẩu hành (vacasaṅkhāra), ý hành (manosaṅkhāra).
41 Bất dụng xứ 不用處. Pl.: ākiñcanāyatana.

* Trang 371 *
device

“Kinh này gọi là “Thanh tịnh.” Ngươi hãy phụng trìnhư thế.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 372 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1