LOGO VNBET
18. KINH TỰ HOAN HỶ
 
[76b24] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại thành Na-nan-đà,1 trong rừng Ba-ba-lị am-bà,2 cùng với đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ trưởng lão Xá-lợi-phất đang ở nơi nhàn tĩnh, thầm lặng tư duy rằng:
“Ta biết với tâm quyết định rằng trong các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại, không ai có trí tuệ, công đức lực của thần túc,3 sánh bằng Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác.
“Rồi Xá-lợi-phất rời khỏi tịnh thất, đi đến chỗ Phật; cúiđầu lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên, [76c] bạch Phật rằng:
“Vừa rồi ở tịnh thất, con thầm lặng tư duy rằng: ‘Các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại, không ai có trí tuệ, công đức lực của thần túc, sánh
bằng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chính Giác.’”
Phật bảo Xá-lợi-phất :
“Lành thay, lành thay, ngươi có thể trước Phật mà nói lời như vậy! Với tin tưởng xác quyết,4 ngươi thật sựcất tiếng rống sư tử. Các Sa-môn, Bà-la-môn không ai bằng ngươi được. Thế nào, Xá-lợi-phất, ngươi cóthể biết những điều được suy nghĩ trong tâm của chưPhật quá khứ chăng? Biết đức Phật ấy có giới nhưvậy, pháp như vậy, trí tuệ như vậy,
____________________
* 佛說長阿含第二分自歡喜經第十四
1 Na-nan-đà 那難陀. Pl.: Naḷandā.
2 Ba-ba-lị-am-bà lâm 波波利菴婆林. D 28: khu vườn Xoài Pāvarika Naḷandā. T 18: trong vườn Am-la, thành A-Ta-ca 阿拏迦城菴羅園.
3 Hán: trí tuệ thần túc công đức lực 智慧神足功德力, nên hiểu: “công đức lực của thần túc, tức là trí tuệ.” Cf. D 28: (…) bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṃ sambodhiyam, “có thắng trí (thần thông) hơn Thế Tôn, tức là Chánh giác.
4 Hán: nhất hướng thọ trì 一向受持. Pl.: ekaṃso gahito, nắm vững (vấn đề) một cách xác quyết.

* Trang 373 *
device

giải thoát như vậy, giải thoát an trú5 như vậy chăng?”
Đáp rằng: “Không biết.”
Phật lại bảo Xá-lợi-phất :
“Thế nào, Xá-lợi-phất, ngươi có thể biết những điều được suy nghĩ trong tâm của chư Phật tương lai chăng? Biết đức Phật ấy có giới như vậy, pháp như vậy, trí tuệ như vậy, giải thoát như vậy, giải thoát an trú như vậy chăng?”
Đáp rằng: “Không biết.”
“Thế nào, Xá-lợi-phất, nay, như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, những gì được suy nghĩ trong tâm, có giới như vậy, pháp như vậy, trí tuệ như vậy, giải thoát như vậy, giải thoát an trú như vậy, ngươi có thể biết được chăng?”
“Ngươi không thể biết những điều được suy nghĩ trong tâm của Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác trong quá khứ, vị lai, hiện tại, vì sao ngươi lại suy nghĩ một cách xác quyết như thế? Nhân bởi sự kiện gì mà ngươi phát sinh ý nghĩ như vậy, với tin tưởng xác quyết, cất tiếng rống sư tử? Nhưng các Sa-môn, Bà-la-môn khác nghe ngươi nói: ‘Ta biết với tâm quyết định rằng các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại, không ai có trí tuệ, công đức lực của thần túc, sánh bằng Như Lai,’ họ sẽ không tin lời ngươi.”
Xá-lợi-phất bạch Phật rằng:
“Con tuy không thể biết những điều suy nghĩ trong tâm của Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại; nhưng con có thể biết pháp tổng tướng6 của Phật. Như Lai thuyết pháp cho con, càng lúc càng cao, càng lúc càng vi diệu; nói về pháp đen, pháp trắng, pháp duyên, khôngduyên; pháp chiếu, không chiếu.7 Những điều Như Lai dạy, càng cao, càng vi diệu.
____________________
5 Nguyên Hán: giải thoát đường 解脫堂. T 18: thần thông diệu hành 神通妙行. D 28: evaṃ sīlā... evaṃ-dhammā... evaṃ-paññā...evaṃ-vihārī... evaṃ-vimuttā..., “giới như vậy, pháp như vậy, giải thoát như vậy, an trụ như vậy.”
6 Tổng tướng pháp 總相法. Pl.: dhammanvaya, pháp loại cú, pháp thứ đệ, sự diễn dịch, loại suy theo pháp; chỉ giáo nghĩa tổng quáthay tinh yếu của giáo nghĩa.
7 Pl.: kaṇha-sukka-sappaṭibhāga, có sự đối chiếu (đối trị phần) giữa pháp đen và pháp trắng.

* Trang 374 *
device

Con sau khi nghe, biết từng pháp một;8 đạt đến chỗ rốt ráo của pháp,9 con tin Như Lai là đấng Chí Chân, Đẳng Chính Giác; tin Pháp của Như Lai được khéo phân biệt; tin Chúng của Như Lai thành tựu sự diệt khổ. Trong các pháp thiện xảo,10 đây là tối thượng. Thế Tôn có trí tuệ vô dư, thần thông vô dư.11 Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ muốn vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa; đó là các chế pháp. Các chế pháp đó là, bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn thần túc, bốn thiền, năm căn, năm
lực, bảy giác chi, [77a] tám chi Hiền Thánh đạo. Đó làcác chế pháp vô thượng, trí tuệ vô dư,13 thần thông vôdư. Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ muốn vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa, đó là thiết chế các nhập xứ.14 Các xứ là mắt và sắc, tai vàtiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, xúc và thân, ý và pháp.
Cũng như Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác quákhứ đã thiết chế các nhập xứ này, tức là mắt và sắc... (cho đến), ý và pháp. Giả sử Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác vị lai cũng thiết chế nhập xứ ấy, tức là, mắt và sắc... (cho đến), ý và pháp. Nay Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, cũng thiết chế nhập xứ ấy, tức là, mắt và sắc... (cho đến), ý và pháp. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vôdư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có
___________________
8 Hán: nhất nhất pháp 一一法, pháp cá biệt, đối với pháp tổngtướng nói trên.
9 Hán: ư pháp cứu cánh 於法究竟. Pl.: idh’ ekaccaṃ dhammaṃdhammesu niṭṭham agamaṃ, đạt đến chỗ rốt ráo từng pháp một trong các pháp này.
10 Thiện pháp, chỉ giáo pháp được thiết lập hoàn hảo. Pl.: etadānuttariyam bhante kusalesu dhammesu.
11 Trí tuệ vô dư 智慧無餘, Pl.: asesam abhijānāti, (Ngài) hiểu biết một cách toàn diện, không còn sót điều gì. Bản Pl. không có “thần thông vô dư.” Pl.: abhiññā, dịch thần thông hay thắng tri, cùng gốc với động từ abhijānāti.
12 Chế pháp 制法, pháp được chế định, thiết định; tức thiện pháp nói trên. Pl.: dhamma-paññatti. D 29: tatrime kusalā dhammāseyyathidaṃ, cattaro satipaṭṭhānā, đây là các pháp thiện xảo, tức là bốn niệm xứ…
13 Văn dịch thiếu chủ từ. Nên hiểu: các pháp ấy đã được Thế Tôn hiểu biết một cách toàn diện.
14 Chế chư nhập 制諸入; Pl.: āyatana-paññatti, sự chế định, thiết lập về (sáu) xứ. T 18: phân biệt thập nhị xứ 分別十二處. D 28: bhagavā dhammaṃ deseti āyatanapaṇṇattīsu, Thế Tôn thuyết pháp trong các (nhập) xứ.

* Trang 375 *
device

thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp trên nữa; đó làthức nhập thai.15 Nhập thai là, một, loạn nhập thai,16loạn trú và loạn xuất; hai, không loạn nhập, nhưng loạn trú, loạn xuất; ba, không loạn nhập, không loạn trú nhưng loạn xuất; bốn, không loạn nhập, không loạn trú, không loạn xuất. Kia không loạn nhập, không loạn trú, không loạn xuất, là sự nhập thai bậc trên. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết, lại có pháp trên nữa, đó làđạo.17 Nói là đạo, tức là, các Sa-môn, Bà-la-môn bằng đủ các phương tiện nhập tâm định;18 rồi bằng tâm định mà tu niệm giác chi, y dục, y viễn ly, y diệt tận, y pháp xuất yếu; tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả giác chi, y dục, y viễn ly, y diệt tận, y pháp xuất yếu.19 Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có pháp trên nữa; đó làthông hành.20 Hành, tức là, hành thì khổ nhưng chứng đắc chậm,21 cả hai22 đều thấp kém. Hành thì khổ mà chứng đắc nhanh,23 duy chỉ khổ hành là thấp kém. Hành thì lạc, mà chứng đắc chậm, duy chỉ sự chậm là thấp kém. Hành thì lạc,24 và chứng đắc nhanh,25nhưng không phổ rộng; vì không phổ
_____________________
15 Nhập thai 入胎. Pl.: gabbhāvakkanti.
16 Hán: loạn nhập thai 亂入胎, Pl.: asampajāno.. mātu kucchim okkamati, không chánh tri nhập mẫu thai: vào thai mẹ mà khôngtự biết.
17 Đạo, đây chỉ Bồ đề, tức gồm bảy giác chi. D 28: yathā bhagavatādhammaṃ deseti padhānesu, Thế Tôn thuyết pháp trong các tinhcần.
18 Định ý tam muội 定意三昧. Trong bản: định tuệ ý tam-muội, chép dư chữ tuệ
19 Trong đoạn này chỉ kể 6 giác chi, không có trạch pháp. Pl.: satta bhojjaṅgā.
20 Nguyên Hán: diệt 滅. Xem Tập dị 7 (tr. 395b11), kinh số 9 “Chúng tập’ mục bốn pháp: tứ đạo 四道. Pl.: paṭipada.
21 Nguyên Hán: khổ diệt trì đắc 苦滅遲得. Pl.: dukkhā paṭipadādandhābhiññā.
22 Cả hai, chỉ thực hành và chứng đắc.
23 Nguyên Hán: Khổ diệt tốc đắc 苦滅速得. Pl.: dukkhā paṭipadākhippābhññnā.
24 Nguyên Hán: Lạc diệt trì đắc 樂滅遲得. Pl.: sukhā paṭipadādandhābhññnā.
25 Nguyên Hán: Lạc diệt tốc đắc 樂滅速得. Pl.: sukhā paṭipadākhīppābhiññnā.

* Trang 376 *
device

rộng nên nói làthấp kém.26 Như nay, Như Lai hành bằng lạc, chóng chứng đắc, mà lại phổ rộng, cho đến trời và người đều thấy biến hóa thần diệu.”
Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Những điều Thế Tôn dạy vi diệu bậc nhất, cho đến nữ nhân cũng có thể thọ trì, dứt sạch lậu, thành vô lậu, [77b] tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự thân tác chứng ngay trong đời này: sự sinh đã tận, phạm hạnh đãvững, việc cần làm đã làm xong, không còn hậu hữu. Đó là hành trì27 vô thượng được Như Lai dạy. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa; đó là ngôn thanh tịnh.28 Ngôn thanh tịnh, tức là, Thế Tôn đối với các Sa-môn, Bà-la-môn không nói lời hư dối vô ích; nói không cốt để hơn, không vì phe đảng, lời nói nhu hòa, không sai thời tiết, lời nói không phát suông. Đó gọi là ngôn thanh tịnh. Pháp ấy vô thượng, không gì cóthể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Samôn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa, đó là kiến đẳng chí.29 Nói kiến đẳng chí, là nói rằng, có Sa-môn, Bà-la- môn, bằng đủ phương tiện tinh cần30 chứng nhập tâm định.31 Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy quán từ đầu đến chân, từ chân đến đầu, trong ngoài lớp da, chỉ toàn những thứ bất tịnh như tóc, lông, móng, gan, phổi,ruột, dạ dày, lá lách, thận tức là năm tạng, mồ
____________________
26 Pl. nói khác: ayaṃ... paṭipadā ubhayen’ eva paṇitā akkhāyatisukhattā ca khippattā ca, cả hai thông hành nay đều vi diệu, tứclà lạc và nhanh.
27 Nguyên Hán: diệt 滅. Cf. D 28: etadānuttariyaṃ, yathā bhagavādhammaṃ deseti paṭipadesu.
28 Ngôn thanh tịnh 言清淨. D 28 (iii 106): bhassa-samācara, ngôn thuyết chính hành hay sự chân chính của ngôn ngữ.
29 Nguyên Hán: kiến định 見定, trạng thái tập trung đạt được do thấy, tức do quán sát. D 28: catasso dassana-samāpattiyo: bốn kiến đẳng chí, kiến chánh thọ. T 18: năm tam-ma-bát-để 三摩缽底.
30 Hán: chủng chủng phương tiện 種種方便. Pl.: ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya, bằng nhiệt thành, bằng tinh cần,bằng nỗ lực, bằng không phóng dật, bằng chân chính tác ý.
31 Hán: nhập định ý tam-muội 入定意三昧. P.: cettosamādhiṃ phusati.

* Trang 377 *
device

hôi, mỡ, tủy, não, phân, nước tiểu, nước mũi, nước mắt, chỗhôi thối bất tịnh, không một cái gì đáng tham. Đó làkiến đẳng chí thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vịấy loại trừ các thứ bất tịnh bên trong và ngoài da, chỉquán xương trắng và răng. Đó là kiến đẳng chí thứ hai.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần, chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy loại trừ xương trắng và các thứ bất tịnh trong ngoài da, chỉ quán tâm thức32 trú ở chỗ nào, ở đời này hay đời sau? Đời này không gián đoạn, đời sau không gián đoạn; đời này không giải thoát, đời sau không giải thoát.33 Đó là kiến đẳng chí thứ ba.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy loại bỏ các thứ bất tịnh trong ngoài da và xương trắng, lại trùng quán thức. Thức ở đời sau, không ở đời này; đời nay gián đoạn, đời sau không đoạn; đời nay giải thoát, đời sau không giải thoát. Đó là kiến đẳng chíthứ tư.34
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy loại bỏ các thứ bất tịnh trong ngoài da và xương trắng, lại trùng quán thức; không ở đời này, không ở đời sau, cả hai đều gián đoạn, cả hai đều giải thoát. Đó là [77c] kiến đẳng chí thứ năm. Pháp ấy vô thượng, không gìcó thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là pháp thường hằng.35 Thường pháp là, các Sa-môn, Bà-la-môn,bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâmđịnh. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp của thế gian, vị ấy nói: ‘Thếgian thường hằng, đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Vì do tôi nhớ lại, cho nên biết có thành kiếp và hoại kiếp ấy. Quá khứ còn lại thì tôi không biết. Thành kiếp, hoại
________________________
32 Hán: tâm thức 心識; Pl.; viññnā-sota, thức lưu, dòng chảy của thức.
33 Cf. D 28 (iii 105): ubhayato abbocchinnaṃ idha loke patiṭṭhitañca paraloke patiṭṭhitañca, (dòng chảy của thức) không gián đoạntrong cả hai đời, tồn tại trong đời này, tồn tại trong đời sau.Sớ giải: do dục tham chi phối nên nó vẫn tồn tại trong đời này(chandarāgavasena imasmiṃ loke patiṭṭhitaṃ).
34 Pl. không nói đến kiến định này.
35 Thường pháp 常法; D 28 (iii 108): sassata-vāda, thường trúluận, chủ trương thế giới thường tồn, vĩnh hằng.

* Trang 378 *
device

kiếp vị lai, tôi cũng không biết.’ Người ấy sáng và chiều do vô trí mà nói rằng: ‘Thế gian thường hằng, duy chỉ đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là pháp thường hằng thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vịấy nhớ lại bốn mươi kiếp thành và kiếp hoại, vị ấy nói: ‘Thế gian này thường hằng, duy chỉ đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Vì tôi nhớ lại nên biết có thành kiếp, hoại kiếp. Tôi còn biết hơn thế nữa, biết thành kiếp, hoại kiếp. Nhưng tôi không biết sự thành và hoại của vị lai.’ Điều đó nói, biết khởi thủy mà không biết chung cuộc. Người ấy sáng mai, chiều tối, do vô trímà nói rằng: ‘Thế gian thường tồn, duy chỉ đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là pháp thường hằng thứ hai.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy nhớ lại tám mươi thành kiếp, hoại kiếp, vị ấy nói rằng: ‘Thế gian này thường, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi nhớ lại mà biết có thành kiếp, hoại kiếp; lại còn biết thành kiếp, hoại kiếp quá khứ hơn thế nữa. Thành kiếp, hoại kiếp vị lai tôi cũng biết cả.’ Người ấy sớm chiều do vô trí mà nói lời này: ‘Thế gian thường hằng, chỉ đây là thật, ngoài ra là dối.’Đây là pháp thường hằng thứ ba. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết còn có trên nữa, đó là quán sát.36 Quán sát là, có Sa-môn, Bà-la-môn, do tướng mà quán sát,37 ‘tâm kia xu hướng như thế, tâm này xu hướng như thế.’ Tâm ấy khi phát tưởng như vậy, hoặc hư hoặc thật.38 Đó là quán sát thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, không do tướng mà quánsát, nhưng hoặc nghe lời của chư Thiên và phi nhân, mà nói với người kia rằng: ‘Tâm ngươi như [78a] vậy, tâm ngươi như vậy.’ Điều này cũng hoặc thật, hoặc hư. Đó là quán sát thứ hai.
___________________
36 Quán sát 觀察. D 28 (iii 103): ādesana-vidhā, ký tâm sai biệt, các trường hợp khác nhau về sự đọc được ý nghĩ của người khác.
37 Hán: dĩ tưởng quán sát 以想觀察. Pl.: nimmittena ādesati, nói ý nghĩcủa người khác bằng cách dựa vào các dấu hiệu bên ngoài.
38 D 28, ibid.: so bahuṃ ce pi ādasati, tath’eva taṃ hoti, no aññathā, vị ấy quán sát nhiều lần như vậy, biết xác thật là như thế, khôngsai lầm.

* Trang 379 *
device

“Các Sa-môn, Bà-la-môn, không do tưởng mà quán sát, cũng không nghe lời của Chư Thiên hay phi nhân, mà tự quán sát thân mình, lại nghe lời nói của người
khác, mà nói với người kia39 rằng: ‘Tâm của ngươi như vậy, tâm của ngươi như vậy.’ Điều này cũng cóthật, cũng có hư. Đó là quán sát thứ ba.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, không do tưởng quán sát, cũng không nghe lời Chư Thiên và phi nhân nói, lại không tự quán sát, hay quán sát người khác; nhưng,
sau khi diệt trừ tầm tứ rồi, đạt đến tâm định, quán sát tâm người khác, mà nói với người ấy rằng:40 ‘Tâmcủa ngươi như vậy, tâm của ngươi như vậy.’ Quán sát như thế là chân thật. Đó là quán sát thứ tư. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là giáo giới.41 Giáo giới là, hoặc có trường hợp có người không trái với giáo giới mà dứt sạch hữu lậu thành vôlậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự thân tác chứng: sự sinh đã hết, phạm hạnh đãvững, điều cần làm đã làm xong, không còn hậu hữu. Đó là giáo giới thứ nhất.
“Có người không trái với giáo giới mà dứt sạch năm hạ phần kết, sau khi diệt độ chốn này sẽ không trở lại cõi này nữa. Đó là giáo giới thứ hai.
“Hoặc có người không trái giáo giới, ba kết đã hết, tham dục, sân hận, ngu si vơ mỏng, đắc Tư-đà-hoàn, sẽ trở lại đời này (một lần) rồi diệt độ. Đó là giáo giới thứ ba.
“Hoặc có người không trái giáo giới, ba kết đã hết, đắc Tu-đà-hoàn, tối đa bảy lần trở lại, ắt sẽ thành đạo quả, không đọa ác thú. Đó là giáo giới thứ tư. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
_________________
39 D 28 ibid.: vitakkayato vicārayato vitakka-vipphāra-saddaṃsutvā ādati, y nơi tầm, y nơi tứ, vị ấy sau khi nghe âm thanhkhuếch đại bởi tầm, bèn dự đoán rằng... (Đây chỉ trường hợp
người đã chứng sơ thiền).
40 D 28 ibid.: avitakkaṃ avicāraṃ samādhiṃ samāpannassa cetasāceto paricca pajānāti, vị ấy, do thành tựu chánh định không tầmkhông tứ, bằng vào tâm của mình mà biết rằng... Chỉ trường hợpmột vị đã chứng nhị thiền hay cao hơn.
41 Giáo giới 教誡. D 28 (iii 107): anusāsana.

* Trang 380 *
device

“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, là thuyết pháp cho người khác, khiến cho giới thanh tịnh.42 Giới thanh tịnh là, có Sa-môn, Bà-la-môn, có lời nói chí thành, không hề hai lưỡi, thường tự kính cẩn, dẹp bỏ ngủ nghỉ, không mang lòng tà xiểm, miệng không nói dối, không dự đoán cát hung cho người, không tựmình xưng thuyết, đem sở đắc của người này tỏ cho người khác để cầu thêm lợi từ người khác, tọa thiền tu trí, biện tài vô ngại, chuyên niệm không loạn, tinh cần không biếng nhác. Pháp ấy vô thượng, không gìcó thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai [78b] có thểsánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó làgiải thoát trí.43 Nói là giải thoát trí, đó là, Thế Tôn do nhân duyên của người khác mà nội tâm tư duy rằng: Người này là Tu-đà-hoàn; người này là Tư-đà-hàm; người này là A-na-hàm, người này là A-la-hán. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là tựthức túc mạng trí chứng.44 Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định.
Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy tự mình nhớ lại vô số việc đời từ trước, một đời, hai đời ... (cho đến), trăm nghìn thành kiếp, hoại kiếp, vô số như vậy, ta sinh ở chỗkia, có tên như vậy, chủng tộc như vậy, họ như vậy, thọ mạng như vậy, ẩm thực như vậy, khổ lạc như vậy; từ chỗ này sinh nơi kia; từ nơi kia sinh đến chỗ này, với nhiều tướng dạng khác nhau; tự nhớ vô số kiếp sự đời xưa, ngày đêm thường nghĩ nhớ những nơi đãtrải qua. Đây là sắc. Đây là vô sắc. Đây là tưởng. Đây là vô tưởng. Đây là phi vô tưởng, thảy đều nhớ biết hết. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trítuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
_____________________
42 Giới thanh tịnh 戒清淨. D 28 (iii 106): Bhagavā dhammaṃ deseti purisasīla- samācāre, Thế Tôn thuyết pháp liên quan đếnchánh hạnh về giới của con người.
43 D 28 (iii 108): parapuggalavimuttiñāṇa, tha nhân giải thoát trí,nhận thức về sự giải thoát của người khác; ấn chứng sự giải thoát cho người khác.
44 Tự thức túc mạng trí chứng 自識宿命智證. D 28 (iii 110): pubbenivāsānussatiñāṇa, túc trú tùy niệm trí, nhận thức nhớ lại các đời sống trước.

* Trang 381 *
device

“Pháp Như Lai thuyết còn có pháp trên nữa, đó là thiên nhãn trí.45 Thiên nhãn trí là, các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy quán thấy chúng sinh, hoặc sống, hoặc chết, có sắc tốt, sắc xấu, thú hướng lành, thú hướng dữ,46 hoặc đẹp, hoặc xấu, tùy theo chỗ làm, thảy đều thấy hết, biết hết. Hoặc có chúng sinh thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ bang Hiền Thánh, tin theo tà kiến điên đảo, khi thân hoại mạng chung đọa ba đường dữ. Hoặc có chúng sinh cóthân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, không báng bổ Hiền Thánh, chính kiến, tín hành, khi thân hoại mạng chung sinh lên trời người. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, quán chúng sinh, thấy biết như thật. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư,thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó làthần túc chứng.47 Thần túc chứng là, các Sa-môn, Bà-la- môn, bằng đủ phương tiện tinh cần chứng nhập tâm
định. Với tâm định tĩnh ấy, vị ấy thực hiện vô số thần lực; có thể biến một thân thành vô số thân; [78c] từvô số thân hiệp làm một thân; vách đá không trở ngại; ngồi kiết già giữa hư không, cũng như chim bay; vào ra lòng đất như ở trong nước; đi trên nước như đi trên đất; thân mình bốc khói, bốc lửa, như đống lửa cháy rực; lấy tay sờ mặt trời, mặt trăng; đứng cao đến trời Phạm thiên. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn gọi đó là thần túc, thì nên bảo họ rằng: có thần túc như vậy, không phải không có. Nhưng loại thần túc ấy thấp kém, hèn hạ, là việc làm của phàm phu, không phải điều màHiền Thánh tu tập. Nếu Tỳ-kheo đối với sắc thế gian yêu thích mà không nhiễm,48 sau khi xả ly sắc ấy, làm việc đáng làm, ấy mới gọi là thần túc của Hiền Thánh. Đối với sắc không đáng ưa cũng không ghét, sau khi xả ly sắc ấy, làm việc nên làm, ấy mới gọi là thần túc của Hiền Thánh. Đối với sắc mà thế gian
_____________________
45 Thiên nhãn trí 天眼智. D 28 (iii 111): cutūpapāta-ñāṇa, sinh tửtrí, nhận thức về sự sống và sự chết của chúng sinh.
46 Hán: thiện thú ác thú 善趣惡趣. Pl.: sugata, duggata.
47 Thần túc chứng 神足證. D 28 (iii 112): iddhividhā.
48 Cf. D 28, ibid.: appaṭikkūe paṭikkūlasaññī vihareyyan, tôi có thểan trú với ý tưởng kinh tởm nơi cái không kinh tởm. Hán: ái sắc愛色, Pl.: appaṭikkūla; bất ái sắc 不愛色, Pl.: paṭikkūla; chỉ tính chất đáng nhàm tởm và không đáng nhàm tởm nơi vật chất.

* Trang 382 *
device

yêu, sắc màthế gian không yêu, lìa bỏ cả hai, tu bình đẳng xả, 49chính niệm, chính tri,50 ấy mới gọi là thần túc của Hiền Thánh.51
“Do bởi đức Thế Tôn tinh tấn dũng mãnh, có đại trítuệ, có tri có giác, đắc đệ nhất giác, cho nên gọi làĐẳng Giác. Thế Tôn nay cũng không vui thích nơi dục, không ưa thích nơi điều tu tập của phàm phu thấp kém, cũng không nhọc nhằn siêng năng để chịu các thứ khổ não. Thế Tôn nếu muốn loại trừ pháp ác, cótầm có tứ, có hỷ lạc do định sinh, chứng nhập sơ thiền, thì như thế Ngài liền có thể loại trừ pháp ác, có tầm có tứ, có hỷ lạc do định sinh, chứng nhập sơ thiền. Nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, cũng vậy. Ngài tinh tấn, dũng mãnh, có đại trí tuệ, có tri, có giác, đắc đệ nhất giác, nên gọi là Đẳng giác.”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Nếu có dị học ngoại đạo đến hỏi ngươi rằng’:52‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn quá khứ có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ ngươi sẽ trả lời như thếnào? Người ấy lại hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn vị lai có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào? Kia lại hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn hiện tại có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào?’”
Xá-lợi-phất liền trả lời:
“Giả sử được hỏi rằng: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn quá khứ có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ con sẽ trả lời rằng: ‘Có.’ Giả sử được hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn vị lai có ai sánh bằng Sa-môn Cùđàm chăng?’ con sẽ trả lời rằng: ‘Có.’ Giả sử được hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn hiện tại có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ con sẽ trả lời rằng: ‘Không.’”
Phật bảo Xá-lợi-phất :
________________
49 Nguyên Hán dịch: tu bình đẳng hộ 修平等護. D 28 ibid: paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṃ abhinivijjetvā upekkhakovihareyyaṃ sato sampajāno’ti, “sau khi loại bỏ cả hai, cái kinh tởm và cái không kinh tởm, tôi an trú với xả, chánh niệm, chánh tri.”
50 Hán: chuyên niệm bất vong 專念不忘, Pl.: sato sampajāno, chánh niệm, chánh tri (tỉnh giác).
51 Pl.: ayam... iddhi anāsavā anupadhikā ariyā vuccati, thần thong vô lậu, vô y này được gọi là Thánh.
52 Trước đoạn này, Pl. còn có một đoạn: “trong quá khứ,... vị lai,... hiện tại,... có ai hơn...” và được Xá-lợi-phất trả lời “không” chocả ba trường hợp.

* Trang 383 *
device

“Dị học ngoại đạo kia lại hỏi: ‘Vì sao nói là có? Và vì sao nói là không?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào?”
Xá-lợi-phất [79a] đáp:
“Con sẽ trả lời người ấy rằng: ‘Các vị Chính Đẳng Chính Giác quá khứ cùng sánh bằng Như Lai. Các vịChính Đẳng Chính Giác vị lai cùng sánh bằng Như Lai. Nhưng con tự thân nghe từ Phật, rằng không có trường hợp có thể nói có vị Chính Đẳng Chính Giác hiện tại nào khác cùng sánh với Như Lai.’ Bạch ThếTôn, con theo chỗ được nghe, y pháp, thuận pháp, mà trả lời như vậy, có phải là trả lời đúng chăng?”
Phật nói:
“Trả lời như vậy là y pháp, thuận pháp, không trái. Sởdĩ như vậy là vì, có các vị Chính Đẳng Chính Giác quá khứ sánh bằng Ta. Có những vị Chính Đẳng Chính Giác vị lai sánh bằng Ta. Nhưng không có trường hợp để nói rằng có hai đức Phật cùng xuất hiện thế gian cùng một lần.”
Lúc bấy giờ Tôn giả Uất-đà-di53 đứng sau Phật, đang cầm quạt, quạt Phật. Phật nói với Uất-đà-di:
“Uất-đà-di, ngươi hãy quán sát sự ít dục, biết đủ của Thế Tôn. Nay Ta có thần lực lớn, có uy đức lớn, mà ít dục, biết đủ, không vui thích trong các dục.54 Uất-đà-di, nếu các Sa-môn, Bà-la-môn khác ở trong pháp này mà có thể tinh cần khó nhọc, chứng đắc một pháp, vị ấy sẽ dựng phướn mà bố cáo bốn phương xa rằng:
‘Nay Như Lai55 này ít dục, biết đủ. Nay hãy quán sát sự ít dục, biết đủ của Như Lai. Như Lai có thần lực lớn, có uy đức lớn, không cần đến các dục.’”
Rồi thì, Tôn giả Uất-đà-di sửa y phục ngay ngắn, trịch áo bày vai hữu, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay bạch Phật rằng:
“Kì diệu thay, bạch Thế Tôn, ít dục, biết đủ như ThếTôn. Thế Tôn có thần lực lớn, có uy đức lớn, không cần đến các dục. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn khác, ở trong pháp này mà tinh cần khó nhọc chứng đắc một
__________________
53 Uất-đà-di 鬱陀夷. Pl.: Udāyi.
54 Hán: bất lạc tại dục 不樂在欲. D 28 (iii 114): atha ca pana na attānaṃ pātukarissati, nhưng Ngài không làm hiển lộ tự kỷ.Nghĩa là, không tự khoe khoang.
55 Chỉ ngoại đạo tự xưng; không phải Phật tự nói.

* Trang 384 *
device

pháp, vị ấy sẽ dựng phướn tuyên cáo bốn phương xa rằng: ‘Thế Tôn56 hiện nay là bậc ít dục, biết đủ.’ Xá-lợi-phất, ngài hãy thuyết pháp này cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Những người ấy nếu có điều nghi ngờ đối với Phật, Pháp, Tăng, thì sau khi nghe phápnày sẽ không còn ở trong lưới nghi nữa.”
Bấy giờ Thế Tôn nói với Xá-lợi-phất :
“Ngươi hãy nhiều lần giảng thuyết pháp này cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Vì sao? Vì những người ấy nếu có nghi ngờ đối với Phật, Pháp, Tăng, đối với Đạo, thì sau khi nghe ngươi giảng thuyết sẽ được thông tỏ.”
Xá-lợi-phất đáp:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”
Rồi thì, Xá-lợi-phất nhiều lần giảng thuyết pháp này cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, vì để khiến họ được tự mình thanh tịnh, do đó được gọi là “Thanh tịnh kinh.”57
Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
__________________
56 Như trên, cht. 55.
57 Thanh tịnh kinh 清淨經. D 28 (iii 116): iti hidaṃ āyasmā sāriputto bhagavato sammukhā sampasādaṃ pavedesi, tasmā imassa veyyākaraṇassa sampasādanīyaṃ tveva adhivacanan’ ti, “Ở đây, Trưởng lão Xá-lợi-phất trước mặt Thế Tôn nói lên sựhoan hỷ xác tín của mình, do đó kinh này được ghi nhận có danhxưng là “tự hoan hỷ.”

* Trang 385 *
device

* Trang 386 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1