LOGO VNBET
2. KINH DU HÀNH
I
 
11a8] Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở trong núi Kì-xà-quật,1 thành La-duyệt2 cùng với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ, A-xà-thế,3 vua nước Ma-kiệt,4 muốn chinh phạt nước Bạt-kì,5 mới tự nghĩ: “Nước ấy tuy hùng cường, dân chúng giàu mạnh, nhưng lấy sức ta để
thắng họ không phải là khó.”
Rồi vua A-xà-thế sai Đại thần Bà-la-môn Vũ-xá:6“Khanh hãy đến núi Kì-xà-quật, chỗ đức Thế Tôn,nhân danh ta đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và thăm hỏi
đức Thế Tôn, Ngài đời sống thường nhật có thoải mái không, đi đứng có khỏe mạnh không. Sau đó lại bạch đức Thế Tôn, người nước Bạt-kì tự ỷ hùng cường, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần phục ta. Ta muốn chinh phạt chúng. Không hiểu đức Thế Tôn có dạybảo gì không? Nếu Ngài có dạy thế nào, khanh hãy ghi nhớ cho kỹ, chớ để quên sót, rồi hãy nói lại cho ta hay những gì khanh đã nghe. Những điều Như Lai nói không bao giờ hư dối.”
Đại thần Vũ-xá lãnh mạng, cỡi xe báu đi đến núi Kìxà-quật. Đến chỗ phải dừng, ông xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn, thăm hỏi xong, ngồi xuống một bên, bạch đức Thế Tôn rằng:
“Vua nước Ma-kiệt là A-xà-thế cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật và ân cần kính hỏi Ngài, đời sống thường nhật có thoải mái chăng, lui tới
_______________________
*第一分遊行經第二初
1 Kì-xà-quật (hay khốt) 耆闍崛. T 5, 6: Diêu sơn 鷂山. Pl.:Gijjhakūṭa.
2 La-duyệt(-kì) 羅閱祇. T 5: Vương xá quốc 王舍國. Pl.: Rājagaha, thành Vương xá 王舍.
3 A-xà-thế 阿闍世. Pl: Ajātasattu Vedehiputto.
4 Ma-kiệt 摩竭. Pl: Māgadha.
5 Bạt-kì 跋祇. T 5, 6: Việt-kì 越祇. Pl.: Vajji.
6 Vũ-xá 禹舍. T 5, 6: Vũ-xá 雨舍. Pl.: Vassakāra.

* Trang 61 *
device

được mạnh khỏe không?”
Ông lại thưa tiếp:
“Người nước Bạt-kì tự thị dũng mãnh, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần phục Vua, nên Vua muốn chinh phạt. Chẳng hay đức Thế Tôn có dạy bảo gì
không?”
Lúc đó, A-nan đang cầm quạt đứng hầu sau Phật. Phật hỏi A-nan:
“Ngươi có nghe dân nước Bạt-kì thường nhóm họp,bàn luận chính sự7 không?”
A-nan đáp:
“Con có nghe.”
Phật nói với A-nan:
“Nếu được như thế, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó lại càng thịnh vượng. Nước ấy sẽ an ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe người nước Bạt-kì vua tôihòa thuận, trên dưới kính nhường nhau không?”
“Con có nghe.”
“Nếu được như vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng, [11b] và được yên ổn lâu dài,không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kì thường tôn trọng pháp luật, tỏ rõ cấm kỵ, chẳng trái lễ độ không?”8
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kì hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận sư trưởng không?”
“Con có nghe.”
 ________________________
7 Để bản: chính 正, nên chép lại là 政. Cf. T 5 &6.
8 T 5 & 6: “Cùng nhau tuân thủ luật pháp, không ban hành những điều không thích hợp, không dám vượt quá.” D16 (ii 74): apaññattaṃ napaññapenti, paññattaṃ na samucchindanti, yathā-paññatte porāṇevajjidhamme samādāya vattantī ti, “không chế lập điều không đáng chế lập, không bỏ phế điều đã chế lập, tuân thủ điều đã được chế lập.”

* Trang 62 *
device

“Này A-nan, nếu vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kì thường tôn trọng tông miếu, kính nễ quỉ thần không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kì giữ gìn khuê môn trinh chính, thanh khiết, không tạp uế, cho đến sự vui đùa, nói năng cũng không tà vạy không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kì tôn thờ Sa-môn, kính người trì giới và thân cận ủng hộ chẳng hề biếng nhác không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.”9
Bấy giờ, Đại thần Vũ-xá liền bạch Phật:“Nhân dân nước kia nếu chỉ thi hành có một điều còn không mong gì thắng họ, huống nay họ đủ cả bảy điều. Vì việc nước quá bận, con xin từ tạ trở về.”
Phật nói:
“Nên biết đúng thời.”
Vũ-xá liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi vái chào mà lui.
Vũ-xá đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ngươi hãy truyền cho các Tỳ-kheo ở chung quanh thành La-duyệt-kì nhóm hết lại giảng đường.”
___________________________
9 T 5: Phật dạy 7 pháp bất thối này cho dân chúng Việt-kì (Bạt-kì) khi Ngài trú tại miếu thần Cấp Tật 急疾神舍(T 6: Chính tháo正躁神舍).D16: tại thần miếu Sāranda, thành Vesāli.

* Trang 63 *
device

A-nan thưa:
“Kính vâng.”
Rồi vâng lệnh đi đến thành La-duyệt-kì tập họp hết các Tỳ-kheo vào giảng đường; sau đó bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo đã nhóm đủ. Kính mong Đức Thánh biết thời.”
1. Bấy giờ, Thế Tôn liền rời chỗ ngồi đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn, bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi bảy pháp bất thối.10 Các ngươi hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ!”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn. Chúng con muốn nghe.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, bảy pháp bất thối là:
“1. Thường hội họp luận bàn chính nghĩa, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chính pháp không bị suy thoái.11
“2. Trên dưới hòa đồng, kính thuận không trái,thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chính pháp không bị suy thoái.
“3. Trọng pháp, tỏ rõ cấm kỵ, không trái qui chế, thời lớn nhỏ [11c] hòa thuận mà Chính pháp không bị suy thoái.
“4. Nếu có Tỳ-kheo nào có năng lực hộ chúng, được nhiều người biết đến, hãy nên kính thờ Tỳ-kheo ấy, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chính pháp không bị
suy thoái.
“5. Phát khởi tâm niệm, lấy sự hiếu kính làm đầu,12 thờilớn nhỏ hòa
__________________________
10 Bất thối pháp 不退法. Pl.: aparihāniya-dhamma, không suy thoái. Trong kinh này, có hai loại bảy pháp bất thối: 7 bất thối của quốc vương (rājā-aparihāniya-dhammā) và 7 bất thối của Tỳ-kheo (bhikkhu-aparihāniya-dhammā). T 5: thất giới pháp 七戒法. T 6: thất giáo 七教.
11 D16: vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṃ pāṭikaṅkhā, no parihāni,chúng tỳ kheo hy vọng hưng thịnh, không suy vong.
12 Niệm hộ tâm ý 念護心意…; Pl.: paccattaññeva satiṃupaṭṭhapessanti‘kinti anāgatā ca pesalā sabrahmacārīāgaccheyyuṃ, āgatā ca pesalā sabrahmacārī

* Trang 64 *
device

thuận mà Chính pháp không bị suy thoái.
“6. Tịnh tu phạm hạnh, không bị chi phối bởi ái dục dẫn đến tái sinh,13 thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chính pháp không bị suy thoái.
“7. Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi,14 thời già trẻ hòa thuận mà Chính pháp không bịsuy thoái.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chính pháp tăng trưởng không tổn giảm.
“1. Ưa ít việc, không ưa nhiều việc thời Chính pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.15
“2. Ưa yên lặng, không ưa nói nhiều.
“3. Bớt sự ngủ nghỉ, tâm không hôn muội.
“4. Không tụ họp nói việc vô ích.
“5. Không tự khen ngợi khi mình thiếu đức.16
“6. Không kết bè bạn với người xấu ác.
“7. Ưa ở một mình nơi chỗ nhàn tịnh, núi rừng.17
“Này Tỳ-kheo, được như vậy, thời Chính pháp sẽđược tăng trưởng, không bị tổn giảm.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
“1. Có tín tâm, tin đức Như Lai, Chí Chân, Chính giác, đủ mười đức hiệu.
“2. Có tàm, biết hổ với điều thiếu sót của mình
_________________________
phāsu vihareyyun,mỗi người tự mình phát khởi tâm niệm, làm sao để các vị đồngphạm hạnh khả ái chưa đến thì đến; vị đã đến thì sống an lạc.
13 Dục thái 欲態. D16: bhikkhū (…) taṇhāya ponobbhavikāya navasaṃ gacchassanti, các Tỳ-kheo không bị chi phối bởi khát áidẫn đến tái sinh.
14 D16: bhikkhū āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavissanti, các Tỳ kheo ưa thích sống tại a-lan-nhã.
15 D. 16 (ii 32): na kammārāmā bhavissanti, không ưa thích tác nghiệp (thế sự).
16 D. 16: na pāpicchā bhavissanti, không có những ham muốn xấu (ácdục).
17 Pāli (D.ii. 78) thay điều này bằng: bhikkhū na oramattakenavisesādhigamena antarāvosānaṃ āpajjissanti, tỳ kheo không dừng lạinửa chừng giữa sự chứng đắc thắng trí, với quả vị thấp kém.

* Trang 65 *
device

“3. Có quý, biết thẹn với việc ác mình đã làm.
“4. Đa văn, những điều đã được thọ trì đều thiện xảo ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, nghĩa và vị thâm áo, phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh không cấu uế.18
“5. Siêng năng cần khổ, bỏ ác tu thiện, chuyên tâm tập luyện mãi không ngừng.
“6. Điều đã học tập được, ghi nhớ mãi không quên.
“7. Tu tập trí tuệ, biết pháp sinh diệt, hướng đến con đường xuất ly của Hiền Thánh, dứt sạch gốc khổ.
“Với bảy pháp như thế thời Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Kính Phật. 2. Kính Pháp. 3. Kính Tăng. 4. Kính giới luật. 5. Kính
thiền định. 6. Kính thuận cha mẹ. 7. Kính pháp không buông lung.
“Bảy pháp như vậy làm cho Chính pháp tăng trưởng mãi không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Quán sự bất tịnh nơi thân. 2. Quán sự bất tịnh nơi thức ăn. 3. Chẳng mê đắm thế gian. 4. Thường suy niệm về sự chết. 5. Suy niệm về vô thường. 6. Suy niệm về vô thường tức khổ. 7. Suy niệm khổ tức vô ngã.19
“Bảy pháp như vậy làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. Tu niệm giác chi,20 nhàn tịnh, vô dục xuất ly, vô
________________________
18 Pāli, định cú: (so dhammaṃ deseti) ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃpariyosānakāṇaṃ sātthanaṃ savyañjanaṃ, kevelaparipuṇṇaṃparisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, “(Ngài thuyết pháp) pháp ấy thiện xảo ở khoảng đầu, thiện xảo ở đoạn giữa, thiên xảo ở đoạn cuối,có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh tuyệt đối hoàn hảo, tuyệt đối thanh tịnh.
19 Bảy tưởng (saññā) theo Pāli: vô thường tưởng (anicca-saññā), vô ngã tưởng (anatta-saññā), bất tịnh tưởng (asubha-saññā), quá hoạn tưởng (ādīnava-saññā), xả tưởng (pahāna-saññā), ly dục tưởng (virāga-saññā), diệt tưởng (nirodha-saññā).
20 Niệm giác ý 念覺意.

* Trang 66 *
device

 vi;21 2. Tu trạch pháp giác chi; 22 3. Tu tinh tấn giác chi; 4. Tu hỷ giác chi; 5. Tu khinh an giác chi; 23 6. Tu định giác chi; 7.
Tu xả giác chi.24
“Bảy pháp như vậy làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao [12a] tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có 6 pháp bất thối làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“1. Thân thường hành xử từ ái, không hại chúng sinh.25
“2. Miệng nói nhân từ, không diễn lời dữ.
“3. Ý niệm từ tâm, không ôm lòng gây tổn hại.
“4. Được vật lợi dưỡng hợp lẽ, chia cùng chúng hưởng, bình đẳng không hai.
“5. Giữ giới Thánh Hiền không để khuyết lậu, cũng không cấu uế, đưa đến định, không dao động.26
“6. Kiến giải Thánh Hiền dẫn đến giải thoát, 27 để dứt hết thống khổ.
“Sáu pháp như vậy làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn.28
 ________________________
21 Tham chiếu, T 1 (kinh 10: Thập thượng, tr. 54b17): y vô dục, y tịch diệt, y viễn ly 依無欲依寂滅依遠離; (tr.103b19): y chỉ tức, y vô dục, y xuất yếu 止息依無欲依出要. T 6: (giác ỷ) tịnh vô dâm tịch (xả) phân tán ý (覺倚)淨無淫寂(捨)分散意. Cf. D 33 (iii. 226): vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ.
22 Nguyên Hán: pháp giác ý 法覺意.
23 Nguyên Hán: ỷ giác ý 猗覺意.
24 Nguyên Hán: hộ giác ý 護覺意.
25 Nên hiểu: “Hành xử với thân nghiệp từ hòa, không gây thiệt hại cho cac bạn đồng tu.” Thứ nhất trong 6 pháp hòa kính, thường nói là “thân hòa đồng trú.” Cf. Pāli, định cú: mettaṃ kāyakammaṃpaccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, “xử sự thân nghiệp từ hòa với các đồng phạm hạnh, ở chỗ công khai hay kín đáo.”
26 Hán: tất định bất động 必定不動. D. 16 (ii 80): kāni sīlāni (…)aparāmaṭṭhāni samādhisaṃvattanikāni…” những giới (…) không bị lệch lạc, dẫn đến tăng trưởng định .”
27 Hán: kiên Hiền Thánh đạo 見賢聖道. Tham chiếu Pāli, định cú: diṭṭhi ariyā niyyānikā, kiến giải dẫn đến Thánh xuất ly.
28 Cf. T 1 (tr. 54a10), sáu trọng pháp 六重法. T 26 (tr. 755b21), sáu pháp ủy lạo六慰勞法; T 125 (tr. 708c12), sáu pháp tôn trọng 六重法; Tập dị 15 (tr. 431b26), sáu pháp khả hỷ 六可喜法. Pāli, D16 (ii80), D 33 (iii 245): cha sāraṇīyā dhammā.

* Trang 67 *
device

“Này các Tỳ-kheo, lại có 6 pháp bất thối làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn: 1. NiệmPhật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm Tăng; 4. Niệm giới; 5.
Niệm thí; 6. Niệm thiên. Sáu niệm ấy làm cho Chính pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở La-duyệt-kì,Ngài bảo A-nan rằng:
“Các ngươi hãy sẵn sàng. Ta muốn đi đến Trúc viên.”29
Đáp: “Thưa vâng.”
Rồi Ngài sửa soạn y bát, cùng đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo ngã đường từ Ma-kiệt đi đến Trúc viên. Sau khi lên giảng đường an tọa, Phật dạy các Tỳ-kheo về giới, định, tuệ. Định đạt được bởi sự tu tập giới thì được quả báo lớn;30 huệ đạt được bởi sự tu tập định thì được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát hoàn toàn,31 dứt hết ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu
lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát liền phát sinh trí về sự giải thoát,32 biết rằng sự sinh đã hết,33 phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở Trúc viên,Ngài bảo A-nan:
________________________
29 Trúc viên 竹園. D16: Phật đến Ambalaṭṭhika.
30 Hán: tu giới hoạch định 修戒獲定. Pl., D. 15, sđd.: sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṃso, định được làm sung mãnbởi giới thì có kết quả lớn, lợi ích lớn.
31 Hán: tu trí tâm tịnh đắc đẳng giải thoát 修智心淨得等解脫. D16(ii 81): paññāparibhāvitaṃ cittaṃ sammadeva āsavehi vimuccati, tu tuệ viên mãn, tâm hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu.
32 Giải thoát trí 解脫智, tức giải thoát tri kiến.
33 Nguyên Hán: sinh tử dĩ tận生死已盡. Phát biểu về sự chứng đắc quả A-la-hán, Pāli, định cú: khīṇājāti vusitaṃ brahmacariyaṃkataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyā ti.

* Trang 68 *
device

“Các ngươi hãy sửa soạn để đi đến thành Ba-lăngphất.34
Đáp: “Kính vâng.”
Rồi Ngài sửa soạn y bát, cùng với đại chúng theo hầu Thế Tôn, từ Ma-kiệt đi đến thành Ba-lăng-phất, và ngồi ở gốc cây ba-lăng.35 Lúc ấy các thanh tín sĩ36 tại đó nghe Phật cùng đại chúng từ xa đến nghỉ dưới cây ba-lăng, bèn cùng nhau ra khỏi thành. Từ xa họ trông thấy Thế Tôn ngồi [12b] dưới gốc cây ba-lăng, dung mạo đoan chính, các căn vắng lặng, hoàn toàn tự chế ngự, như con rồng lớn, như nước lắng trong không chút bợn nhơ, đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm tột bực. Thấy rồi, ai nấy hoan hỷ,lần đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Đức Thế Tôn theo thứ lớp nói pháp, khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, khiến hoan hỷ. Các thanh tín sĩ sau khi nghe Phật nói pháp liền bạch Phật rằng:
“Chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh chúng. Ngưỡng mong đức Thế Tôn thương xót chấp nhận cho chúng con được làm ưu-bà-tắc. Từ nay về
sau, nguyện không giết, không trộm, không tà dâm,37 không nói dối, không uống rượu. Chúng con sẽ giữ giới không bao giờ sai sót.38 Ngày mai chúng con xin cúng dường. Ngưỡng mong Thế Tôn cùng đại chúng giũ lòng hạ cố.”
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Các thanh tín sĩ thấy Phật đã im lặng nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng, vái lễ mà lui. Họ dựng ngôi nhà lớn cho Như Lai, ban sửa đất đai, quét tước, rưới nước, xông hương, trang hoàng bảo tọa. Khi thiết cúng xong, họ đến bạch Phật:
_____________________________
34 Ba-lăng-phất 巴陵弗, bản Minh: Ba-liên-phất 巴連弗. T 5: Ba-lân tưu 巴鄰陬. Giữa Ma-kiệt và xóm Ba-lân có xóm La-trí 羅致(?); Phật dừng chân tại đó. Pāli: Pāṭalī; D. 16: Từ Ambalaṭṭhika, Phật đi đến Nalanda, rồi từ đó lại đi đến Pāṭalī.
35 Ba–lăng-thọ 巴陵樹. Pl.: pāṭalī, cây loa kèn (PTS: the trumpet flower, Bignonia Suaveolens).
36 Thanh tín sĩ 清信士, hay Ưu-bà-tắc 優婆塞. T 5: thệ tâm lý gia 逝心理家. T 6: Phạm chí cư sỹ 諸梵志居士. Pl.: upāsaka.
37 Dâm 淫(bộ thủy 水): tham sắc quá độ; phân biệt với dâm 婬bộ nữ 女: dâm dục. Do đó, bất dâm 不淫ở đây được hiểu không tà dâm, tức Pl.: kāmesu micchācāro, hành vi tà vạy trong các dục lạc.
38 Bất vong 不忘; TNM: bất vọng 不妄: không xằng bậy.

* Trang 69 *
device

“Cỗ đã dọn xong, cúi mong đức Thánh biết thời.”Khi ấy, Thế Tôn liền rời chỗ ngồi, mang y, cầm bát,cùng đại chúng đến giảng đường. Đến nơi, rửa tay chân xong, Phật ngồi giữa, các Tỳ-kheo ngồi bên tả,các thanh tín sĩ ngồi bên hữu.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các thanh tín sĩ rằng:
“Phàm người phạm giới thời có năm điều suy hao. Những gì là năm? 1. Cầu tài lợi không được toại nguyện. 2. Dẫu có được tài lợi, ngày mỗi hao mòn. 3.Bất cứ đến đâu cũng không được mọi người kính nễ. 4. Tiếng xấu đồn khắp thiên hạ. 5. Thân hoại mệnh chung sa vào địa ngục. Trái lại, này các thanh tín sĩ, phàm người giữ giới sẽ có năm công đức. Những gì là năm? 1. Cầu gì đều được như nguyện. 2. Tài sản đã có thì thêm mãi không hao sút. 3. Ở đâu cũng được mọi người kính mến. 4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ.
5. Thân hoại mệnh chung được sinh lên cõi trời.” Bấy giờ, đã nửa đêm, Phật bảo các thanh tín sĩ hãy trở về. Các thanh tín sĩ vâng lời, đi quanh Phật ba vòng, rồi đảnh lễ mà lui.
Bấy giờ, khi đêm vừa qua, ánh sáng vừa tỏ, Thế Tôn đi tới chỗ thanh vắng,39 bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấu suốt, thấy các vị đại thiên thần40 mỗi vị phong giữ đất đai nhà cửa41 riêng. Các thần trung, thần hạ cũng phong giữ đất đai nhà cửa. Thế Tôn liền trở lại giảng đường, lên chỗ ngồi. Tuy đã biết, nhưng Ngài vẫn hỏi:
“Này A-nan, ai tạo lập thành Ba-lăng-phất này?”
[12c] A-nan bạch Phật:
“Thành này do Đại thần Vũ-xá42 tạo ra để phòng ngự nước Bạt-kì.”
Phật nói với A-nan:
“Người tạo ra thành này rất hợp ý trời.43 Lúc đêm đã tàn, trời vừa sáng, Ta đi tới chỗ thanh vắng, bằng thiên nhãn, xem thấy các đại thiên thần
_____________________________
39 T 6: Phật đi đến xóm A-vệ 阿衛聚(?).
40 Đại thiên thần 大天神. Pl: mahesakkhā devatā, các thiên thần có đại oai lực.
41 Hán: phong trạch địa 封宅地. Pl.: vatthuṃ pariggaṇhāti, chiếm hữu (hoặc thủ hộ) đất đai.
42 D 16: hai vị đại thần Sunīdha và Vassakāra.
43 Hán: chánh đắc thiên ý 正得天意. D16: (ii. 87): seyyathāpi devehi tāvatiṃsehi saddhiṃ mantetvā, giống như sau khi đã hỏi ýcác thiên thần Tāvatiṃsa (Đao-lị).

* Trang 70 *
device

mỗi vị phong giữ đất đai nhà cửa riêng, các trung thần, hạ thần cũng phong giữ đất đai nhà cửa. A-nan, nên biết chỗ đất đai nhà cửa nào được đại thiên thần phong giữ, ai ở đó tất được an lạc nhiều;44 còn chỗ trung thần phong giữ thì hàng trung nhân ở; chỗ hạ thần phong giữ thì hạ nhân ở và công đức nhiều ít cũng tùy theo chỗ ở ấy.
“Này A-nan, chỗ này là chỗ hiền nhân ở, kẻ bán buôn qui tụ, phép nước đúng đắn không dối ngụy.45 Thành này rất tốt, được mọi nơi suy tôn, không thể phá hoại. Lâu về sau nếu có bị phá chăng chỉ do ba việc: một là bịnước lớn, hai là bị lửa lớn và ba là bị người trong thông mưu với người ngoài, do thế thành này bị phá hoại.”Trong lúc đó các thanh tín sĩ Ba-lăng-phất suốt đêm cùng bày biện. Đúng giờ, họ đến bạch Phật:
“Cỗ đã dọn xong, cúi mong đức Thánh biết là đã đến giờ.”
Bấy giờ, các thanh tín sĩ bưng dọn, tự tay bưng sớt đồăn. Thọ thực xong, dùng nước rửa. Rồi họ dọn một chỗ ngồi nhỏ trước Phật. Phật khai thị rằng:
Đây trú xứ các ngươi,
Chỗ ở bậc Hiền trí;
Đa phần trì tịnh giới,
Và tịnh tu phạm hạnh,
Nên Chư Thiên hoan hỷ.46
Rồi Ngài chú nguyện cho họ:
____________________________
44 D16, đd: yasmim padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti mahesakkhānam tattha raññam rājamahāmattānam cittāninamanti nivesa nāni māpetum; “nơi ở nào có thiên thần có đại oai lực thủ hộ (chiếm lĩnh) đất đai, nơi ấy tâm thức các vua chúa và các đại thần có thế lực được hướng đến việc xây dựng các trú xứ.
45 D16, đd: yāvatā, Ānanda, ariyaṃ āyatanaṃ, yāvatā vaṇippatho, idaṃagganagaraṃ pāṭaliputtaṃ puṭabhedanaṃ, “nơi nào là căn cứ địa củanhững người Ariyan, nơi nào là đô hội của các thương gia, nơi ấy mộtđô thị bậc nhất tên là Pāṭaliputta được thiết lập.” Trong đoạn này, Pl:āriya, Hán: hiền nhân 賢人, các bản Hán đều hiểu là Thánh giả. Đâycũng có thể hiểu là người Ariya. Đoạn này Phật tiên đoán về sự hưngthịnh của Pāṭalīputta (Ba-tra-lị-phất), sau này trở thành thủ đô hùngcường của Hoàng đế A-dục.
46 Thể kệ tụng, nhưng trong nguyên bản chép liền như thể văn trường hàng. Kệ tụng tương đương trong bản Pāli.

* Trang 71 *
device

Kính trọng bậc đáng kinh;
Kính thờ bậc đáng thờ;
Rộng thí và nhân từ;
Hằng có tâm từ mẫn;
Được Chư Thiên tán thán;
Thường sống chung người thiện,
Không tụ hội kẻ ác.47
Bấy giờ, sau khi thuyết pháp xong, đức Thế Tôn liền rời khỏi chỗ, đại chúng hầu quanh mà đưa Ngài trở về. Đại thần Vũ-xá đi theo sau Phật, nghĩ rằng:
“Hôm nay, nhân đức Sa-môn Cù-đàm đi qua cửa thành này, ta hãy gọi cửa này là cửa Cù-đàm.”48
Lại nhân bến sông mà Phật sang ngang, liền đặt tên chỗ đó là bến Cù-đàm.49
Đức Thế Tôn ra khỏi thành Ba-lăng-phất, đi đến bờ sông. Lúc ấy, trên bờ sông có nhiều người, trong số đó có người thì dùng thuyền, có người dùng bè, có người dùng phà mà sang sông. Đức Thế Tôn cùng đại chúng chỉ trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay đã đến cả bên kia sông. Sau khi quán sát nghĩa này, Thế Tôn liền nói bài tụng:
Phật là hải thuyền sư;
Pháp là cầu sang sông,
Là chiếc xe Đại thừa,
Đưa hết thảy trời, người.
Cũng tự mình cởi trói,
Sang sông, lên bậc Tiên,50
[13a] Khiến tất cả đệ tử,
Cởi trói, đến Niết-bàn.
Thế Tôn lại từ nước Bạt-kì51 đi đến thôn Câu-lị,52 nghỉ ở dưới một lùm
________________________
47 Thể kệ, như trên.
48 Hán: Cù-đàm môn 瞿曇門. Pl.: Gotama-dvāra.
49 Cù-đàm độ 瞿曇渡. Pl.: Gotama-titthaṃ.
50 Hán: đắc thăng tiên 得昇仙. Tức thành Phật.

* Trang 72 *
device

cây.
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn pháp thâm diệu: một là Thánh giới; hai là Thánh định; ba là Thánh tuệ và bốn là Thánh giải thoát.53 Đó là pháp vi diệu khó hiểu, khó biết, mà Ta với các ngươi xưa kia vì không hiểu rõ nên mãi trôi lăn không cùng trong vòng sống chết.”
Quán xét theo nghĩa đó, Phật liền dạy bài kệ:
Giới, định, tuệ, giải thoát,
Duy Phật phân biệt rõ.
Lìa khổ độ chúng sinh,
Khiến dứt mầm sinh tử.
Bây giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở Câu-lị thôn lại bảo A-nan cùng đi đến thôn Na-đà.54 A-nan vâng lời, khoác y, ôm bát cùng với đại chúng đi theo Phật, theo con đường từ Bạt-kì đến Na-đà và dừng lại trú xứ Kiền-chùy.55
Bấy giờ, A-nan ở chỗ thanh vắng yên lặng suy nghĩ:“Thôn Na-đà này có mười hai cư sỹ là: 1. Già-già-la, 2. Già-lăng-già, 3. Tì-già-đà, 4. Gia-lê-thâu, 5. Giálâu, 6. Bà-da-lâu, 7. Bà-đầu-lâu, 8. Tẩu-bà-đầu-lâu, 9. Đà-lê-xá-nậu, 10. Tẩu-đạt-lị-xá-nậu, 11. Gia-thâu, 12. Gia-thâu-đa-lâu, đã qua đời.56 Hiện nay không biết họ sinh về đâu? Lại
______________________________
51 Bản Hán có thể nhầm. Theo đoạn trên, nên hiểu Phật từ Ba-lăngphất đi đến thôn Câu-lị. D 16: từ Pāṭalīgāma đi đến thôn Koṭigāma.
52 Câu lị 拘利. T 5: xóm Câu-lân 拘鄰聚. T 6: Câu-lị ấp 拘利邑. Pl.:Koṭigāma.
53 D16: bốn Thánh đế.
54 Na-đà thôn 那陀村. T 5: Hỷ dự quốc 喜豫國. T 6: Hỷ dự ấp 喜豫邑. Pl.: Nādikā.
55 Kiền chùy xứ 犍椎處. T 5: Kiền-đề thọ 揵提樹. T 6: Kiền-kì thọ 揵祇樹. Pl.: Ginjakāvasatha, cũng nói là Kiền-chùy tinh xá 犍椎精舍hay Luyện ngõa đường 煉瓦堂, ngôi nhà lợp ngói.
56 Danh sách 12 cư sĩ ở Na-đà: Già-già-la 伽伽羅, Già-lăng-gia 伽陵伽, Tỳ-già-đà 毗伽陀, Già-lị-(TNM: lê) thâu 伽利(梨)輸, Giá-lâu遮樓, Bà-da-lâu 婆耶樓, Bà-đầu-lâu 婆頭樓, Tẩu-bà-đầu-lâu 藪
婆頭樓, Đà-lê-xá-nậu 陀梨舍耨, Tẩu-đạt-lị-xá-nậu 藪達利舍耨, Da-thâu (du) 耶輸, Da-thâu (du)-đa-lâu 耶輸多樓. T 5, danh sách 10 người: Huyền Điểu 玄鳥, Thời Tiên 時仙, Sơ Động 初動, Thức
Hiền 式賢, Thục Hiền 淑賢, Khoái Hiền 快賢, Bá Tông 伯宗, Kiêm Tôn 兼尊, Đức Cử 德舉. Thượng Tịnh 上淨. Danh sách 10 người theo T 6: Huyền Thảm

* Trang 73 *
device

có năm mươi người khác mệnh chung; lại năm trăm người khác nữa mệnh chung, nay không biết họ sinh về chỗ nào?”
A-nan suy nghĩ như thế xong, rời khỏi nơi nhàn tịnh, đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ chân Phật xong, ngồi xuống một bên, bạch Phật:
“Thế Tôn, vừa rồi con ở chỗ nhàn tịnh, lặng lẽ suy nghĩ: Tại thôn Na-đà này có mười hai cư sỹ, Già-giala, v.v…, mạng chung; lại có năm mươi người nữa mạng chung; lại có năm trăm người mạng chung. Không biết họ sinh về đâu. Cúi mong Thế Tôn nói rõcho con.”
Phật bảo A-nan:
“Mười hai cư sỹ kia, Già-già-la, v.v…, đã đoạn năm hạ phần kết nên mệnh chung sinh thiên;57 họ nhậpNiết-bàn58 ở đó chứ không trở lại cõi này nữa. Còn năm mươi người kia mạng chung, do đoạn trừ ba kết sử; tham dục, sân hận, ngu si đã vơi mỏng, đắc quảTư-đà-hàm,59 sẽ trở lại cõi này để dứt hết gốc khổ. Còn năm trăm người kia mạng chung, do đoạn trừ ba kết sử, đắc quả Tu-đà-hoàn,60 không còn bị đọa vào ác thú, chắc chắn thành đạo, chỉ trở lại cõi này bảy lần đểdứt hết gốc khổ rồi thôi.
“Này A-nan, phàm có sinh thì có chết, đó là lẽ thường của cuộc đời, có gì là quái lạ. Nếu [13b] thấy mỗi người chết, ngươi đều tới hỏi Ta, như vậy chẳng làquấy rầy ư?”
A-nan đáp:
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn, quả là quấy rầy.”
Phật bảo:
__________________________
玄黮, Thời Tiên 時仙, Sơ Động 初動, Hoặc Chấn 或震, Thục Lương 叔良, Khoái Hiền 快賢, Bá Tông 伯
宗, Kiêm Dốc 兼篤, Đức Xưng 德稱, Tịnh Cao 淨高. Pāli, Danh sách những người chết được đề cập, D. 16: Tỳ-kheo Sālada, Tỳ- kheo-ni Nandā, cư sĩ Sudatta, nữ cư sĩ Sujatā, và các cư sĩ Kakudha, Kāliṅga, Nikata, Katissabha, Tuttha, Santuttha, Bhadda.
57 Tái sinh lên cõi trời Tịnh cư. T 5: đắc Bất hoàn đạo 不還道. T 6: đến Bất hoàn địa 不還地.
58 T 5: đắc Ứng chân đạo 應真道(A-la-hán).
59 T 6: thăng Tần lai địa 昇頻來地.
60 T 5, T 6: đắc Cấu cảng (đạo) 溝港(道).

* Trang 74 *
device

“A-nan, nay Ta sẽ nói cho ngươi về Gương Pháp,61 đểcác Thánh đệ tử biết chỗ thọ sinh; dứt hết ba đường dữ, chứng quả Tu-đà-hoàn, không quá bảy đời sẽ tận cùng biên tế của khổ; và cũng có thể nói việc ấy cho người khác nghe.
“Này A-nan, Gương Pháp là, Thánh đệ tử đã đạt được bất hoại tín,62 hoan hỷ tin Phật là đức Như Lai, Vô SởTrước, Đẳng Chính Giác, đầy đủ mười hiệu. Hoan hỷtin Pháp, là giáo pháp chân chính vi diệu, được Phật khéo thuyết,63 không cuộc hạn thời tiết, chỉ bày con đường đi đến Niết-bàn; được thực hành bởi kẻ trí.64
Hoan hỷ tin Tăng là, chúng khéo hòa đồng, sở hành chất trực không dối trá, và chứng thành đạo quả, trên dưới thuận hòa, đầy đủ pháp thân, hướng Tu-đà-hoàn, quả Tu-đà-hoàn, hướng Tư-đà-hàm và quả Tư đàhàm, hướng A-na-hàm và quả A-na-hàm, hướng Ala- hán và quả A-la-hán. Ấy là bốn đôi tám bậc, chúng Hiền Thánh của Như Lai, xứng đáng được cung kính, làm ruộng phước cho đời.65 Tin giới của Hiền Thánh là thanh tịnh, không uế tạp, không bị sứt mẻ, không
rò rỉ, được các bậc minh triết tu theo mà chứng
____________________________
61 Pháp kính 法鏡. D16 (ii 93): dhammādāsa, tấm gương pháp, gương để soi rọi sự thật.
62 Bốn bất hoại tín 不壞信. T 6: tứ hỷ 四喜. Cf. Tập dị 5 (tr. 393b7): bốn chứng tịnh 四證淨. Pl.: aveccappasāda/ Skt. avetya-prasāda.
63 Hán: tự tứ sở thuyết 自恣所說, do Phật tự ý nói ra. Bản Hán ở đây có lẽ hiểu svākhāto (Skt. svākhyāta) là sva (tự mình)-ākhāta, thay vì su (khéo léo)-ākhāta. Pl.: svākhāto, thiện thuyết: pháp được Thế Tôn giảng thuyết một cách thiện xảo.
64Tập dị, ibid, Pháp chứng tịnh: Phật chánh pháp, thiện thuyết, hiện kiến, vô nhiệt, ứng thời, dẫn đạo, cận quán, trí giả nội chứng 佛正法善說現見無熱應時引導近觀智者內證. Pl, định cú: svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassikoopaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti.
65Tập dị, ibid., Tăng chứng tịnh: Phật đệ tử cụ túc diệu hành, chất trực hành, như lý hành, pháp tùy pháp hành (..) , như vậy tổng quát có bốn đôi tám bậc, Phật đệ tử chúng giới cụ túc, định cụ túc, tuệ cụ túc, giải thoát cụ túc, giải thoát trí kiến cụ túc, ứng thỉnh, ứng
khuất, ứng cung kỉnh, vô thượng phước điền, thế sở ứng cúng 佛弟子具足妙行質直行如理行法隨法行和敬行隨法行如是總有四雙八隻補特伽羅佛弟子眾戒具足定具足慧具 足解脫具足解脫智見具足應請應屈應恭敬無上福田世所應供. Pāli: định cú: suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho,ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavatosāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅghoyadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavatosāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti.

* Trang 75 *
device

đến tam-muội định vậy.
“A-nan, đó là Gương Pháp, khiến Thánh đệ tử biết chỗ thọ sinh, dứt sạch ba đường dữ, chứng đắc Tu-đà hoàn, không quá bảy đời hoàn tất tận cùng biên tế của khổ; và cũng có thể nói cho người khác sự việc ấy.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở đó, bèn bảo A-nan hãy cùng đi đến nước Tì-xá-li.66 A-nan vânglời, mang y cầm bát, cùng với đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ Bạt-kì67 đến Tì-xá-li và ngồi nghỉ ở một gốc cây.
Bấy giờ có một dâm nữ tên Am-bà-bà-lê68 vừa nghe Phật cùng các đệ tử đến Tì-xá-li, đang ngồi dưới một gốc cây, liền sửa soạn xe báu, muốn đi đến chỗ Phật để lễ bái cúng dường. Khi chưa đến nơi, từ xa nàng đã thấy đức Thế Tôn diện mạo đoan chính, các căn đặc biệt khác thường, tướng tốt đầy đủ, như mặt trăng ở giữa những vì sao. Nàng rất hoan hỷ, xuống xe đi bộ
lần tới chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên.
Rồi Thế Tôn, theo thứ lớp thuyết pháp, khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, khiến cho hoan hỷ. Nghe Phật nói xong, nàng phát tâm hoan hỷ, quỳ bạch Phậtrằng:
“Kể từ hôm nay, con quy y Tam tôn. Cúi nguyện Phật nhận lời cho con được làm ưu-bà-di ở trong Chính pháp, trọn đời con không giết, không trộm,không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”
Lại bạch Phật:
“Cúi mong Thế Tôn cùng các đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của con. Còn tối nay, xin nghỉ tại vườn của con.”[13c]
Khi ấy Phật im lặng nhận lời.
Nàng thấy Phật đã im lặng nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi đảnh lễ mà trở về. Nàng đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ta cùng các ngươi đi đến khu vườn kia.”
______________________________
66 Tì-xá-li 毗舍離. T 5, T 6: Duy-da-li quốc 維耶梨國. Pl: Vesāli.
67 Nên hiểu là từ Na-đà (Nādikā) Phật đi đến Tì-xá-li.
68 Am-ba-bà-lê 菴婆婆梨. T 5. T 6: Nại nữ 奈女. Pl.:Ambapālīgaṇikā.

* Trang 76 *
device

Đáp:
“Thưa vâng.”
Phật bèn rời chỗ ngồi, ôm y cầm bát cùng chúng đệ tửmột nghìn hai trăm năm mươi vị đi đến khu vườn ấy.
Lúc bấy giờ, nhóm người Lệ-xa69 ở Tì-xá-li, nghe Phật đến nghỉ tại vườn của Am-bà-bà-lê liền thắng những cỗ xe báu năm sắc lộng lẫy; có người cỡi xe
xanh, ngựa xanh, phướn, lọng, áo mão đều xanh; ngựa xe năm sắc đều như vậy. Rồi thì, những người Lệ-xa với y phục đồng sắc, cả năm trăm người kéo đến Phật.
Nàng Am-bà-bà-lê sau khi từ giã Phật trở về, giữa đường gặp xe họ. Lúc đó, xe nàng chạy rất nhanh,cùng với xe báu của họ móc kéo nhau, khiến phướn lọng gãy đổ cả, mà vẫn không chịu tránh đường. Các người Lệ-xa trách:
“Nàng ỷ thế gì mà không tránh đường cho chúng tôi đi, để tông xe cộ chúng tôi khiến phướn lọng gãy cả?”
Am-bà đáp:
“Thưa quý ngài, tôi đã thỉnh Phật ngày mai đến nhàtôi thọ trai. Tôi phải về gấp sửa soạn đồ cúng dường, thành phải đi nhanh, không tránh kịp.”
Nhóm Lệ-xa liền bảo nàng:
“Nàng khoan hãy thỉnh. Để chúng tôi thỉnh trước. Chúng tôi sẽ cho nàng một trăm ngàn lượng vàng.”
Nàng đáp:
“Tôi đã thỉnh trước rồi; không thể nhường được.”
Nhóm Lệ-xa tiếp:
“Chúng tôi sẽ tặng nàng gấp mười sáu lần trăm ngàn lượng vàng. Hãy để chúng tôi thỉnh trước.”
Nàng vẫn không chịu:
“Tôi đã thỉnh rồi. Nhất định không thể làm như thế được.”
Các Lệ-xa lại nói:
“Chúng tôi sẽ tặng bằng số tài bảo nửa nước; nàng hãy để chúng tôi thỉnh trước.”
_________________________
69 Lệ xa 隸車. T 6: Li-xa 離車. Pl.: Licchavi.

* Trang 77 *
device

Nàng trả lời:
“Giả sử đem tài bảo của cả nước cấp tôi, tôi cũng không nhận. Vì sao? Vì Phật hiện ở tại vườn tôi, Ngài đã nhận lời tôi thỉnh trước. Việc ấy đã xong, không thể nhường được.”
Các Lệ-xa khoa tay than tiếc rằng:
“Hôm nay cô gái này đã dành mất phúc đầu của chúng ta.”
Họ liền tiến tới khu vườn Phật đang ở. Khi đức Thế Tôn từ xa thấy năm trăm người Lệ-xa, với ngựa xe số vạn, chật đường đang tiến đến, Ngài bảo các
Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết chư Thiên Đao-lị khi đi dạo công viên, uy nghi và sự trang sức cũng không khác đoàn người đó mấy. Này các Tỳ-kheo, hãy tự nhiếp tâm, gìn giữ oai nghi đầy đủ. Tỳ-kheo tự nhiếp tâm mình như thế nào? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, siêng năng không lười biếng, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thân trên ngoại thân,… quán nội ngoại thân,… [14a] trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán tâm,70 quán pháp cũng như thế.71
Thế nào là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi? Ở đây, Tỳ-kheo, khi đi thì biết là đi, dừng thì biết là dừng, quay nhìn tả hữu, co duỗi, cúi ngước, mang y cầm bát, cho đến việc ăn uống, thuốc thang, đều không để mất nghi tắc. Khéo léo tầm cầu phương tiện trừ bỏ ấm cái,72 đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ hay thức, nói năng hay im lặng đều nhiếp tâm đừng cho loạn động. Đấy gọi là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi.”
Bấy giờ năm trăm người Lệ-xa đi đến vườn Ambà-bà-lê. Gần đến chỗ Phật, xuống xe đi bộ đến, đầu mặt đảnh lễ chân Phật, rồi lui ngồi một bên. Như Lai ở trên chỗ ngồi, ánh sáng độc nhất tỏa sáng che mờ đại chúng, như trăng mùa thu; lại như trời đất trong sáng, sạch sẽ không chút bụi dơ, mặt trời giữa hư không độc nhất tỏa sáng. Rồi thì, năm trăm người Lệ-xa ngồi hầu vây quanh; Phật ở giữa đại chúng, ánh sáng độc nhất tỏa sáng. Lúc ấy, giữa hội chúng có một người Phạm chí tên là
______________________________
70 Nguyên Hán: quán ý意. Pl: citte cittānupassī.
71 Bốn niệm xứ 念處, hay niệm trụ 念住(Pl.: satipaṭṭhāna), D16: Phật giảng trước khi kỹ nữ Ambapālī đến, theo Sớ giải, để cảnh giác các Tỳ kheo trẻ hãy giữ chánh niệm vì cô nàng quá đẹp.
72 Ấm cái 陰蓋, tức 5 triền cái 纏蓋. Pl., Skt.: nivāraṇa.

* Trang 78 *
device

Tịnh-kí,73 từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo vai hữu, đầu gối hữu quỳ xuống đất, chắp tay hướng về Phật, tán thán bằng bài kệ rằng:
Vua Ma-kiệt Ương-già,74
Vốn được nhiều thiện lợi,
Khoác khôi giáp bảo châu:
Phật hiện ở nước ấy.
Uy đức động Ba nghìn,
Tiếng vang như núi Tuyết.
Như hoa sen đã nở,
Mùi hương thật mầu nhiệm.
Nay thấy ánh sáng Phật,
Như mặt trời mới mọc;
Như trăng qua bầu trời,
Không bị mây che khuất.
Thế Tôn cũng như vậy,
Sáng chiếu cả thế gian.
Quán trí tuệ Như Lai
Như tối gặp đuốc sáng;
Đem mắt sáng cho đời,
Quyết trừ các nghi hoặc.75
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe bài kệ ấy lại bảo Tịnh-kí:
“Ngươi hãy lặp lại.”
Rồi Tịnh-kí ở trước Phật lặp lại ba lần. Năm trăm Lệ-xa sau khi nghe lặp lại bài kệ, mỗi người cởi y báu mà cho Tịnh-kí. Tịnh-kí bèn đem y báu dâng đức Như Lai. Phật vì lòng từ mẫn nên thọ nhận.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với những người Lệ-xa ở Tì xá-li rằng:
“Ở đời có năm thứ báu rất khó có được. Những gì là năm? Một là Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở đời, điều này rất khó có được. Hai là người có thể giảng thuyết Chính pháp của Như Lai; người ấy rất khó có được.
_______________________
73 Tịnh Ký 并暨(?). T 5: Tân-tự 賓自. T 6: Tịnh-tiêm 并纎. Tứ phần 40, tr. 856b3: bà-la-môn Tân-kì-dưong-nậu 賓耆羊菟. Ngũ phần 20,tr. 135c19: Ma-nạp Tân-kì-da 摩納賓祇耶. Pāli:?
74 Ngũ phần 20, tr. 135c21: vua Bình-sa 瓶沙. Pāli, Vin. i 27:Aṅgamagadha, chỉ vua Bimbisāra.
75 Nguyên văn Hán dịch bài tụng, như Tứ phần 40, tr. 856b7.

* Trang 79 *
device

Ba là người có thể tín giải pháp mà Như Lai diễn thuyết; người ấy [14b] rất khó có được. Bốn làngười có thể thành tựu pháp mà Như Lai diễn thuyết; người ấy rất khó có được. Năm là hiểm nguy được cứu ách mà biết đáp trả, hạng người ấy cũng rất khócó.76 Ấy là 5 thứ báu rất khó có được”
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe Phật khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ, liền bạch Phật;
“Cúi mong Thế Tôn và chúng đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của chúng con.”
Phật nói với các người Lệ-xa:
“Các khanh đã thỉnh Ta. Ta nay như thế là đã được cúng dường rồi. Kỹ nữ Am-bà-bà-lê đã thỉnh trước.”
Năm trăm người Lệ-xa nghe Am-bà-bà-lê nữ đã thỉnh Phật trước, ai nấy đều vung tay mà nói rằng:
“Chúng ta muốn cúng dường Như Lai, mà nay người đàn bà kia đã phổng tay trên ta rồi.”
Rồi họ rời chỗ ngồi, đầu mặt lễ Phật, đi quanh Phật ba vòng, sau đó ai về nhà nấy.
Bấy giờ, Am-bà-bà-lê nữ bèn bày dọn thực phẩm thượng diệu để cúng Phật và Tăng. Sau khi ăn xong, thâu bát, dẹp bàn ghế. Rồi kỹ nữ tay bưng bình bằng vàng dâng nước rửa xong, nàng đến trước Phật bạch rằng:
“Trong số những khu vườn trong thành Tì-xá-li này,vườn của con là hơn hết. Nay con đem vườn ấy dâng cúng Như Lai. Ngưỡng nguyện Như Lai vì thương tưởng con mà thọ nhận.”
Phật nói với người kỹ nữ:
“Cô hãy đem khu vườn này cúng dường cho chiêu-đề Tăng mà Phật là vị đứng đầu.77 Vì sao vậy? Các thứ vườn tược, phòng xá, y bát, sáu vật
_______________________________
76 Cf. Tứ phần 40, năm thứ báu khó có trong đời: 1. gặp Phật ra đời; 2. Nghe Phật nói pháp rồi nói lại cho người khác; 3. tin hiểu pháp của Phật; 4. như pháp tu hành; 5. Lần lượt giáo hoá lẫn nhau để cùng được lợi ích.
77 Chiêu đề tăng 招提僧, hay tứ phương tăng 四方僧; Pl.: cātuddisa-saṅgha. Cf. Ngũ phần 20, tr. 136a14: “Hãy cúng dường Tăng, trong đó có Ta.” D 16 (ii. 97), Vin. i. 232: imāhaṃ, bhante,ambavanaṃ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa

* Trang 80 *
device

mà Như Lai sở hữu, ngay dù những Ma, Thích, Phạm, Chư Thiên có đại oai lực, không ai có khả năng kham thọ sự cúng dường ấy.”
Kỹ nữ thọ lãnh lời dạy, bèn đem khu vườn mà cúng dường chiêu-đề Tăng mà Phật là vị đứng đầu. Phật vì lòng từ mẫn đối với nàng nên thọ nhận. Rồi Ngài nói
bài kệ:
Dựng tháp, lập tinh xá,
Cúng vườn cây mát mẻ;
Cầu thuyền để đưa người;
Đồng hoang cho cỏ, nước;
Và cho cả nhà, gác:
Phước ấy ngày đêm tăng.
Cho người giới thanh tịnh,
Ắt sẽ đến chỗ lành.78
Sau đó, kỹ nữ Am-bà-bà-lê mang một cái giường nhỏ79 đến ngồi trước Phật. Phật theo thứ lớp nói pháp, khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Ngài giảng về thí, về giới, về sinh thiên, về dục là đại hoạn, ô uế, bất tịnh, là hữu lậu, là chướng ngại, xuất ly là tối thượng.
Khi Thế Tôn biết tâm ý của nàng đã nhu nhuyến, hòa duyệt, các triền cái vơi mỏng, rất dễ [14c] hoá độ, như pháp của chư Phật, Ngài bèn giảng cho nàng về Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt và Khổ diệt xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Am-bà-bà-lê, tín tâm thanh tịnh, như tấm lụa trắng trong sạch dễ nhuộm màu, ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, con mắt pháp của các pháp sinh, thấy pháp, đắc pháp, quyết định chính trụ, không còn đọa ác đạo, thành tựu vô úy.
Nàng bèn bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.” Nói ba lần như vậy. “Cúi mong Như Lai nhận con làm một Ưu-bà-di trong Chính pháp. Từ nay về sau, cho đến trọn đời, không giết, không trộm, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu.”
Người nữ ấy sau khi thọ lãnh năm giới từ Phật, xả bỏ tập quán từ trước,
_______________________
dammī”ti,“Bạch Đại Đức, nay con cúng dường khu vườn đến Tăng mà đứng đầu là Phật.”
78 Bài tụng, xem Tứ phần 40, tr. 856c14.
79 Hán: tiểu sàng 小牀; nên hiểu là “chỗ ngồi thấp” thay vì là “cái giường nhỏ.” Pāli: nīcaṃ āsanaṃ, chỗ ngồi thấp, khiêm tốn.

* Trang 81 *
device

tiêu trừ những cấu uế, rời khỏi chỗngồi, lễ Phật rồi lui.
 
Bấy giờ, Thế Tôn tùy nghi trú ở Tì-xá-li, rồi bảo Anan:
“Các ngươi hãy sửa soạn. Ta muốn đi đến Trúc lâm.”80
Đáp:
“Kính vâng.”
Rồi sửa soạn y bát, cùng đại chúng hầu quanh ThếTôn, đi theo con đường từ Bạt-kì81 đến Trúc lâm kia.
Lúc ấy có người Bà-la-môn tên là Tì-sa-đà-da,82nghe Phật cùng đại chúng đến Trúc lâm này, liền thầm nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm này có tiếng tốt đồn khắp bốn
phương, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Thích, Phạm, Ma hay Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tựmình tác chứng, rồi thuyết pháp cho người khác, với những ngôn từ mà khoảng đầu, giữa và cuối thảy đều chân chính, nghĩa vị thâm áo, phạm hạnh đầy đủ. Bậc Chân nhân như thế, ta nên đến thăm viếng.”
Rồi Bà-la-môn ra khỏi thành, đi đến Thế Tôn chỗrừng trúc; chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Thế Tôn theo thứ lớp thuyết pháp cho ông, khai thị, giáo huấn, khiến cho ích lợi, hoan hỷ. Nghe xong, hoan hỷ, ông bèn thỉnh Thế Tôn cùng đại chúng ngày mai đến nhàthọ thực. Phật im lặng nhận lời. Bà-la-môn biết Ngài đã nhận lời, liền đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi cáo về.
Vào ngay đêm đó dọn bày các thứ ẩm thực. Sáng mai, lúc đã đến giờ, bèn báo tin:
“Cúi mong đức Thánh biết biết thời.”
Bấy giờ Thế Tôn khoác y ôm bát, cùng đại chúng vây quanh, đi đến nhà kia, ngồi lên chỗ dọn sẵn. Rồi thì, Bà-la-môn dâng đủ các thực phẩm ngon cúng Phật vàTăng. Ăn xong, thâu bát, dùng nước rửa xong, ông mang một cái giường nhỏ đến ngồi trước Phật. ThếTôn vì Bà-la-môn
______________________________
80 Trúc lâm 竹林叢. T 5: đi đến xóm Trúc phương 竹芳聚. T 6: tụlạc Vệ-sa 衛沙聚. Pl.: Beḷuva/Veḷuva.
81 D16: Phật từ vườn Ambapālī đi đến làng Beḷuva (=Veḷuvagāmaka).
82 Tì-sa-đà-da 毘沙陀耶.

* Trang 82 *
device

mà nói một bài tụng:
Nếu đem ẩm thực,
Y phục, ngọa cụ,
Cho người trì giới,
Tất được quả lớn.
[15a] Đó là bạn thật,
Chung thủy theo nhau;
Đến bất cứ đâu,
Như bóng theo hình.
Vậy nên gieo thiện,
Làm lương đời sau.
Phước là nền tảng,
Chúng sinh an trụ.
Phước là thiên hộ,
Đường đi không nguy.
Sống không gặp nạn;
Chết được sinh thiên.
Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu cho Bà-la-môn; khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, Ngài rời chỗ ngồi mà đi.
Lúc ấy, ở địa phương này thóc quý, đói kém, nên khất thực khó được. Phật bảo A-nan:
“Hãy gọi các Tỳ-kheo hiện ở địa phương này tập họp ở giảng đường.”
A-nan đáp vâng, rồi thừa lệnh Phật kêu gọi các Tỳ- kheo xa gần về tập họp hết ở giảng đường. Sau khiđại chúng trong nước này đều đã tập họp, A-nan bạch Phật:
“Đại chúng đã tập họp. Cúi mong đức Thánh biết thời.”
Bấy giờ, Phật rời chỗ ngồi, đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ dọn sẵn, bảo các Tỳ-kheo:
“Đất này đói kém, khất thực khó khăn, các ngươi nên chia thành từng nhóm, tùy theo chỗ quen biết, hãy đến Tì-xá-li và nước Việt-kì83 mà an
________________________
83 Việt-kì 越祇, có lẽ âm khác của Bạt-kì. D. 16: năm đó Phật an cư ở Veluvā còn chúng Tỳ-kheo an cư ở Vesāli. Không nhắc đến vụ đói, nhưng có nhắc đến Thế Tôn bịnh. T 5: Duy-da-lê 維耶梨gặp nạn đói. Phật và A-nan ở lại Trúc phương, còn các Tỳ kheo đi đến
nước Sa-la-đề 沙羅提đang hồi sung túc.

* Trang 83 *
device

cư ở đó để có thể không bị thiếu thốn. Ta một mình cùng với A-nan an cư ở đây.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ra đi. Riêng Phật với Anan ở lại. Về sau, trong lúc an cư, thân Phật nhuốm bịnh, khắp cả mình đều đau nhức. Phật tự nghĩ: “Ta nay cả người đều đau nhức mà các đệ tử đều không ở đây. Nếu Ta nhập Niết-bàn thì không thích hợp. Vậy Ta hãy tinh cần tự lực lưu lại thọ mạng” Rồi Thế Tôn ra khỏi tịnh thất, đến ngồi chỗ mát mẻ. A-nan trông thấy liền vội đến, bạch Phật rằng:
“Nay con xem gương mặt Thế Tôn, bịnh hình như có bớt.”
A-nan lại nói:
“Thế Tôn bịnh, tâm con sợ hãi, lo buồn thắt chặt, hoang mang không biết phương hướng. Nhưng hơi thở chưa dứt, còn chút tỉnh táo, con thầm nghĩ rằng: Thế Tôn chưa diệt độ ngay, con mắt của đời chưa tắt, Đại pháp chưa suy tổn, sao nay Ngài không có điều gì dạy bảo các đệ tử?” 84
Phật bảo A-nan:
“ChúngTăng còn có điều gì cần ở Ta nữa? Nếu có ai tự nói: ‘Ta duy trì chúng Tăng, ta nhiếp hộ chúng Tăng’, thì người ấy nên có giáo mệnh cho chúng Tăng. Như Lai không nói: ‘Ta duy trì chúng Tăng. Ta nhiếp hộ chúng Tăng.’85 Vậy tại sao Ta lại phải có giáo mệnh cho chúng Tăng? [15b] Này A-nan,những pháp Ta đã giảng thuyết, trong cũng như ngoài đều đã hoàn tất.86 Ta không bao giờ tự xưng sở kiến thông đạt. 87 Ta nay
___________________________
84 D16 (ii. 100): na tāva bhagavā parinibbāyissati, na yāva bhagavā bhikkhusaṅghaṃ ārabbha kiñcideva udāharatī ti, “chừng nào Thế Tônchưa có di giáo cho chúng Tỳ kheo, khi ấy Thế Tôn chưa nhập diệt.”
85 D. 16 (ii tr. 100): tathāgatassa kho, ananda, na evaṃ hoti: ahaṃbhikkhusaṅghaṃ pariharissāmī ti vā mam uddesiko bhikkhusaṅgho”ti vā: Như Lai không nghĩ rằng: “Ta lãnh đạo chúng tỳ kheo, haychúng Tỳ-kheo được Ta chỉ giáo.”
86 Hán: nội ngoại dĩ ngật 內外已訖. D. 16, ibid.: anantaram abāhiramkaritvā: không phân biệt trongvà ngoài, tức nội truyền hay ngoạitruyền, bí mật giáo hay hiển thị giáo.
87 Hán: chung bất tự xưng sở kiến thông đạt 終不自稱所見通達. Có thể bản Hán dịch sai. D. 16, ibid.: na tatth’ānanda tathagatassadhammesu ācariyamuṭṭhi, “Này A-nan, trong giáo pháp, Như Lai không bao giờ là vị thầy có bàn tay nắm chặt .” Nghĩa là dấu diếm,không chỉ dạy hết. Bản Hán hình như đọc nhầm ācariyamuṭṭhi: vịthầy có bàn tay nắm chặt, với ācariyamuti: vị thầy có trí sáng suốt. T 6: Phật vi

* Trang 84 *
device

đã già rồi, tuổi đã đến tám mươi rồi. Cũng như cỗ xe cũ kỹ, nhờ lực phương tiện tu sửa mà có thể đi đến nơi. Thân ta cũng vậy, nhờ sức
phương tiện còn duy trì được một ít tuổi thọ, tự lực tinh tấn mà nhẫn chịu sự đau nhức này. Khi Ta không suy niệm tất cả tưởng, nhập vô tướng tâm định,88 thân an ổn, không có não hoạn. Vì vậy, A-nan, hãy tự thắp sáng mình; thắp sáng bởi pháp, chớ thắp sáng bởi cái khác. Hãy tự nương tựa mình, nuơng tựa nơi pháp, chớ nương tựa nơi khác.89 Thế nào là ‘Hãy tự thắp
sáng mình; thắp sáng bởi pháp, chớ thắp sáng bởi cái khác; hãy tự nương tựa mình, nuơng tựa nơi pháp,chớ nương tựa nơi khác’? Này A-nan, Tỳ-kheo quán nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời.90 Quán ngoại thân; quán nội ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớkhông quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán tâm, quán pháp cũng vậy. Này A-nan, đó gọi là ‘Hãy tự thắp sáng mình; thắp sáng bởi pháp, chớ thắp sáng bởi cái khác; hãy tự nương tựa mình, nuơng tựa nơi pháp, chớ nương tựa nơi khác …’ Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu ai có thể tu hành pháp này, người đó làđệ tử chân thật của Ta, là bậc nhất hữu học.”
Phật bảo A-nan, hãy cùng đi đến tháp Giá-bà-la.91Anan vâng lời. Như Lai bèn rời chỗ ngồi, mang y cầm bát đến dưới một gốc cây, bảo A-nan:
“Hãy trải chỗ ngồi. Ta đau lưng, muốn nghỉ lại đây.”
_____________________________
pháp sư không bỉ sót điều gì. Bản Hán này hiểu Pl. muṭṭhi hay Skt. muṣṭi, là “sự quên sót” do bởi phân từ Skt. muṣita (= muṣṭa): bị bỏ quên, bi đánh cắp.
88 Vô tưởng định 無想定. Chính xác nên hiểu là vô tướng định, hay vô tướng tâm định. Các Thánh giả không bao giờ nhập vô tưởng định. D. 16, ibid.: animittam cetosamādhim upasampajja, chứng
nhập vô tướng tâm định.
89 Hán: đương tự xí nhiên… 當自熾然. D16 ibid..: attadīpā viharatha attasaraṃā anaññasaraṃā, dhammadīpā dhammasaraṃāanaññasaraṃnā: hãy sống tự mình là hòn đảo của chính mình; tựmình là chỗ tựa của chính mình, không nương tựa nơi nào khác. Pháplà hòn đảo, pháp là chỗ tựa, không chỗ tựa nào khác... Pl. dīpa, vừacó nghĩa là ngọn đèn ( = Skt.), vừa có nghĩa là hòn đảo (Skt. dvipa).Bản Hán có thể đọc là dīpta: được chiếu sáng/ thắp sáng.
90 Pāli, định cú: atāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, (…) nhiệt hành, chánh trí, chánh niệm, chếngự tham ưu ở đời.
91 Giá-bà-la tháp 遮婆羅塔. T 7: Giá-ba-la chi-đề 遮波羅支提.Pl.: Cāpāla-cetiya.

* Trang 85 *
device

An-nan đáp:
“Vâng.” Rồi trải chỗ ngồi. Sau khi Như Lai đã ngồixuống, A-nan dọn một chỗ ngồi nhỏ ngồi trước Phật.
Phật nói:
“Này A-nan, những ai tu bốn thần túc, tu tập nhiều, thường ghi nhớ không quên, người ấy tùy theo ý muốncó thể kéo dài tuổi thọ hơn một kiếp. A-nan, Phật đãtu tập nhiều bốn thần túc, chính niệm, chính tri, tùy theo ý muốn, Như Lai có thể sống hơn một kiếp, đểtrừ minh ám cho đời, đem lại nhiều lợi ích, trời vàngười đều được an ổn.”
Lúc bấy giờ A-nan im lặng không trả lời. Phật nói như vậy ba lần, A-nan cũng im lặng không trả lời.Khi ấy A-nan bị ma ám, mê muội không tỏ rõ. Phật đãba lần hiện tướng, nhưng A-nan không biết mà thỉnh. Phật bảo A-nan: “Hãy biết thời.” A-nan vâng ýchỉ của Phật, đứng dậy lễ Phật rồi lui. A-nan đi cách Phật không xa, ngồi dưới một gốc cây, tĩnh ý tư duy.
Trong khoảng thời gian không lâu, Ma Ba-tuần92 đến bạch Phật:
“Ý Phật chưa muốn vào Niết-bàn sớm.93 Nay chính [15c] là lúc, Phật nên nhanh chóng diệt độ.”
Phật bảo ma Ba-tuần:
“Hãy thôi! Hãy thôi! Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn đợi chúng Tỳ-kheo của Ta hội đủ, lại có thể tự điều phục, dũng mãnh, không khiếp sợ, đã đến chỗ an ổn, đã đạt được mục đích của mình, là hướng đạo của loài người, rao giảng kinh giáo, hiển bày cú nghĩa, nếu có dị luận thì có thể hàng phục bằng Chính pháp, lại có thể bằng thần biến mà tự mình tác chứng.94 Các đệ tử như thế chưa hội đủ. Lại còn cócác Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, tất cả cũng nhưthế, đều chưa tụ hội đủ. Nay cần phải quảng bố phạm hạnh, diễn rộng giác chi, khiến cho Chư Thiên và loài người thảy đều thấy được sự thần diệu.”
_______________________________
92 Ma Ba-tuần 魔波旬. T 5: Tệ Ma 弊魔. Pl.: Māra pāpimant, Ác ma.
93 Nguyên văn: Phật ý vô dục khả bát-niết-bàn 佛意無欲可般涅槃. TNM không có từ Phật. T 6: “Ý Phật muốn chưa thể nhậpNiết-bàn. Chừng nào giáo hóa đã xong, mới diệt độ.”
94 D16 (ii.104): na tāvāhaṃ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva mebhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā (…)sappāṭihāriyaṃ dhammaṃ desessantī’ti,” Ta chưa nhập Niết-bàn,
chừng nào các Tỳ kheo đệ tử của Ta chưa thành những người có năng lực, được điều phục, tự tín… chưa thể diễn thuyết pháp bằng thần biến thị đạo.

* Trang 86 *
device

Bấy giờ Ma Ba-tuần lại bạch Phật:
“Thuở xưa, ở Uất-tì-la bên dòng sông Ni-liên-thuyền,95 dưới gốc cây a-du ba ni-câu-luật,96 Phật khi mới thành chính giác, tôi đã đến chỗ Như Lai mà khuyên mời Ngài hãy nhập Niết-bàn rằng: ‘Nay thật là đúng lúc, Ngài hãy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi ấy Như Lai trả lời tôi rằng: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn
đợi đệ tử Ta hội đủ đã, v.v... cho đến,97 Chư Thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập Niết-bàn.’ Nay chính là lúc ấy, sao Ngài không nhập Niết-bàn?”
Phật nói:
“Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời. Ta không trụ thế bao lâu nữa. Sau ba tháng nữa, tại trú xứ Bản sinh,98 thành Câu-thi-na-kiệt,99 trong rừng sa-la, giữa đôi cây, Ta sẽ diệt độ.”
Lúc ấy, Ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, nhất định sẽ diệt độ, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, Phật ở nơi
tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, xả mạng, an trú thọ.100 Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Nhân dân cả nước thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt đến vô cùng, nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Thế Tôn nói kệ tụng rằng:
__________________________
95 Uất-Tì-la Ni-liên-thiền 鬱鞞羅尼連禪. T 6: bên sông Ẩu-lưu 傴留河. Pl: Nerañjara ở Uruvela.
96 A-du-ba ni-câu-luật 阿遊波尼俱律樹. Pl. ajapāla-nigrodha.
97 Lặp lại nguyên văn đoạn trên.
98 Bản sinh xứ 本生處. Pl.: upavattana Mallānaṃ, tức Lực sĩ Bản sinh xứ, sinh địa của chủng tộc Malla.
99 Câu thi na kiệt 拘尸那竭. Pl.: Kusinagara.
100 Hán: xả mạng trú thọ 捨命住壽: xả mạng căn, giữ lại thọ hành.Bản hán có thể nhầm. Nên hiểu, xả thọ hành, và lưu mạng căn.Pāli, D 16 (ii. 98) … jīvitaṃ adhiṭṭhāya (sau khi duy trì mạng
căn) …(ibid. tr. 106) āyusaṅkhāraṃ ossajji (Thế Tôn xả thọ hành). Tham chiếu, Koṣabhāṣya, ii. k 10, tr. 44: sutra uktam,bhagavān jīvitasaṃskārān adhiṣṭhāyāyuḥsaṃskārān utsṛṣṭavān,
trong Kinh có nói, Thế Tôn sau khi lưu lại các mạng hành rồi xả các thọ hành. Hán dịch, Huyền Trang (Câu-xá 3, tr. 15c): Kinh thuyết, Thế Tôn lưu đa mạng hành, xả đa thọ hành 經說世尊
留多命行捨多壽行. T 5: phóng khí thọ mạng 放棄壽命. T 6: bất trú tánh mạng, khí dư thọ hành 不住性命棄餘壽行. D 16 (ii106) sato sampajāno āyusaṃkhāraṃ ossaji, chánh niệm, chánh
trí, xả bỏ thọ hành.

* Trang 87 *
device

Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.
Nội tâm chuyên chính định,
Như chim ra khỏi trứng.101
Lúc bấy giờ Hiền giả A-nan tâm kinh sợ, lông tóc dựng ngược, vội vàng đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng sang một bên, bạch Phật:
“Lạ thay, Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà đất rung động?”
Phật bảo A-nan:
“Ở đời, có tám nguyên nhân khiến đất rung động. Những gì là tám? Đất y trên nước. Nước y trên gió. Gió y trên hư không. [16a] Trong hư không có ngọn gió lớn có khi tự nổi lên, khi ấy khối lớn nước bị khuấy động. Khối nước lớn bị khấy động thì khắp cả đất rung động. Đó là một nguyên nhân.
“Lại nữa, này A-nan, có khi có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheoni đắc đạo, hoặc tôn thiên Đại thần102 quán thể tính nước nhiều, quán thể tính đất ít, muốn tự thử năng lực của mình, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ hai.
“Lại nữa, này A-nan, khi Bồ-tát từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ ba.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát ra khỏi thai mẹ, sinh từ hông phải, chuyên niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ tư.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát vừa thành Vô thượng Chính giác, ngay lúc ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ năm.
“Lại nữa, A-nan, khi Phật vừa thành đạo chuyển Vô thượng Pháp luân mà Ma hoặc Thiên Ma, Sa-môn, Bà-la-môn thảy đều không thể chuyển, khi ấy khắp
cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ sáu.
___________________________
101 D16 (ii 107): tulamatulañca sambhavaṃ, bhavasaṅkhāramavassaji muni; ajjhattarato samāhito, abhindi kavacamivattasambhavan”ti, “Đức Muni đã xả bỏ nhân tố của tồn tại, vốn là sự sinh khởihữu hạn và vô hạn; nội tâm hoan hỷ, chánh định, như hủy bỏ áogiáp đã sinh ”
102 Đại thần tôn thiên 大神尊天. Pl: devo mahiddhiko mahānubhāvo, thiên thần có đại uy đức, đại thần lực.

* Trang 88 *
device

“Lại nữa, A-nan, khi sự giáo giới của Phật gần hoàn tất, chuyên tâm không tán loạn, Phật xả bỏ mạng căn,103 khi đó khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ bảy.
“Lại nữa, này A-nan, khi Như Lai nhập Niết-bàn trong Niết-bàn giới vô dư,104 khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ tám.
“Do tám nguyên nhân ấy mà đất rung động.”
Rồi Thế Tôn nói bài kệ:
Đấng Lưỡng Túc Tối Tôn,
Đại Sa-môn soi sáng đời,
Được A-nan thưa hỏi:
Nguyên nhân gì đất rung?
Như Lai diễn từ âm,
Tiếng như chim ca-lăng:
Ta nói, hãy lắng nghe,
Nguyên do đất rung động.
Đất nhân y trên nước;
Nước nhân y trên gió.
Nếu gió trổi hư không,
Đất vì thế rung mạnh.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
Muốn thử thần thông lực,
Núi, biển, trăm cây cỏ,
Cõi đất thảy rung động.
Thích, Phạm, các Tôn Thiên,
Ý muốn đất rung động,
Các quỷ thần núi, biển,
Cõi đất thảy rung động.
Bồ tát, Lưỡng Túc Tôn,
Trăm phước tướng đã đủ,
Khi mới nhập thai mẹ,
Khi ấy đất rung động.
Mười tháng trong thai mẹ,
Như rồng nằm thảm đệm;
______________________________
103 Mạng căn, hay mạng hành, Pl. jīvitasaṃkhāra. Nguyên Hán: tánh mạng 性命.
104 Pāli: anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, nhập Niếtbàn (diệt độ) trong Niết-bàn giới vô dư y.

* Trang 89 *
device

Từ hông hữu xuất sinh,
Khi ấy đất rung động.
[16b] Phật khi còn trai trẻ
Tiêu diệt dây kết sử,
Thành đạo thắng vô thượng;
Khi ấy đất rung động.
Thành Phật, chuyển Pháp luân,
Ở trong vườn Lộc dã;
Đạo lực hàng phục ma,
Khi ấy đất rung động.
Thiên Ma nhiều phen thỉnh,
Khuyên Phật nhập Niết-bàn;
Khi Phật xả mạng căn,
Khi ấy đất rung động.
Đại đạo sư, Chí Tôn,
Thần Tiên, không tái sinh,
Vào tịch diệt, bất động;
Khi ấy đất rung động.
Tịnh Nhãn, nói các duyên,
Đất rung vì tám sự.
Do đây và khác nữa,
Khi ấy đất rung động.105
______________________
105 Bản Hán, hết quyển 2.

* Trang 90 *
device

II
[16b18] Phật nói với A-nan:
“Này A-nan, thế gian có tám chúng: một là chúng Sátlị; hai là chúng Bà-la-môn; ba là chúng Cư sỹ; bốn là chúng Sa-môn; năm là chúng Tứ thiên vương; sáu là chúng Đao-lị thiên; bảy là chúng Ma; tám là chúngPhạm thiên.
“Ta nhớ xưa kia, Ta từng qua lại trong chúng Sát-lị, cùng họ nói năng, ngồi đứng, chẳng biết đã bao nhiêu lần. Nhờ định lực tinh tấn mà nơi nào Ta hiện đến, hễ họ có sắc đẹp thì sắc Ta đẹp hơn; họ có tiếng hay thì
tiếng Ta hay hơn. Họ từ giã Ta mà đi, nhưng Ta không từ giã họ. Điều họ nói được, Ta cũng nói được. Điều họ không thể nói được, Ta cũng nói được. Ta thường thuyết pháp cho họ, khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi
ích, khiến cho hoan hỷ, rồi biến mất khỏi nơi đó, mà họ không biết Ta là trời hay là người. Như thế cho đến, Ta từng qua lại trong chúng Phạm Thiên không biết là bao nhiêu lần để thuyết pháp cho họ, mà họ
cũng đều chẳng biết Ta là ai.”
 “A-nan bạch Phật:
“Thế Tôn, thật là kì diệu, chưa từng có, mới có thể thành tựu đuợc như thế.”
Phật nói:
“Pháp vi diệu chưa từng có như vậy, này A-nan, [16c] thật là kì diệu, thật là hy hữu, duy chỉ Như Lai mớithành tựu được.”
Phật lại bảo A-nan:
“Như Lai có thể biết rõ sự sinh khởi, tồn tại và biến mất của thọ;106 biết rõ sự sinh khởi, tồn tại và biến mất của tưởng; sự sinh khởi, tồn tại và biến mất của tầm.107 Đó mới thật là pháp kì diệu chưa từng có của Như Lai, ngươi nên ghi nhớ.”
___________________________
106 Cf. T 26 (tr. 471c21); M. 123 (iii 124).
107 Nguyên Hán: quán 觀, thường đồng nhất với tứ 伺(Pl vicāra). M.123 ibid.: viditā vedanā…, viditā saññā…, viditā vitakkā.

* Trang 91 *
device

Bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo A-nan cùng đi đến Hương tháp,108 rồi tới một gốc cây trải tọa ngồi và bảo A-nan nhóm hết các Tỳ-kheo hiện có mặt chung
quanh Hương tháp lại giảng đường. A-nan vâng lờiPhật dạy, tập họp tất cả, rồi bạch Phật:
“Đại chúng đã tụ tập. Cúi xin đức Thánh biết thời.”
Thế Tôn bèn đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ dọn sẵn. Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
 “Các ngươi nên biết, Ta do những pháp sau đây mà tự thân tác chứng, thành Tối Chính Giác. Đó là bốn niệm xứ, bốn chính cần,109 bốn thần túc, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám chi Thánh đạo.110 Các ngươi hãy nên cùng nhau tu tập ở trong pháp đó, cùng nhau hòa đồng kính thuận, chớ sinh tranh tụng. Cùng đồng một thầy học hãy cùng đồng hòa hợp như nước
với sữa. Ở trong pháp Ta, hãy tinh cần tu học, cùng soi sáng cho nhau, cùng nhau hoan hỷ.
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên biết, Ta tự thân chứng ngộ pháp này, rồi công bố ra nơi đây, tức là, Khế kinh, Kì-dạ kinh, Thọ ký kinh, Kệ kinh, Pháp cú kinh, Tương ưng kinh, Bản duyên kinh, Thiên bản kinh, Quảng kinh,
Vị tằng hữu kinh, Chứng dụ kinh, Đại giáo kinh.111 Các ngươi hãy ghi nhớ kỹ, tùy khả năng mà phân tích, tùy sự mà tu hành. Vì sao vậy? Như Lai không bao lâu nữa, sau ba tháng nữa, sẽ vào Niết-bàn.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe lời ấy, rất đỗi kinh ngạc, sửng sốt hoang mang, vật mình xuống đất, cất tiếng kêu than:
“Nhanh chóng làm sao, Thế Tôn diệt độ! Đau đớn làm sao, con mắt của thế gian sắp tắt! Chúng ta từ nay mãi mãi mất mát!”
__________________________
108 Hương tháp 香塔, không rõ địa danh. T. 7 (tr. 192b): giảng đường Trùng các, trong rừng Đại lâm. D. 16 (ii 119): đoạn kinh tương đương được nói tại Kuṭagārasāla, Mahāvana.
109 Nguyên Hán: bốn ý đoạn 四意斷: chánh đoạn 正斷, chánh thắng 正勝, chánh cần 正勤. Cf. Tập dị 5 (tr. 391c6). D.i.ii 225:cattāri padhānāni.
110 Nguyên Hán: tám Đạo Hiền Thánh 賢聖八道.
111 Chín bộ phận Thánh giáo. Pāli: navaṅga; M i 134: suttaṃ,geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthaṃ, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ,abbhutadhammaṃ, vedallaṃ. Cf. T 26 (tr. 421a17). Pháp hoa 1 (tr. 7c25). Đoạn sau, kinh 29 “Thanh tịnh” (h. 74b19), kể 12 bộ.

* Trang 92 *
device

Hoặc có Tỳ-kheo vật vã buồn khóc, lăn lộn kêu ca,không tự kềm chế được, khác nào như rắn bị đứt làm hai khúc, lăn lộn ngoắc ngoải, không biết đi về đâu.
Phật bảo:
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi chớ ôm lòng ưu bi như vậy. Từ trời đất đến người vật, không có cái gì sinh ra mà không kết thúc. Muốn các pháp hữu vi không bị biến dịch, thì không thể nào được. Trước đây Ta đã từng dạy, ân ái là vô thường, có hội hiệp tất có chia ly.
Thân này không phải của ta, mạng này không tồn tại lâu dài được.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Ta nay tự tại
Đến chỗ an ổn;
[17a] Hòa hiệp đại chúng
Mà nói nghĩa này
Ta nay già rồi,
Mạng còn không lâu.
Việc làm đã xong,
Nay nên xả thọ.
Niệm không buông lung,
Tỳ-kheo giới đủ;
Thâu nhiếp định ý,
Thủ hộ tâm mình.
Ở trong Pháp Ta,
Ai không buông lung,
Sẽ dứt gốc khổ,
Khỏi sinh già-chết.
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Ta nay sở dĩ khuyên dạy các ông như thế, vì Thiên Ma Ba-tuần vừa rồi đến thỉnh cầu Ta, nói rằng: ‘Ý Phật chưa muốn vào Niết-bàn sớm. Nay đã phải thời rồi, xin Ngài mau diệt độ.’ Ta bảo Ma Ba-tuần: ‘Hãy thôi! Hãy
thôi! Ta tự biết thời. Ta còn đợi chúng Tỳ-kheo của Ta hội đủ… cho đến, khiến cho Chư Thiên và loài người thảy đều thấy được sự thần diệu.’ Bấy giờ Ma Ba-tuần lại nói với Ta rằng: ‘Thuở xưa, ở Uất-tì-la, bên dòng
sông Ni-liên-thuyền, dưới gốc cây a-du-ba ni-câu-luật, Phật khi mới thành chính giác, tôi đã thưa Ngài rằng:
‘Ý Phật không muốn Niết-bàn sớm. Nay thật là đúng lúc. Ngài hãy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi ấy Như Lai trả lời tôi rằng: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Ta

* Trang 93 *
device

tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn đợi đệ tử Ta hội đủ đã,... cho đến, Chư Thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập Niết-bàn.’ Nay đây, đệ tử của Như Lai đã hội đủ,… cho đến, Chư Thiên và loài người đều thấy được sự thần thông biến hóa. Nay chính là lúc ấy, sao Ngài khôngnhập Niết-bàn?’ Ta nói: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời. Ta không trụ thế bao lâu nữa. Sau ba tháng nữa, Ta sẽ diệt độ.’ Lúc ấy Ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, ở nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, Ta xả mạng, an trú thọ. Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Trời người thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt vô cùng, nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Ta nói kệ tụng rằng:
Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.
Nội tâm chuyên chính định
Như chim ra khỏi trứng.”
Bấy giờ, Hiền giả A-nan đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật:
“Cúi mong đức Thế Tôn lưu trú một kiếp, chớ vội diệt độ, vì lòng thương tưởng chúng sinh, để làm ích lợi cho trời, người.”
[17b] Đức Thế Tôn im lặng không đáp. A-nan thưa thỉnh đến ba lần. Phật bảo:
“A-nan, ngươi có tin đạo chính giác của Như Lai112không?”
A-nan đáp:
“Thưa vâng, con tin chắc thật lời Phật nói.”
Phật nói:
“Nếu ngươi có tin, sao ba lần quấy rầy Ta? Ngươi đãtrực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật rằng, những ai đã tu tập bốn thần túc, tu tập nhiều lần, chính niệm, chính tri, thì có thể tùy ý muốn mà kéo dài tuổi
thọ trong một kiếp hoặc một kiếp hơn. Phật đã tu tập bốn thần túc, tu tập nhiều lần, chính niệm, chính tri, tùy theo ý muốn có thể sống hơn
____________________________
112 Hán: Như Lai chánh giác đạo 如來正覺道. D16 (ii 115):tathāgatassa bodhiṃ: trí giác (bồ-đề) của Như Lai.

* Trang 94 *
device

một kiếp, để trừ sự tối tăm cho đời, làm lợi ích nhiều người, cho trời và người được an lạc. Tại sao lúc đó ngươi không thỉnh cầu NhưLai chớ diệt độ? Nghe lần thứ hai, còn khả dĩ. Cho đến lần thứ ba, ngươi cũng không khuyến thỉnh Như Lai sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ tối tăm
cho đời, đem lại lợi ích an lạc cho hàng thiên nhân. Nay ngươi mới nói, há chẳng muộn lắm ư? Ta ba lần hiện tướng, ngươi ba lần im lặng. Sao lúc ấy ngươi khôngnói với Ta rằng ‘Như Lai hãy sống thêm một kiếp hoặcmột kiếp hơn, để trừ sự tối tăm cho đời, vì lợi ích cho nhiều người, để cho trời người được an lạc’?
“Hãy thôi, A-nan, nay Ta đã xả mạng căn, đã bỏ, đã nhổra rồi. Muốn Như Lai trái với lời đã nói ra, không bao giờ có trường hợp đó. Ví như một người hào quí đã nhổđồ ăn xuống đất, họ còn lấy ăn trở lại được không?”
A-nan đáp: “Không.”
“Nay Như Lai cũng vậy, đã bỏ, đã nhổ ra rồi đâu còn tự mình ăn lại nữa.”
Phật bảo A-nan cùng đi đến thôn Am-bà-la. A-nan xếp y ôm bát, cùng với đại chúng đi theo Thế Tôn, do theo đường từ Bạt-kì đến Am-bà-la. Khi đến thôn Am-bàla,tới một đồi cây, Phật dạy các Tỳ-kheo về giới, định, tuệ; định chứng đắc do bởi tu giới thì được quả báo lớn; huệ đạt được do tu định thì được quả báo lớn; tâm tịnh do bởi tu huệ thì được giải thoát hoàn toàn, dứt hết ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát liền phát sinh trí giải thoát, biết rằng sựsinh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.”
Bấy giờ, sau khi tùy nghi an trú ở thôn Am-bà-la, đức Thế Tôn lại bảo A-nan: “Hãy sửa sọan để đi đến thôn Chiêm-bà, thôn Kiền-đồ, thôn Ba-lê-bà và thành Phụ-di.113 A-nan đáp: “Thưa vâng.” Rồi xếp y ôm bát, cùng đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ Bạt-kì đi lần đến
_______________________
113 Am-bà-la 菴婆羅(Ambagāma), Chiêm-bà 瞻婆(Jambugāma),Kiền-đồ 犍荼(Bhaṇḍagāma), Bà-lê-bà 婆梨婆(Veḷuva?), Phụ-di負彌(Bhoganagara). T 5: Phù-diên 夫延.

* Trang 95 *
device

các thành khác, đến phía Bắc thành Phụ-di,114 nghỉ lại trong rừng Thi-xá-bà.115
Phật nói với các Tỳ-kheo:
[17c]“Ta sẽ nói cho các ngươi nghe bốn đại giáo pháp.116
Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Bốn pháp ấy là gì? Nếu có vị Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này Chư Hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân được nghe từ Phật, được lãnh thọ giáo pháp này.’ Nghe như vậy, các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không phải kinh, không phải luật, không phải pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, thầy đã ghi nhớ nhầm chăng? Bởi vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp, mà điều thầy vừa nói trái với pháp. Vậy này Hiền sĩ, thầy chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ điều đó đi.’ Trái lại, nếu xét thấy lời kia đúng kinh, đúng luật, đúng pháp thì hãy nói với người kia rằng:
_____________________________
114 Lộ trình theo T 5: Phật từ Duy-da-lê 維耶梨đến thôn Câu-lân 拘鄰聚, ngụ trong vườn Thi-xá-hoàn 尸舍洹. Từ Câu-lân, đi Kiền-lê 揵梨聚(Pl. Bhaṇḍagāma), đến Kim tụ 金聚(Jambugāma?). rồi đếnxóm Thọ thủ 授手聚(Hatthigāma), Yêm mãn 掩滿聚(Ambagāma),Hỷ dự 喜豫聚(Nādikā?), Hoa thị 華氏聚(Pāṭaligāma), Phù-diênthành 夫延城(Bhoganagara). T 7 (tr. 195b14): đến Tượng thôn 象村(Hatthigāma), Am-ba-la thôn菴婆羅村(Ambagāma), Diêm-phùthôn 閻浮村(Jambugāma), cuối cùng là Thiện già thành 善伽城(Bhoganagara), tức Phù-di. Lộ trình theo D16: từ Cāpāla-cetiya,
Phật quay trở lại Vesāli, sau đó đi đến thôn Bhaṇḍagāma, từ đó đi Hatthigāma, Ambagāma, Jambugāma, Bhoganagara.
115 Thi-xá-bà 尸舍婆, tên loại cây lớn, Pl.: siṃsāpa. D16 ibid.: tại Bhoganagara (Phụ-di), Phật ngụ trong miếu Ānanda-cetiya. Tại đây, Phật nói bốn đại giáo pháp (catumahāpadesa). T 5: vườn Thixá- hoàn 尸舍洹.
116 Bốn đại giáo pháp 四大教法; T 7: bốn quyết định thuyết 四決定說. Pl.: cattāro mahāpadesā. Bốn nhân do phổ biến trong đó xác địnhgiáo pháp được thiết lập không nghi hoặc. Cf. Śikṣasamuccaya, 63:kālopadeśamahāpradeśānapahāya; Hán dịch, Tập Bồ-tát học luận 5(T 1636) 不依時說及廣大說bất y thời thuyết cập quảng đại thuyết.

* Trang 96 *
device

‘Điều thầy vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà điều thầy vừa nói phù hợp với pháp. Vậy, Hiền sĩ, hãy thọ trì và rộng nói cho người nghe, cẩn thận chớ có từ bỏ.’ Đó là đại giáo pháp thứ nhất.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này Chư Hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ chúng Tăng hoà hợp với các vị kì cựu đa văn, được lãnh thọ pháp, luật này, giáo này.’ Nghe như vậy, các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn.Nếu thấy lời nói ấy không đúng kinh, không đúng luật, không đúng pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, thầy đã nghe, ghi nhớ nhầm chăng? Bởi vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều vừa nói trái với pháp. Vậy, này Hiền sĩ, thầy chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia đúng kinh, đúng luật, đúng pháp thì hãy nói với người kia rằng: ‘Điều thầy vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy vừa nói phù hợp với pháp. Vậy, Hiền sĩ, hãy thọ trì và rộng nói cho người nghe, cẩn thận chớ có từ bỏ.’ Đó là đại giáo pháp thứ hai.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này Chư Hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ nhiều vị Tỳ-kheo, là những người trì pháp,trì luật, trì luật nghi, được lãnh thọ pháp này, luật này, giáo này.’Nghe như vậy, các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh [18a] mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không đúng kinh, không đúng luật, không đúng pháp, các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, thầy đã nghe, ghi nhớ nhầm chăng? Bởi vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy vừa nói trái với pháp. Vậy, này Hiền sĩ, thầy chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ điều đó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia đúng kinh, đúng luật, đúng pháp, hãy nói với người kia rằng: ‘Điều thầy vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy vừa nói phù hợp với pháp. Vậy, Hiền sĩ, hãy thọ trì và rộng nói cho ngườinghe, cẩn thận chớ có từ bỏ.’ Đó là đại giáo pháp thứ ba.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đến nói như vầy: ‘Này Chư Hiền, tôi từng

* Trang 97 *
device

ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân từ một vị Tỳ-kheo kia, là người trì pháp, trì luật, trì luật nghi,117 được lãnh thọ giáo pháp này.’
Nghe như vậy, các ngươi cũng không tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không đúng kinh, không đúng luật, không đúng pháp, các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, thầy đã ghi nhớ nhầm chăng? Bởi vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy vừa nói trái với pháp. Vậy, này Hiền sĩ, thầy chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ điều đó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia đúng kinh, đúng luật, đúng pháp thì hãy nói với người kia rằng: ‘Điều thầy vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy vừa nói phù hợp với pháp. Vậy, Hiền sĩ, hãy thọ trì và rộng nói cho người nghe, cẩn thận chớ có từ bỏ.’ Đó là đại giáo pháp thứ tư.”
 
Bấy giờ đức Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở thành Phụ-di, lại bảo A-nan cùng đi đến thành Ba-bà.118 Anan đáp: “Kính vâng”, rồi xếp y ôm bát, với đại chúng đi theo Thế Tôn, theo con đường Mạt-la đi đến vườn Xà-đầu,119thành Ba-bà. Nơi đây có con trai của một người thợ tên là Châu-na120 nghe Phật từ Mạt-la kia đến thành này, liền y phục chỉnh tề tìm đến chỗ Phật,đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Phật theo thứ lớp thuyết pháp cho Châu-na, khai thị, giáo huấn, khiến cho lợi ích, khiến cho hoan hỷ. Châu-na sau khi nghe, phát tín tâm hoan hỷ, bèn [18b] thỉnh Phật ngày mai đến nhà cúng dường. Phật im lặng nhận lời. Châu-na biết Phật đã nhận lời, liền đứng dậy lễ Phật, rồi lui về. Ngay
_____________________________
117 Trì luật nghi持律儀, đây chỉ các vị chuyên giải thích về luật (mađắc- lặc-già hay tì-ni mẫu). Pāli: mātikadhara
118 Ba bà 波婆; T 5, T 6: Ba-tuần quốc 波旬國. T 7: từ Thiện-già thành đi Cưu-sa thôn 鳩娑村(?). D16: từ Bhoganagara đi Pāvā.
119 Xà đầu viên 闍頭園, T 5, T 6: Thiền-đầu viên 禪頭園. Pl.: Pāvāyaṃviharati Cundassa kammāraputtassa ambavane, trú ở Pāvā trongvườn xoài của con trai người thợ sắt tên là Cunda.
120Hán: công sư tử Châu-na 工師子周那. T 5: Thuần 淳, con trai của ông Hoa thị華氏子(Mallaputta?). T. 7: Thuần Đà 純陀, công xảo tử工巧子. Pl.: cundo kammāraputto, Cunda, con trai người thợ luyện kim.

* Trang 98 *
device

đêm đó ông sửa soạn thức ăn. Ngày mai, vào thời gian thích hợp, ông trở lại thỉnh Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y cầm bát cùng với đại chúng tùy tùng đến nhà ông, ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn. Sau khi Phật và đại chúng đã an tọa, Châu-na đem món ăn dâng Phật và chúng Tăng. Ông lại nấu riêng một thứ nấm chiên-đàn121 là thức ăn trân quý kì lạ ít thấy, đem dâng riêng cho Phật. Phật bảo Châu-na chớ đem thứ nấm ấy cho chúng Tăng ăn. Châu-na vâng lời, không dám dọn cho chúng Tăng.
Lúc bấy giờ, trong đại chúng Tỳ-kheo có một Tỳ- kheo già, xuất gia lúc tuổi xế chiều, ngay trên mâm ăn, dùng đồ đựng để lấy chỗ ăn dư.122
Châu-na, sau khi thấy chúng Tăng thọ thực xong, cất bình bát, và dùng nước rửa xong, liền đến trước Phật mà hỏi bằng bài kệ rằng:
Xin hỏi Đại Thánh Trí,
Đấng Chính Giác Chí Tôn:
Đời có mấy Sa-môn,
Khéo huấn luyện điều phục?
Phật đáp bằng bài kệ:
Theo như ngươi vừa hỏi,
Có bốn hạng Sa-môn,
Chí hướng không đồng nhau,
Ngươi hãy nhận thức rõ:
Một, hành đạo thù thắng;
Hai, khéo giảng đạo nghĩa;
Ba, y đạo sinh sống;
Bốn, làm ô uế đạo.
Sao gọi ‘đạo thù thắng’?
Sao ‘khéo nói đạo nghĩa’?
Sao ‘y đạo sinh hoạt’?
Sao ‘làm đạo ô uế’?
_______________________
121Hán: chiên-đàn thọ nhĩ 旃檀樹耳. Pl.: sūkara-maddava.
122 Hán: dư khí thủ 餘氣取. Bản Tống, dư thủ khí 餘取氣. Các bản Nguyên Minh: dư nhĩ khí 餘耳氣. T 5: Một Tỳ kheo xấu lấy đồ đựng nước uống hủy đi. Phật biết (?). T 6: Có Tỳ kheo xấu, đã ăn
xong, lấy đồ đựng. Phật biết (?). Các bản không thống nhất, nghĩa không rõ ràng. Có lẽ muốn nói Tỳ-kheo này lấy chỗ nấm Phật đã ăn còn lại. D. 16 (ii 127): Phật bảo Cunda đem chôn chỗ nấm còn lại trong một cái hố (taṃ sobbhe nikhaṇāhi).

* Trang 99 *
device

Bẻ gai nhọn ân ái,
Quyết chắc vào Niết-bàn;
Vượt khỏi đường Thiên nhân,
Là hành đạo thù thắng.
Khéo hiểu đệ nhất nghĩa
Giảng đạo không cấu uế,
Nhân từ giải nghi ngờ,
Là hạng khéo thuyết đạo.
Khéo trình bày pháp cú
Nương đạo mà nuôi sống,
Xa mong cõi vô cấu;
Là hạng sống y đạo.
Trong ôm lòng gian tà,
Ngoài như tuồng thanh bạch.
Hư dối không thành thật,
Là hạng làm nhơ đạo.123
Sao gọi ‘gồm thiện ác’,
Tịnh, bất tịnh xen lẫn.
Mặt ngoài hiện tốt đẹp,
Như chất đồng mạ vàng,
[18c] Người tục thấy liền bảo:
“Đó là Thánh đệ tử,
Các vị khác không bằng,
Ta chớ bỏ lòng tin.”
Người gìn giữ đại chúng,
Trong trược giả ngoài thanh.
Che dấu điều gian tà,
Kì thật lòng phóng đãng
Chớ trông dáng bề ngoài,
Đã vội đến thân kính.
Che dấu điều gian tà,
Kì thật lòng phóng đãng.124
________________________                                                  
123 Cf. Tì-bà-sa 35 (& 154), bốn hạng sa-môn: 1. thắng đạo sa-môn 勝道沙門, thuyết đạo sa-môn 說道沙門, đạo mạng sa-môn道命沙門, quáđạo sa-môn 過道沙門. Cf. Sn. 84: caturo samanā… maggajino maggadesakoca, magge jīvati ca maggadūsī.
124 Bài kệ Pāli tương đương Hán không có trong D. 16, nhưng được tìm thấy trong Sn. 1.5 (84) Cundasuttaṃ.

* Trang 100 *
device

Rồi Châu-na lấy một cái giường nhỏ đặt ngồi trước Phật. Phật lần lượt thuyết pháp, khai thị, giáo huấn,khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, với đại chúng theo hầu, Phật trở về. Vừa đến giữa đường, Phật dừng lại dưới một gốc cây và bảo A-nan:
“Ta đau lưng, ngươi hãy trải chỗ ngồi.”
A-nan đáp vâng, rồi trải chỗ ngồi. Phật nghỉ ngơi.
Bấy giờ, A-nan lại trải một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi trước Phật. Phật hỏi A-nan:
“Vừa rồi ông thấy Châu-na có ý gì hối hận không? Nếu có hối hận là tự đâu?” A-nan đáp:
“Châu-na vừa cúng dường Phật như vậy không được phúc lợi gì cả. Vì sao? Tại vì sau khi Như Lai thọ thực ở nhà ông thì Ngài vào Niết-bàn!”
Phật nói:
“A-nan chớ nói như vậy, chớ nói như vậy! Hiện nay Châu-na được nhiều lợi lớn, được sống lâu, được sắc đẹp, được sức lực, được tiếng tốt, được nhiều tài lợi, chết được lên trời, cầu điều gì đều được. Tại sao vậy? Vì người cúng dường cho Phật lúc mới thành Đạo với người cúng dường cho Phật lúc sắp Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác. Ngươi hãy đến nói với Châu-na rằng: Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật, rằng Châu-na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn.”
A-nan vâng lời, đi đến chỗ Châu-na, nói rằng:
“Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật, rằng ông Châu-na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn. Tại sao vậy? Vì người cúng dường Phật lúc mới thành Đạo với người cúng dường Phật lúc sắp Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác.”
Thọ trai nhà Châu-na,
Mới nghe lời nói này:
Bịnh Như Lai thêm nặng,
Thọ mệnh đã sắp tàn,
Tuy ăn nấm chiên-đàn,
Mà bịnh vẫn càng tăng.
Ôm bệnh mà lên đường,
Lần đến thành Câu-thi.
 [19a] Bấy giờ, Thế Tôn đứng dậy, đi về phía trước được một quãng ngắn, đến dưới một gốc cây, lại bảo A-nan:

* Trang 101 *
device

“Ta đau lưng quá, hãy dọn chỗ ngồi.”
A-nan đáp: “Vâng.” Rồi dọn một chỗ ngồi. Như Lai nghỉ ngơi. A-nan lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Lúc đó, có người đệ tử của A-la tên là Phúc-quý,125 đi từ thành Câu-di-na-kiệt126 nhắm đến thành Ba-bà, khi vừa đến giữa đường, trông thấy Phật tại bên gốc cây,dung mạo đoan chính, các căn tịch tịnh, tâm ý hoàn toàn chế ngự, tuyệt đối vắng lặng, ví như con rồnglớn, như hồ nước đứng trong không chút cáu bợn. Sau khi thấy, ông phát sinh thiện tâm hoan hỷ, đi đến gần Phật, đảnh lễ rồi ngồi lại một bên và bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn, người xuất gia, ở tại chỗ thanh tịnh, ưa thích sự nhàn cư. Thật hy hữu thay! Dẫu cả một đoàn xe có những năm trăm cỗ đi ngang qua một bên mà vẫn không hay biết! Thầy tôi có lần ngồi tĩnh tọa dưới một gốc cây bên đường thuộc địa phận giữa hai thành Câu-di-na-kiệt và Ba-bà. Lúc đó có đoàn xe năm trăm cỗ đi ngang qua một bên. Tiếng xe cộ rần rần.
Tuy thức tỉnh nhưng không nghe thấy. Sau đó có người đến hỏi: ‘Ông có thấy đoàn xe vừa đi qua đây không?’Đáp: ‘Không thấy.’Lại hỏi: ‘Ông có nghe không?’ Đáp:‘Không nghe.’ Lại hỏi: ‘Nãy giờ ông ở đây hay ở chỗ khác?’ Trả lời: ‘Tôi ở đây.’ Lại hỏi: ‘Nãy giờ ông tỉnh hay mê?’ Trả lời: ‘Tỉnh.’ Lại hỏi: ‘Nãy giờ ông thức hay ngủ?’ Trả lời: ‘Không ngủ.’ Người kia thầm nghĩ: ‘Đây thật là hy hữu. Người xuất gia chuyên tinh mới như thế. Cho dẫu tiếng xe rần rộ, thức mà vẫn không hay.’Rồi người ấy nói với thầy tôi rằng: ‘Vừa có năm trăm cỗ xe rần rộ đi qua con đường này, tiếng xe chấn động mà còn không nghe thấy, có đâu lại nghe thấy chuyện khác!’ Rồi người kia làm lễ, hoan hỷ từ tạ.”
Phật nói:
___________________
125 Hán: A-la-hán đệ tử danh viết Phúc-quý 阿羅漢弟子名曰福貴. Có lẽ dư chữ hán 漢. T 5: một đại thần trong nước của người Hoa thị (Mallaputta) tên là Bào-mân 胞罠. T 6: đại thần người Hoa tên là Phúc-kế 福罽. T. 7: Con trai của Mãn-la Tiên nhân滿羅仙人tên Phất-ca-sa 弗迦沙, vốn là đệ tử của Ka-lam Tiên nhân 迦蘭仙人. 滿羅仙人之子名弗迦沙. D. 16: Pukkusa, con trai của Malla, đệ tử của Alāra Kālāma.
126 Câu-di-na-kiệt 拘夷那竭. T 5: Cưu-di-na-kiệt quốc 鳩夷那竭國. T 6: Câu-di ấp 拘夷邑. T 7: Cưu-thi-na thành 鳩尸那. Pl.:Kusinagara (Kusināra).

* Trang 102 *
device

“Này Phúc-quý! Nay Ta hỏi ông. Hãy tùy ý trả lời. Đoàn xe rần rộ đi qua, tuy thức nhưng không nghe; và sấm sét vang động đất trời, tuy thức nhưng không nghe. Trong hai điều đó, điều nào khó hơn?”
Phúc-quý thưa:
“Tiếng động của ngàn chiếc xe đâu sánh bằng tiếng sấm sét. Không nghe tiếng xe còn dễ chứ không nghe sấm sét ấy mới thật là rất khó.”
Phật nói:
“Này Phúc-quý, Ta có một lần ở tại một thảo lư trong thôn A-việt,127 lúc đó có đám mây lạ vụt nổi lên, rồi tiếng sấm sét vang rầm dữ dội, đánh chết hết bốn con bò và hai anh em người đi cày, thiên hạ tụ đến chật ních. Lúc ấy Ta đang ra khỏi thảo lư, đi kinh hành thong thả. Một người từ đám đông kia đi lại chỗ Ta, đầu mặt lễ sát chân, rồi theo sau Ta kinh hành. Dẫu biết nhưng Ta vẫn hỏi: [19b] ‘Đám đông kia đang tụtập để làm gì vậy?’ Người kia liền hỏi lại Ta rằng:
‘Nãy giờ Ngài ở đâu, thức hay ngủ?’ Ta trả lời: ‘Ởđây, không ngủ.’ Người kia tán thán cho là hy hữu, chưa thấy ai đắc định như Phật; sấm chớp vang rền cả trời đất thế mà riêng mình tịch tịnh, thức mà không hay. Rồi người ấy bạch Phật: ‘Vừa rồi có đám mây lạvụt nổi lên, rồi tiếng sấm sét vang rầm dữ dội đánh chết hết bốn con bò và hai người đi cày. Đám đông tụ
tập chính là vì chuyện ấy.’ Người ấy trong lòng vui vẻ, liền được pháp hỷ, lễ Phật rồi lui.”
Lúc đó Phúc-quý đang khoác hai tấm vải vàng,128trị giá cả trăm ngàn, rời chỗ ngồi đứng dậy, rồi quỳxuống, chắp tay bạch Phật:
“Nay con đem tấm vải này dâng Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn nạp thọ.”
Phật bảo Phúc-quý:
“Ngươi để một tấm cho Ta và một tấm cho A-nan.”Phúc-quý vâng lời. Một tấm dâng Phật, một tấm cho A-nan. Phật thương tưởng ông cho nên nhận. Phúcquýđảnh lễ Phật và ngồi lại một bên. Phật lần lượt thuyết pháp cho ông, khai thị, giáo huấn, khiến cho
__________________________
127 A-việt 阿越. T 5: Ưu-đàm tụ 優曇聚. T 6: A-trầm 阿沈. T 7: thôn A-xa-ma 阿車摩村. Pl.: Atuma.
128 Hán: hoàng điệp 黃疊; TNM: hoàng kim điệp 黃金氎, lụa màu hoàng kim. T 5, T 6: lụa (khuê bố 圭布) dệt bằng hoàng kim. D16 (ii 133): siṅgīvaṇṇaṃ yugamaṭṭhaṃ.

* Trang 103 *
device

được ích lợi, hoan hỷ. Ngài giảng về bố thí, trì giới,sinh thiên, dục là đại hoạn, bất tịnh, ô uế, là hữu lậu,là pháp chướng đạo, xuất yếu là tối thắng. Khi Phật biết tâm ý Phúc-quý đã hoan hỷ, nhu nhuyến, không bị triền cái trùm lấp, rất dễ khai hóa; như thường pháp của chư Phật, Ngài giảng cho Phúc-quý về Khổ thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt và Khổ xuất yếu thánh đế. Phúcquýliền phát tín tâm thanh tịnh, ví như tấm vải sạch rất dễ nhuộm màu, ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, phát sinh pháp nhãn, thấy pháp, chứng pháp, an trú quyết định chính tính, không còn bị sa đọa ác đạo, thành tựu vô úy, bèn bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm một ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Từnay cho đến trọn đời con nguyện không sát, không
trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn nhận con là ưu-bà-tắc ở trong Chính pháp.”
Lại bạch Phật:
“Lúc nào Phật đến giáo hóa tại thành Ba-bà, xin Ngài hạ cố đến xóm nghèo. Bởi vì con muốn đem hết những vật thực, sàng tọa, y phục, thuốc thang sẵn có trong nhà để dâng cúng Thế Tôn. Thế Tôn lãnh thọ cho thìtrong cả nhà con được an lạc.”
Phật nói:
“Ngươi nói rất phải.”
Rồi Thế Tôn lại nói pháp cho Phúc-quý; khai thị, giáo huấn, khiến cho được lợi ích, hoan hỷ. Phúc-quý đảnh lễ Phật rồi đi.
Phúc-quý đi chưa bao lâu, A-nan liền đem tấm vải vàng của mình dâng Phật. Phật do tâm từ mẫn nhận lãnh và [19c] khoác lên trên mình. Bấy giờ, đức Thế
Tôn hiện ra một dung mạo thung dung, oai quang hớn hở, các căn thanh tịnh, sắc diện tươi vui.
A-nan trông thấy, thầm nghĩ: “Ta được hầu gần Phật hai mươi lăm năm129nay chưa khi nào thấy Phật cómột sắc diện tươi sáng như ngày nay.” Bèn đứng dậy,quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hỏi Phật:
“Từ khi con được hầu Phật, đã hai mươi lăm năm nay, chưa từng thấy sắc diện Phật như hôm nay. Chẳng hiểu do duyên gì? Con mong nghe được ý Phật.”
________________________
129 T 5, T 6: hơn 20 năm.

* Trang 104 *
device

Phật bảo A-nan:
“Có hai duyên cớ mà sắc diện Như Lai tươi sáng khác lúc bình thường: một là lúc Phật mới đắc Đạo, thành bậc Vô Thượng Chính Giác, hai là lúc Phật xả bỏ mạng căn để nhâp Niết-bàn. A-nan, do hai duyên ấy mà sắc diện khác thường.”
Rồi Thế Tôn nói bài tụng:
Y màu vàng sáng vui,
Mịn, mềm, rất tươi sạch,
Phúc-quý dâng Thế Tôn,
Hào quang130 trắng như tuyết.
Phật bảo:
“A-nan, Ta đang khát. Ta muốn uống nước. Ngươi hãy đi lấy nước đem đến đây.”
A-nan thưa:
“Vừa rồi có năm trăm cỗ xe lội qua khúc trên sông làm nước đục cả. Chỉ có thể dùng rửa chân, không thể dùng uống được.”
Phật nói đến ba lần như thế. A-nan thưa:
“Hiện chỉ có sông Câu-tôn131 cách đây không xa, là có nước trong mát. Uống hay tắm rửa đều được.”
Lúc đó có một vị thần ở tại núi Tuyết, vốn dốc lòng tin Phật đạo, lấy bát đựng nước quí tịnh đủ tám công đức đem đến dâng Phật. Phật thương xót lãnh thọ, và đọc bài tụng:
Phật bằng tám thứ âm,
Bảo A-nan lấy nước:
“Ta khát, nay muốn uống.”
Uống xong đến Câu-thi.
Âm êm dịu, hòa nhã,
Ai nghe cũng vui lòng.
Vị hầu hạ bên Phật,
Liền bạch Thế Tôn rằng:
_________________________
130 Bạch hào quang白毫光, ánh sáng phát ra từ sợi lông mày trắng giữa ấn đường, 1 trong 32 tướng; Pl. uṇṇaloma; Skt. ūrṇaṣvetā.
131 Câu-tôn 拘孫. T 5: Cưu-đối 鳩對. T 6: Câu-di 拘遺. T 7: Ca-khuấtta 迦屈嗟. Pl.: Kakutthā.

* Trang 105 *
device

“Vừa có năm trăm xe,
Lội sông sang bờ kia,
Đã làm đục dòng nước,
Uống chắc không thể được.
Sông Câu-lưu không xa,
Nước tốt, rất trong mát;
Có thể lấy nước uống,
Cũng có thể tắm rửa.”
Tuyết sơn có Quỷ thần,
Đem nước dâng Như Lai.
Uống xong, uy dũng mãnh,
Đấng Sư Tử bước đi.
[20a] Nước ấy thần long ở,
Trong sạch không đục dơ.
Thánh nhan như Tuyết sơn
Thong thả qua Câu-tôn.
Rồi Thế Tôn đi đến sông Câu-tôn, lấy nước uống và tắm rửa xong rồi, cùng đại chúng lần đi nữa. Giữa đường, Phật dừng lại tại dưới một gốc cây và bảo
Châu-na:132
“Ngươi gấp y tăng-già-lê bốn lớp trải cho Ta nằm. Ta đau lưng. Muốn tạm nghỉ tại đây.”
Châu-na vâng lời, trải chỗ xong, Phật ngồi lên chỗ đó. Châu-na lễ Phật rồi ngồi lại một bên mà thưa rằng:
“Con muốn nhập Niết-bàn. Con muốn nhập Niếtbàn.”
Phật dạy:
“Nên biết phải thời.”
Châu-na liền nhập Niết-bàn ở ngay trước Phật.
Phật bèn nói bài tụng:
Phật đến sông Câu-tôn,
Trong mát, không đục dơ.
Đấng Chí Tôn xuống nước,
Tắm rửa, sang bờ kia.
Vị đứng đầu đại chúng
__________________________________
132 Châu-Na 周那, một tỳ-kheo, không phải người thợ sắt. Pl.: Cundaka.

* Trang 106 *
device

Sai khiến bảo Châu-na:
“Ta nay thân mỏi mệt,
Ngươi trải ngọa cụ nhanh.”
Châu-na liền vâng lời,
Gấp tư y mà trải.
Như Lai đã nghỉ ngơi;
Châu-na ngồi phía trước.
Tức thì bạch Thế Tôn:
“Con muốn nhập Niết-bàn,
Vào chốn không yêu, ghét.
Con nay đến chỗ đó.”
Biển công đức vô luợng,
Đấng Tối thắng trả lời:
“Phận sự ngươi đã xong,
Nên biết thời thích hợp.”
Được Phật hứa khả rồi,
Châu-na càng tinh tấn.
Diệt hành, vô hữu dư.
Như hết củi, lửa tắt.
Bấy giờ A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật:
“Sau khi Phật diệt độ, phép tẩn táng nên làm thế nào?”
Phật bảo A-nan:
“Ông hãy im lặng. Hãy lo nghĩ đến công việc của
mình. Việc ấy đã có các thanh tín sĩ hoan hỷ lo liệu.”
A-nan hỏi đến ba lần:
“Sau khi Phật diệt độ, phép tẩn táng nên làm thế nào?
Phật dạy:
“Muốn biết phép tẩn táng Phật thế nào thì nên làm theo cách tẩn táng Chuyển luân thánh vương.”
A-nan lại hỏi:
“Phép tẩn táng Chuyển luân thánh vương như thếnào?
Phật nói:
“Về phép tẩn táng Chuyển luân thánh vương, trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể; lấy vải bông mới quấn thân thể; dùng năm trăm tấm vải lần lượt quấn vào, rồi đặt thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè,

* Trang 107 *
device

lại đặt kim quan trong một cái quách thứ hai lớn, bằng sắt, [20b] bên ngoài là lớp quách bằng gỗ hương chiên-đàn. Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà hỏa thiêu.133 Thiêu xong, lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan, thờ tại ngã tư đường, để dân chúng đi ngang trông thấy tháp của Pháp vương mà tưởng nhớ lại chính hóa của vua, đã làm lợi ích cho nhiều người.
“A-nan, ngươi muốn táng Ta, trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể; lấy vải bông mới quấn thân thể; dùng năm trăm tấm vải lần lượt quấn vào, đặt thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè, lại đặt kim quan trong một cái quách thứ hai lớn bằng sắt, bên ngoài là lớp quách bằng gỗ hương chiên-đàn. Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà hỏa thiêu. Thiêu xong, lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngả tư đường để dân chúng đi ngang trông thấy tháp của Phật mà tưởng nhớ lại Đạo hóa của Pháp vương Như Lai, sống thì được phước lợi, chết thì sinh Thiên.”
Rồi Thế Tôn muốn trùng tuyên lại ý nghĩa này, Ngài thuyết bằng bài kệ:
A-nan rời chỗ ngồi,
Quỳ chắp tay bạch Phật:
“Như Lai diệt độ rồi,
Phép táng nên thế nào?”
“A-nan, hãy im lặng,
Hãy lo phận sự mình.
Các thanh tín trong nước
Sẽ hoan hỷ lo liệu.”
A-nan ba lần hỏi.
Phật giảng táng Luân vương.
Muốn táng thân Như Lai,
Quấn thân, đặt vào quách.
Dựng tháp ngã tư đường,
Vì lợi ích chúng sinh.
Những ai đến kính lễ
Đều được phước vô lượng.
Phật bảo A-nan:
“Trong thiên hạ có bốn hạng người nên dựng tháp và cúng dường
_______________________
133 Nguyên Hán: xà-duy 闍維. T 5: xà-duy 蛇維. Pl.: jhāpeti.

* Trang 108 *
device

hương hoa, phướn lụa, âm nhạc. Đó là những ai? Là Như Lai, Bích-chi-phật, Thanh văn và Chuyển luân vương. Này A-nan, bốn hạng người này nên được dựng tháp và dùng hương, hoa, phướn lụa, âm nhạc để cúng dường.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Thứ nhất là tháp Phật,
Bích-chi-Phật, Thanh-văn,
Và Chuyển luân thánh vương
Chủ tể trị bốn phương.
Bốn nơi đáng cúng này,
Được Như Lai chỉ dạy:
Phật, Bích-chi, Thanh-văn,
Và tháp Chuyển luân vương.
[20c] Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan hãy cùng đi đến thành Câu-thi, tới giữa đám cây Song Thọ của dòng họ Mạt-la. A-nan đáp: “Vâng.” Rồi cùng với đại chúng đi theo Thế Tôn mà lên đường. Có một người Phạmchí từ thành Câu-thi đi đến thành Ba-bà, giữa đường, từ xa trông thấy Thế Tôn dung mạo đoan chính, các căn tịch định. Thấy vậy, tự nhiên sinh tâm hoan hỷ, liền đi đến trước Phật, thăm hỏi rồi đứng sang một bên, bạch Phật rằng:
“Thôn tôi ở cách đây không xa. Kính mong đức Cù-đàm đến đó nghỉ đêm. Sáng mai thọ thực xong hãy đi.”
Phật nói:
“Thôi đủ rồi, Phạm-chí. Ngươi nay đã cúng dường Ta rồi đó.”
Phạm-chí ân cần thưa thỉnh tới ba lần, Phật vẫn đáp như trước; lại bảo Phạm-chí:
“A-nan đàng sau kia, người đến đó tỏ ý.”
Phạm-chí nghe Phật bảo, đến ông A-nan, thăm hỏi xong, đứng sang một bên, thưa rằng:
“Thôn tôi ở cách đây không xa. Tôi muốn thỉnh đức Cù đàm đến đó nghỉ đêm. Sáng mai thọ thực xong hãy đi.”
A-nan đáp:
“Thôi đủ rồi, Phạm-chí. Ngươi nay đã cúng dường rồi đó.
Phạm-chí ân cần thưa thỉnh tới ba lần.

* Trang 109 *
device

A-nan đáp:
“Trời đã nóng bức, thôn kia lại xa, mà đức Thế Tôn thì quá nhọc, không thể đến được đâu.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi quán sát ý nghĩa này, bèn nói bài kệ:
Đấng Tịnh Nhãn tiến bước,
Mệt nhọc, hướng song thọ.
Phạm-chí xa thấy Phật,
Vội bước đến, cúi đầu:
“Thôn tôi hiện gần đây,
Xin thương, lưu một đêm.
Sáng mai, cúng dường nhỏ,
Rồi hãy đến thành kia.”
“Phạm-chí, thân Ta mệt,
Đường xa không thể qua.
Người hầu Ta đi sau.
Hãy đến mà hỏi ý.”
Vâng lời Phật dạy thế,
Bèn đến chỗ A-nan:
“Xin mời đến thôn tôi,
Sáng mai, ăn rồi đi.”
A-nan ngăn: “Thôi, thôi!
Trời nóng, không đi được.”
Ba lần mời không toại,
Vẻ buồn rầu không vui.
Ôi! Pháp hữu vi này,
Biến chuyển, không thường hằng.
Nay giữa cây Song Thọ,
Diệt thân vô lậu Ta.
Phật, Bích-chi, Thanh-văn
Chung quy thảy đều quy diệt.
[21a] Vô thường không chọn lựa,
Như lửa đốt núi rừng.
Bấy giờ, Thế Tôn vào thành Câu-thi, đi về phía Bản sinh xứ, giữa khu

* Trang 110 *
device

rừng Song Thọ của dòng họ Mạtla,134và bảo A-nan:
“Ngươi hãy dọn chỗ nằm ở giữa cây Song Thọ cho Như Lai, đầu xây hướng Bắc, mặt xây hướng Tây. Sở dĩ như thế, vì giáo pháp của Ta sẽ lưu truyền lâu dài ở phương Bắc.”
A-nan đáp: “Vâng.” Rồi dọn chỗ, cho đầu xây về phương Bắc. Thế Tôn tự mình gấp y tăng-già-lê bốnlớp đắp lên mình, nằm nghiêng hông tay mặt như sư tử chúa, hai chân chồng lên nhau. Lúc đó giữa đám cây Song Thọ có các quỷ thần vốn dốc lòng tin Phật, rải các thứ hoa sái mùa khắp mặt đất. Phật bảo A-nan rằng:
“Vị Thần cây Song Thọ ấy cúng dường hoa sái mùa cho Ta như thế, chưa phải cúng dường Như Lai.”
A-nan thưa:
“Sao mới là cúng dường Như Lai ?”
Phật dạy:
“Người nào biết lãnh thọ và thực hành đúng Chính pháp, mới là người cúng dường Như Lai.”
Quán sát ý nghĩa này, Phật nói bài kệ:
Phật ở giữa Song Thọ,
Nằm nghiêng, tâm không loạn.
Thần cây tâm thanh tịnh,
Rải hoa lên trên Phật.
A-nan hỏi Phật rằng:
“Thế nào là cúng dường?”
Nghe pháp và thực hành,
Cúng dường bằng hoa giác.
Hoa vàng như bánh xe,
Chưa phải cúng dường Phật.
Uẩn, giới, xứ vô ngã,
Là cúng dường bậc nhất.
Lúc đó ông Phạm-ma-na135 cầm quạt, đứng hầu quạt trước Phật, Phật
______________________________
134 Bản sinh xứ Mạt-la Song Thọ 本生處末羅雙樹; T. 7 (tr. 199a): Lực sĩ sinh địa sa-la lâm 力士生地娑羅林. Pl: Kusinārā-Upavattana-Mallānaṃ antarena yamaka-sālānaṃ: Kusinārā, sinh địa của Malla, giữa những cây Song Thọ.

* Trang 111 *
device

bảo:
“Ngươi hãy tránh ra, chớ đứng ở trước Ta.”
A-nan nghe vậy thầm nghĩ: “Phạm-ma-na thường ở hai bên Phật, hầu hạ mọi điều cần thiết, tôn kính Như Lai không hề biết chán. Nay vào ngày cuối cùng, lẽ để cho ông chăm sóc, sao Phật lại đuổi đi, là có ý gì?”
Rồi A-nan sửa lại y phục, đến trước Phật, bạch rằng:
“Phạm-ma-na thường ở hai bên Phật, hầu hạ mọi điều cần thiết, tôn kính Như Lai không hề biết chán. Nay vào ngày cuối cùng, lẽ để cho ông chăm sóc, sao Phật lại đuổi đi, là có ý gì?”
Phật nói:
“Mười hai do-tuần phía ngoài thành Câu-thi này, thảy đều là chỗ136các vị đại thiên thần, chật ních không có khoảng trống. Họ hiềm vì [21b] Tỳ-kheo này đứng choán trước Phật rằng ‘Nay giờ phút cuối cùng Phật sắp vào Niết-bàn, chúng ta các thần muốn đến chiêm bái một lần, mà vị Tỳ-kheo đó với oai đức lớn lao, ánh sáng chói che không cho chúng ta được gần Phật để lễ bái cúng dường.’ A-nan, vì thế mà Ta bảo tránh ra.”
A-nan bạch Phật:
“Chẳng hay vị Tỳ-kheo đó xưa kia chứa phúc đức gì, tu hành nghiệp gì mà nay có oai đức như thế?”
Phật dạy: “Vào kiếp thứ chín mươi mốt trong đời quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Tì-bà-thi.137Vị Tỳ- kheo đó, lúc ấy với tâm hoan hỷ cầm cây đuốc cỏ soi sáng vào ngôi tháp của Phật, nhờ đó nay ông được cóoai quang chiếu suốt cả hai mươi tám từng trời, ánh sáng của Chư Thiên thần không thể sánh kịp.”
Rồi thì, A-nan rời khỏi chỗ ngồi, trịch áo bày vai hữu, quỳ xuống, chắp tay bạch Phật:
“Xin Phật chớ diệt độ tại chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu này. Vì sao? Hiện có các nước lớn như Chiêm-bà, nước Tì-xá-li, thành
______________________________
135 Phạm-ma-na 梵摩那, T 5: Ưu-hòa-hoàn 優和洹. N6: Hóa Tỳ-kheo 化比丘. T. 7: Ưu-bà-ma-na 優婆摩那; Pl.: Upavāna.
136 Nguyên văn: cư trạch 居宅, nghĩa đen là nhà ở.
137 D 16 không chép sự tích này; nhưng được tìm thấy trong Apadāna 3.2. (tr. i. 70), trong đó, Phật Padumuttā (Liên Hoa Thượng) chứkhông phải Tì-bà-thi.

* Trang 112 *
device

Vương xá, nước Sakì,138 nước Xá-vệ, nước Ca-tì-la-vệ, nước Ba-la-nại. Ở đó nhân dân đông đúc, nhiều người tín mộ Phật pháp. Phật diệt độ tại các chỗ đó, ắt nhiều người cung kính,cúng dường xá-lợi.”
Phật dạy: “Thôi, đủ rồi! Chớ có nhận xét như thế. Chớ cho nơi này là bỉ lậu. Vì sao thế?
“Khi xưa tại nước này, có vị vua tên Đại Thiện Kiến139 và thành này lúc đó tên là Câu-xá-bà-đề.140 Đô thành của vua dài 480 dặm, rộng 280 dặm. Thời bấy giờ được mùa, lúa rẻ, dồi dào, nhân dân phồn thịnh. Thành này có bảy lớp, bao quanh cũng có bảy lớp lan can, chạm trổ văn vẻ, linh báu treo xen. Móng thành bề sâu ba nhẫn, lên cao mười hai nhẫn. Lâu đài trên thành cao mười nhẫn. Vòng cột ba nhẫn. Thành vàng thì cửa bạc, thành bạc thì cửa vàng, thành lưu ly thì cửa thủy tinh, thành thủy tinh thì cửa lưu ly. Quanh thành trang nghiêm bằng bốn loại bảo, xen kẽ lan can bằng bốn loại bảo. Lầu vàng thì treo linh bạc, lầu bạc thì treo linh vàng. Có hào bảy lớp, mọc đầy hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng. Đáy hào toàn lát bằng cát vàng. Hai bên bờ hào có nhiều cây đa-lân.141 Cây vàng thì lá hoa trái bạc. Cây bạc thì lá hoa trái vàng. Cây thủy tinh thì hoa trái lưu ly.
Cây lưu ly thì hoa trái thủy tinh. Giữa đám cây đa-lân có các ao tắm. Dòng nước sâu, trong, thanh khiết không dơ. Hai bên bờ ao lát bằng gạch bốn bảo. Thang bằng vàng thì bậc thang bằng bạc. Thang lưu ly thì bậc bằng vàng. Thềm cấp bằng lưu ly [21c] thì bậc thềm bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh thì lưu ly làm bậc. Chung quanh, lan can vây bọc liên tiếp nhau. Trong thành ấy nơi nào cũng sinh cây đa-lân. Cây vàng thì lá hoa trái bạc. Cây bạc thì lá hoa trái vàng. Cây thủy tinh thì hoa trái lưu ly. Cây lưu ly thì hoa trái thủy tinh.
Khoảng giữa các cây có các ao bằng bốn loại bảo, sinh bốn loại hoa. Đường xá ngay ngắn, hàng ngũ tương đương. Gió thổi, hoa rơi, lá bay hai bên đường. Gió nhẹ thổi qua các cây báu, phát ra âm thanh dịu dàng như thiên nhạc. Người trong nước, trai gái lớn nhỏ, dạo chơi vui vẻ giữa các cây. Nước ấy thường có mườiloại âm thanh:142 Tiếng vỏ sò, tiếng
________________________
138 Trong bản Hán: Bà-kì quốc婆祇國; nhưng tương đương Pāli ở đây là Sāketa, vậy nên sửa lại là Sa-kì 娑祇cho phù hợp.
139  Đại Thiện Kiến 大善見, T 5, T 6: Đại Khoái Kiến 大快見.Pl.: Mahāsudassana. Từ đây trở xuống, Pāli, D 17 (ii. 169 ff) Mahāsudassanasuttaṃ.
140 Câu-xá-bà-đề 拘舍婆提. Pl.: Kusāvati.
141 Đa lân 多鄰, Pl.: tāla, loại cây cao, lá dùng chép sách.
142 T 5., T 6: mười hai loại âm thanh.

* Trang 113 *
device

trống, tiếng ba-la, tiếng ca, tiếng múa, tiếng thổi, tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe cộ, tiếng ẩm thực, tiếng cười đùa.
“Vua Đại Thiện Kiến có đủ bảy báu. Vua cũng có đủ bốn đức. Bảy báu là: báu Bánh xe vàng, báu Voi trắng, báu Ngựa xanh, báu Thần châu, Báu ngọc nữ, báu Cư sỹ và báu Chủ binh. “Thiện Kiến Đại vương thành tựu báu Bánh xe vàng như thế nào?
“Thường vào ngày rằm trăng tròn, vua tắm gội nước hương, lên ngồi tại bảo điện, có thể nữ bao quanh, tự nhiên có bánh xe báu hiện ra trước mặt; vành xe có ngàn căm sáng chói, do thợ trời làm chứ không phải đời có được. Bánh xe toàn bằng chân kim, đường kính bằng một trượng tư. Khi ấy vua Đại Thiện Kiến thầm nghĩ: ‘Ta từng nghe các bậc tiên túc kì cựu nói: nếu vua Quán đảnh dòng Sát-lị, đến ngày rằm trăng tròn, tắm gội nước hương, lên ngồi tại bảo điện, có thể nữ bao quanh, tự nhiên có bánh xe vàng hiện đến trước mặt, bánh xe có nghìn căm, ánh sáng rực rỡ, là tác phẩm của thợ nhà trời chứ không phải do con người làm, được làm thành bằng vàng thiệt, đường kính trượng tư, khi đó được gọi là Chuyển luân thánh vương.143 Nay có bánh xe báu ấy hiện đến, há không là đây chăng? Ta hãy thử xem bánh xe đó thế nào?’
“Vua Đại Thiện Kiến liền triệu bốn thứ binh, hướng về phía bánh xe vàng, trịch áo bày vai phải, đầu gối phải quỳ sát đất, rồi lấy tay mặt vỗ lên bánh xe và nói:‘Ngươi hãy theo đúng pháp mà vận chuyển về phương Đông, chớ trái lệ thường.’ Bánh xe liền chuyển về phương Đông. Vua bèn dẫn bốn chủng quân binh đi theo bánh xe vàng, trước bánh xe vàng có bốn vị thần dẫn đường. Đến chỗ bánh xe vàng ngừng thì vua cũng dừng xe. Bấy giờ, các tiểu quốc phương Đông thấy Đại vương đến, họ đem bát vàng đựng lúa bạc, bát bạc đựng lúa vàng đến trước vua, cúi đầu [22a] tâu rằng:“Hoan nghinh Đại vương đến! Nay phương Đông này đất ruộng phì nhiêu, nhân dân sung túc, chí tính nhân hòa, từ hiếu trung thuận. Cúi mong Thánh vương trị hóa chốn này. Chúng tôi xin chầu hầu phục vụ, vâng làm mọi việc cần thiết.’ Vua Đại Thiện Kiến nói với các Tiểu vương: ‘Thôi, thôi, Chư Hiền! Thế là các ngươi đã cúng dường ta rồi đó. Các ngươi hãy theo pháp chính mà trị dân, chớ làm cho thiên lệch, không để cho quốc nội có hành vi phi pháp. Đó tức là ta trị hóa.’ Các tiểu vương vâng lệnh. Họ liền theo vua đi tuần
________________________
143 T 5, T 6: Phi hành Hoàng đế 飛行皇帝.

* Trang 114 *
device

khắp nước, đến tận mé biển Đông mới trở về.“Vua lần lượt đi về phương Nam, rồi phương Tây, phương Bắc. Hễ bánh xe vàng đến ở đâu thì các quốc
vương đều đến cống hiến như các tiểu quốc phương Đông vậy.
“Bấy giờ, vua Đại Thiện Kiến sau khi đã theo bánh xe vàng đi khắp bốn biển, đem chính đạo khai hóa, an ủi dân chúng xong, trở về thành Câu-xá-bà-đề của bản quốc, thì bánh xe vàng dừng lại trên không trung ngay cửa cung điện. Vua Đại Thiện Kiến vui mừng phấn khởi nói: ‘Bánh xe vàng báu này thật là điềm tốt của ta. Nay ta chính thật là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là sự thành tựu báu Bánh xe vàng.
“Vua Đại Thiện Kiến thành tựu báu Voi trắng như thế nào?
“Lúc bấy giờ, vào buổi sáng sớm, Thiện Kiến Đại Vương đang ngồi trên chính điện, tự nhiên voi báu hốt nhiên xuất hiện trước mặt. Lông nó thuần trắng. Bảy chỗ đầy đặn. Có thể bay được. Đầu nó tạp sắc. Sáu ngà thon nhọn, xen cẩn bằng vàng ròng. Sau khi nhìn thấy, vua tự nghĩ: ‘Con voi này khôn. Nếu khéo huấn luyện, có thể cưỡi.’ Bèn sai huấn luyện thử. Tập các khả năng đều đủ. Khi ấy Thiện Kiến Đại Vương muốn tự mình thử voi, bèn cưỡi lên, rồi vào lúc sáng sớm, ra khỏi thành, chu du khắp bốn biển. Đến giờ cơm thì đã về tới. Thấy thế, Thiện Kiến Vương phấn khởi nói: ‘Con voi trắng báu này thật sự là điềm lành cho ta. Nay ta thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là sự thành tựu báu Voi trắng.
“Thiện Kiến Đại Vương thành tựu báu Ngựa như thế nào?
“Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, Đại Thiện Kiến Vương đang ngồi trên chính điện, tự nhiên ngựa báu hốt nhiên xuất hiện trước mắt. Lông nó màu xanh, bờm đỏ. Đuôi, đầu và cổ, như voi. Nó có khả năng bay. Khi ấy Thiện Kiến Vương tự nghĩ: ‘Con ngựa này khôn. Nếu huấn luyện kỹ, có thể cưỡi.’ Rồi vua sai huấn luyện thử. Tập đủ các khả năng. Khi vua Thiện Kiến muốn tự mình thí nghiệm ngựa báu, bèn cưỡi lên, vào lúc sáng sớm, ra khỏi thành, chu du bốn biển. Đến giờ ăn thì đã về tới. Thiện Kiến Vương phấn khởi nói:
‘Con ngựa báu màu xanh này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là sự thành tựu báu Ngựa trắng.
 [22b] “Thiện Kiến Đại vương thành tựu báu Thần châu như thế nào?
“Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, Đại Thiện Kiến Vương đang ngồi trên chính điện, tự nhiên thần châu báu hốt nhiên xuất hiện trước mắt. Màu

* Trang 115 *
device

sắc tinh chất, trong suốt, không có tỳ vết. Thấy rồi, vua nói: ‘Hạt châu này đẹp quá. Ánh sáng của nó có thể rọi sáng cả nội cung.’ Rồi vua muốn thử hạt châu ấy, bèn gọi bốn chủng quân binh vào, đặt bảo châu này ở trên tràng phan. Vào lúc nửa đêm trời tối, mang nó ra ngoài thành. Ánh sáng của hạt châu này rọi sáng tất cả quân binh, chẳng khác gì ban ngày. Ở vòng ngoài quân binh, nó lại chiếu sáng cả một do-tuần. Người trong thành đều
thức dậy làm việc, vì cho là ban ngày. Thiện Kiến Đại Vương phấn khởi nói: ‘Nay hạt thần châu báu này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là sự thành tựu báu Thần châu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu báu Ngọc nữ như thế nào?
“Khi ấy Ngọc nữ báu hốt nhiên xuất hiện. Nhan sắc thung dung, diện mạo xinh đẹp, không cao, không thấp, không mập, không gầy, không đen, không trắng, không cương, không nhu. Đông thì thân ấm. Hè thì thân mát. Các lỗ chân lông trên khắp thân thể toát ra mùi hương chiên-đàn. Miệng thở ra hương hoa ưubát- la. Nói năng dịu dàng. Cử động khoan thai. Đứng dậy trước, ngồi xuống sau, không hề mất nghi tắc. Vua Thiện Kiến lúc bấy giờ thanh tịnh không nhiễm trước. Tâm không hề có chút ý niệm gì, huống hồ gần gũi. Bấy giờ vua Thiện Kiến phấn khởi nói: ‘Ngọc nữ này thật là điềm lành của ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là sự thành tựu báu Ngọc nữ.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu báu Cư sỹ như thế nào?
“Khi ấy Cư sỹ trượng phu hốt nhiên tự xuất hiện. Kho báu tự nhiên có. Tài sản vô lượng. Cư sỹ có túc phước nên con mắt có thể nhìn suốt thấy mỏ báu dưới lòng đất. Vật hữu chủ hay vô chủ, đều nhìn mà biết hết. Nếu có chủ, ông có thể gìn giữ hộ. Nếu vô chủ, ông thu lấy đem hiến cho vua dùng. Cư sỹ báu đi đến tâu vua: ‘Đại vương, có vật cống hiến, vua đừng lo buồn. Tôi có thể tự giải quyết.’ Bấy giờ, vua Đại Thiện Kiến muốn thử Cư sỹ báu, bèn ra lịnh chuẩn bị thuyền để đi du hí. Vua bảo Cư sỹ: ‘Ta cần vàng. Ngươi hãy kiếm nhanh cho ta.’ Cư sỹ tâu: ‘Đại vương, xin hãy chờ giây lát. Đợi lên bờ đã.’ Vua tìm cách thúc hối: ‘Ta dừng đây. Đang cần dùng. Ngươi đem đến ngay.’ Khi ấy Cư sỹ bị vua ra lịnh nghiêm, bèn quỳ ngay trên thuyền, dùng tay mặt thọc vào trong nước. Bình báu từ trong nước cùng lên theo tay. Như con sâu leo cây, cũng như thế, với Cư sỹ báu, bảo vật từ trong nước duyên theo tay mà xuất hiện đầy thuyền. [22c] Rồi ông tâu vua: ‘Vừa rồi Đại vương nói cần báu. Nhưng cần bao nhiêu?’ Vua Thiện Kiến nói với Cư sỹ: ‘Thôi, đủ rồi! Ta không cần dùng gì. Chỉ là để thử nhau mà thôi. Ngươi nay

* Trang 116 *
device

Như thế là đã cống hiến cho ta rồi đó.’ Cư sỹ kia nghe vua nói như vậy liền ném trả bảo vật xuống nước. Thiện Kiến Vương phấn khởi nói: ‘Cư sỹ báu này thật sự làđiềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là thành tựu báu Cư sỹ.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu báu Chủ binh nhưthế nào?
“Khi ấy Chủ binh bảo hốt nhiên xuất hiện, trí mưu, hùng mãnh, thao lược, quyết đoán. Rồi chủ binh đi đến chỗ vua, tâu: ‘Đại vương, nếu có chỗ cần chinh phạt, xin đừng lo lắng. Tôi có thể tự mình giải quyết.’Vua Thiện Kiến lúc ấy muốn thử chủ binh báu, liền cho tập họp bốn chủng binh và nói với chủ binh rằng:‘Ngươi nay dụng binh, chưa tập họp hãy tập họp. Đã tập họp hãy giải tán. Chưa nghiêm hãy nghiêm. Đãnghiêm hãy cho buông lỏng. Chưa đi hãy bảo đi. Đãđi hãy bảo dừng.’ Chủ binh báu nghe vua nói xong, liền điều khiển bốn chủng quân khiến cho chưa tập họp thì tập họp. Đã tập họp thì giải tán. Chưa nghiêm thì nghiêm chỉnh. Đã nghiêm chỉnh thì cho buônglỏng. Chưa đi, bảo đi. Đã đi, bảo dừng. Thiện KiếnVương lúc ấy phấn khởi nói: ‘Chủ binh báu này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân thánh vương.’ Đó là báu Chủ binh.
“Này A-nan, đó là Thiện Kiến đại vương thành tựu bảy báu.
“Thế nào là bốn thần đức? Một là sống lâu, không yểu, không ai sánh bằng. Hai là thân thể cường tráng, không bịnh hoạn, không ai sánh bằng. Ba là nhan mạo đoan chính, không ai sánh bằng. Bốn là kho báu tràn đầy, không ai sánh bằng.
“Đó là Chuyển luân thánh vương thành tựu bảy báu và bốn thần đức.
“A-nan, một thời gian lâu Thiện Kiến Vương mới bảo đánh xe xuất du hậu viên. Vua bảo người đánh xe:
‘Ngươi đánh xe đi thong thả. Vì sao vậy? Ta muốn xem xét kỹ nhân dân có được an lạc, không hoạn nạn xảy ra chăng.’ Lúc bấy giờ, nhân dân trong nước dọc theo đường đứng xem, họ nói với kẻ đánh xe: ‘Ông hãy cho đi chậm. Tôi muốn ngắm rõ uy nhan của Thánh vương.’ Này A-nan, khi ấy Thiện Kiến vương vỗ về trìu mến nhân dân như cha yêu con. Quốc dân kính mộ vua như con kính cha. Có gì quí hiếm họ đem dâng vua: ‘Cúi xin Đức Vua nạp thọ, tùy ý sử dụng.’Vua bảo: ‘Thôi đủ rồi, các khanh! Ta có đủ tài bảo cần dùng rồi. Các khanh hãy cất lấy mà dùng.’
“Vào lúc khác vua nghĩ: ‘Ta muốn xây dựng cung điện.’ Khi vừa có ý nghĩ đó thì người trong nước đến chỗ vua, tâu: ‘Tôi xin xây dựng cung điện cho vua.’[23a] Vua bảo: ‘Ta cho như vậy là đã được các ngươi

* Trang 117 *
device

cúng dường rồi. Ta sẵn có tài bảo để lo liệu.’ Quốc dân lặp lại thỉnh cầu: ‘Chúng tôi xin xây dựng cung điện cho vua.’Vua bảo: ‘Tùy ý các ngươi muốn.’ Quốc dân được lệnh, liền đem tám mươi bốn ngàn chiếc xe chở vàng đến thành Câu-xá-bà để tạo lập Chính pháp điện.144 Khi ấy vị thiên thần thợ khéo145 ở trời Đao-lị tự nghĩ: ‘Chỉ có ta mới có khả năng xây dựng Chính pháp điện cho vua Đại Thiện Kiến.’
“Này A-nan, khi ấy thiên thần khéo xây dựng Chính pháp điện dài sáu mươi dặm, rộng ba mươi dặm, được trang sức bằng bốn bảo. Mặt nền bằng phẳng. Thềm được lát bảy lớp với gạch báu. Pháp điện có tám muôn ngàn cây cột. Thân cột bằng vàng thì chóp cột bằng bạc. Thân cột bạc thì chóp cột vàng. Bằng lưu ly và thủy tinh cũng vậy. Bao quanh điện là bốn lớp lan can, đều được làm bằng bốn loại bảo. Lại có bốn thềm cấp cũng bằng bốn loại bảo. Trên Pháp điện ấy có tám vạn bốn ngàn lầu báu. Lầu bằng vàng thì các cửa sổ bằng bạc. Lầu bằng bạc, cửa sổ bằng vàng. Bằng thủy tinh và lưu ly cũng vậy. Lầu vàng thì giường bạc. Lầu bạc, giường vàng. Chăn đệm mềm mại được dệt bằng kim lũ trải trên giường. Bằng thủy tinh và lưu ly cũng vậy. Ánh sáng của cung điện chói lọi làm hoa mắt mọi người, như mặt trời lúc cực sáng không ai có thể nhìn được.
“Bấy giờ, Thiện Kiến vương phát sinh ý nghĩ: ‘Nay ở hai bên điện, ta hãy lập nhiều ao và vườn cây đa-lân.’ Vua bèn cho lập vườn. Ngang dọc một do-tuần. Vua lại nghĩ: ‘Ở trước pháp điện ta hãy lập một ao Pháp.146 Bèn cho xây ao Pháp, ngang dọc một do-tuần. Nước ao trong lắng, tinh khiết, không bợn dơ. Đáy ao lát bằng gạch bốn bảo. Bao quanh ao là lan can, đều làm bằng bốn thứ báu: hoàng kim, bạch ngân, thủy tinh và lưu ly. Nước trong ao, mọc xen lẫn các thứ hoa như ưu-bát-la, ba-đầu-ma, câu-vật-đầu, phân-đà-lị. Hoa tỏa ra hương thơm sực nức khắp nơi. Khoảng đất ở bốn mặt ao mọc các thứ hoa như a-hê-vật-đa, chiêm bặc, ba-la-la, tu-mạn-đà, bà-sư-ca, đàn-cu-ma-lê. Vua sai người trông coi ao. Những ai đi ngang qua, dẫn xuống ao tắm, mát mẻ vui đùa tùy ý thích. Cần nước uống thì cho nước uống. Cần thức ăn thì cho thức ăn. Y phục
_____________________
144 Chánh pháp điện 正法殿. T 5: điện Ba-la-sa-đàn 波羅沙檀. T6: Trị pháp điện 治法殿. T 7: Thuyết pháp điện 說法殿. Pl.: Sudhamma-sabhā, hội trường Chính pháp.
145 T 7: Đế Thích sai Tì-thủ-kiết-ma (Pl.: Vissakamma) xuống dựng cung điện.
146 Pháp trì 法池. D17 (ii 184).: dhammaṃ nāma pokkharaṇiṃ, ao sen tên là Dhamma .

* Trang 118 *
device

hương hoa, xe ngựa, tài bảo các thứ, đều không để nghịch ý người.
“A-nan, bấy giờ vua Thiện Kiến có tám vạn bốn ngàn voi, trang sức bằng vàng bạc, tua dải bằng bảo châu, Trai tượng vương147 là bậc nhất. Có tám [23b]vạn bốn ngàn ngựa, trang sức bằng vàng bạc, tua dải bằng bảo châu, Lực mã vương148 là bậc nhất. Có tám vạn bốn ngàn cỗ xe, lót bằng da sư tử, trang nghiêm bằng bốn bảo, Kim luân bảo là bậc nhất. Có tám muôn bốn ngàn hạt châu, Thần châu bảo là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, Ngọc nữ bảo là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn Cư sỹ, Cư sỹ bảo là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn Sát-lị, Chủ binh bảo là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn thành, Câu-thi-bà-đề là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn cung điện, Chính pháp điện là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn lầu, Đại chính lâu là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn giường, thảy đều bằng các thứ báu hoàng kim, bạch ngân; bên trên giường trải nệm lông, chăn lông các thứ.149 Tám vạn bốn ngàn ức áo bằng các thứ vải như sơ-ma, ca-thi, kiếp-ba150 là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn thức ăn, mỗi ngày dọn mỗi món khác nhau.
“A-nan, bấy giờ, vào buổi sáng sớm, vua Thiện Kiến cưỡi Trai tượng vương, cùng với tám vạn bốn ngàn thớt voi, ra khỏi thành Câu-thi, xem xét thiên hạ, đi khắp bốn biển. Trong khoảng chốc lát, trở về thành ăn cơm. Rồi cỡi Lực mã bảo, cùng với tám vạn bốn ngàn ngựa, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành xuất du, xem xét thiên hạ, đi khắp bốn biển. Trong chốc lát, trở về thành ăn cơm. Cỡi xe Kim luân, Lực mã bảo kéo, cùng với tám vạn bốn ngàn cỗ xe, vào buổi sáng sớm xuất du, xem xét thiên hạ, đi khắp bốn biển. Trong chốc lát trở về thành ăn cơm. Cùng với tám vạn bốn ngàn minh châu, dùng Thần châu bảo soi sáng nội cung. Ngày đêm luôn luôn sáng. Với tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, Ngọc nữ bảo khôn ngoan, khéo léo, hầu hạ phục thị hai bên. Với tám vạn bốn ngàn Cư sỹ, mọi thứ nhu yếu đều giao cho Cư sỹ bảo lo. Với tám vạn bốn ngàn Sát-lị, nếu có chinh phạt, giao cho Chủ binh bảo. Với tám vạn bốn ngàn thành, thủ đô trụ sở thường trực ở Câu-thi thành. Với tám vạn bốn ngàn cung điện, vua thường ngự ở Chính pháp điện. Với tám vạn bốn
____________________________
147 Để bản: Tề 齊, TNM 齎. Đọc đúng là Trai 齋, tương đương Pāli:Uposatha, cf. D.i.i 174; M iii 173.
148 Lực mã vương 力馬王. Pāli: Valahaka.
149 Hán: cù lũ sáp đắng uyển diên 氍氀毾㲪綩綖.
150  Sơ-ma 初摩, Pl.: khoma; ca-thi 迦尸, Pl.: kāsika; kiếp-ba 劫波;Pl.: kappāsika.

* Trang 119 *
device

Ngàn lầu, chỗ vua thường nghỉ là Đại chính lâu. Với tám vạn bốn ngàn chỗ ngồi, vua thường ngồi trên tòa pha lê, vì để an thiền. Với tám vạn bốn ngàn ức y, trang sức bằng thượng diệu bảo, tùy ý mà mặc để che người cho khỏi hổ thẹn. Với tám vạn bốn ngàn thức ăn, Vua thường ăn thức ăn tự nhiên. Vì là tri túc.
“Khi tám vạn bốn ngàn thớt voi hiện đến, chúng dày xéo, dẫm đạp, làm hại chết chúng sinh không kể xiết.Vua bèn tự nghĩ: ‘Đám voi này làm thương tổn chúng sinh quá nhiều. Từ nay về sau, cứ một trăm năm mới cho hiện một con voi. Lần lượt như vậy cho đến hết vòng thì quay trở lại.’”151
________________________
151  Bản Hán, hết quyển 3.

* Trang 120 *
device

III
[23c8]  Bấy giờ, Thế Tôn nói với A-nan:
“Vua Đại Thiện Kiến thầm nghĩ: ‘Ta sẵn chứa công đức gì, tu được điều lành gì mà nay được quả báo vòi vọi như thế?’ Vua lại nhớ rằng nhờ ba nhân duyên màgây được phúc báo đó. Ba nhân duyên ấy là gì? Một làbố thí, hai là trì giới, ba là thiền tứ.152 Vua lại suy nghĩ: ‘Nay ta đã được thọ hưởng phúc báo nhân gian, ta hãy tiến tu thêm về phúc nghiệp cõi trời. Ta hãy tự hạn chếvà tổn giảm; lánh chỗ ồn ào; ẩn ở chỗ yên tĩnh để tu luyện đạo thuật.’ Rồi vua liền sai gọi ngọc nữ Thiện Hiền153 đến, bảo rằng: ‘Nay ta đã được thọ hưởng phúc báo nhân gian, ta hãy tiến tu thêm về phúc nghiệp cõi trời. Ta hãy tự hạn chế và tổn giảm; lánh chỗ ồn ào; ẩn ở chỗ yên tĩnh để tu luyện đạo thuật.’ Ngọc nữđáp: ‘Kính vâng, xin tuân lời Đại vương dạy.’ Rồi sắc lệnh cho cả trong ngoài từ nay miễn sự chầu hầu. Vua liền lên Pháp điện, vào tòa lầu bằng vàng, ngồi trên giường ngự bằng bạc, tư duy, ly dục, lìa pháp ác bất thiện, có tầm và có tứ,154có hỷ và lạc phát sinh từ sựviễn ly, chứng đắc thiền thứ nhất. Trừ diệt tầm và tứ, nội đẳng tịnh,155 nhiếp tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh, chứng thiền thứhai. Lìa hỷ, an trú xả156 chuyên niệm không loạn,157tự thân cảm giác lạc điều mà Hiền Thánh nói là xả, an trú lạc với chính niệm niệm,158 chứng đắc thiền thứba. Xả
______________________
152 D17 (ii 186): ba pháp: dāna (bố thí), dama (điều phục), saṃyama (tự chế).
153 Thiện Hiền bảo nữ 善賢寶女. Pl.: Subhaddādevi.
154 Nguyên Hán: hữu giác hữu quán 有覺有觀. Pl.: savitakkasavicāra.
155 Nguyên Hán: Nội tín hoan duyệt 內信歡悅. Chân Đế dịch: Nội trừng tịnh 內澄淨; Huyền Trang: Nội đẳng tịnh 內等淨. Pāli, thành cú: ajjham sampasādana. Do sampasādana vừa có nghĩa sự lắng đọng, vừa có nghĩa sự hoan hỉ. Trong trạng thái thiền, đây nên hiểu là sự an tịnh nội tâm.
156 Nguyên Hán: xả hỷ thủ hộ 捨喜取護. Pāli, thành cú: pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, lìa bỏ hỷ, an trú xả. Upekkhaka, thường dịch là xả, trong bản Hán trên được hiểu là hộ.
157 Hán: chuyên niệm bất loạn 專念不亂. Pl.: sato ca sampajāno, chính niệm, chính tri.
158 Nguyên Hán: tự tri thân lạc hiền thánh sở cầu hộ niệm lạc hành 自知身樂賢聖所求護念樂行. Pāli, định cú: sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti yaṃ tam āriyā ācikkhanti upekkhako satimā sukhavihārī: cảm nghiệm lạc bằng tự thân, điều các bậc Thánh nói là sự an trú lạc cùng với xả và niệm. Trong đây, ācikkhanti, vừa có

* Trang 121 *
device

bỏ khổ và lạc, trừ diệt ưu và hỷ từ trước, không khổ, không lạc, xả và niệm thanh tịnh,159 chứng đắc thiền thứ tư. “Rồi Vua Thiện Kiến rời khỏi giường ngự bằng bạc, rakhỏi lầu vàng, đi đến lầu Đại chính, ngồi trên giường lưu ly tu tập từ tâm, rải lòng từ đầy khắp một phương này rồi đến một phương khác cũng vậy; an trú với tâm tư câu hữu với từ trùm khắp, rộng lớn, không hai, không hạn lượng, trừ mọi kết hận, tâm không thù oán. Tu tập bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế.
“Bấy giờ, Ngọc nữ thầm nghĩ: ‘Đã lâu không thấy tôn nhan, tưởng nên đến hầu thăm một phen. Nay nên diện kiến Đức Vua.’ Rồi bảo nữ Thiện Hiền [24a] nói với tám vạn bốn ngàn các thể nữ rằng: ‘Các ngươi mỗi người hãy tắm gội nước thơm, trang điểm y phục. Sở dĩ như vậy vì đã lâu chúng ta không gặp tôn nhan, nên hãy hầu thăm một phen.’ Thể nữ nghe thế, thảy đều trang điểm y phục, tắm gội sạch sẽ. Rồi Ngọc nữnói với Chủ binh bảo thần tập họp bốn chủng quân,rằng: ‘Đã lâu chúng ta không gặp tôn nhan, nên hãy hầu thăm một phen.’ Chủ binh bảo thần liền tập họp bốn chủng quân, thưa với Bảo nữ: ‘Bốn chủng quân đã tập. Nên biết thời.’ Rồi Bảo nữ dẫn tám vạn bốn ngàn thể nữ, cùng với bốn thứ quân điđến vườn Kim đa-lân.160 Âm thanh chấn động của đại chúng vang đến Vua. Nghe thế, Vua đi đến cửa sổ để xem. Bảo nữlúc ấy đứng một bên trước cửa. Thấy Bảo nữ, Vua liền nói: ‘Ngươi khỏi bước tới. Ta sẽ ra xem.’ Thiện Kiến Vương rời tòa pha lê, ra khỏi lầu Đại chính, đi xuống Chính pháp điện, cùng với Ngọc nữ đi đến vườn Đalân, ngồi lên chỗ soạn sẵn. Lúc ấy dung sắc Thiện Kiến Vương tươi sáng hơn hẳn bình thường. Bảo nữThiện Hiền tự nghĩ: ‘Nay, sắc mặt Đại vương hơn hẳn bình thường. Có điềm lạ gì chăng?’ Rồi Bảo nữ tâu vua: Đại vương, nay nhan sắc khác thường. Há không phải là điềm sắp xả thọ mạng chăng? Nay tám vạn bốn ngàn voi này, Bạch tượng bảo là bậc nhất, được trang sức bằng vàng bạc, với bảo châu làm tua dải; tất cả là sở hữu
____________________________________
nghĩa nói, vừa có nghĩa tìm tòi. Pháp uẩn 7 (T 1537, tr. 484b): Thanh thuyết ưng xả 聖說應捨, và giải thích: “ Những người tu định đối với lạc này nên xả, không nên tham đắm vị ngọt của nó; an trúxả với chính niệm, chính tri.” Hán: lạc hành 樂行; Pl.: sukhaviharī:sống an lạc hay an trú trong cảm giác lạc.
159Nguyên Hán: hộ niệm thanh tịnh 護念清淨, Pāli, thành cú: upekkhāsāti parisuddhim, xả niệm thanh tịnh.
160 Kim đa-lân viên 金多鄰園, vườn cây đa-la (Pl.: tāla) bằng vàng

* Trang 122 *
device

của vua. Mong vua lưu ý một chút, cùng chung vui hưởng, chớ xả bỏ tuổi thọ mà bỏ rơi vạn dân. Lại tám vạn bốn ngàn ngựa, Lực mã vương bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn cỗ xe, Kim luân bảo bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn minh châu, Thần châu bảo bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn Ngọc nữ, Ngọc nữ bảo bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn Cư sỹ, Cư sỹ bảo bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn Sát-lị, Chủ binh bảo là bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn thành, Câu-thi thành bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn cung điện, Chính pháp điện bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn tòa lầu, Đại chính lâu bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn tòa ngồi, bảo sức tòa bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn ức y, nhu nhuyến y bậc nhất. Tám vạn bốn ngàn thức ăn, mỗi vị đều quý hiếm. Hết thảy bảo vật ấy đều thuộc về Vua. Mong Vua lưu ý một chút, cùng chung vui thú, chớ xả thọ mạng, bỏ rơi vạn dân.’
“Thiện Kiến Vương đáp Bảo nữ: ‘Từ trước đến nay, ngươi cung phụng ta một cách từ hòa kính thuận, chưa bao giờ nói lời thô lậu, sao nay ngươi lại có lời ấy?’ Ngọc nữ tâu: ‘Chẳng hay lời ấy có gì không thuận.’ Vua nói: ‘Những thứ mà ngươi vừa nói, [24b] voi, ngựa, xe cộ, đền đài, y phục, hào soạn quý báu kia, thảy đều vô thường, không giữ gìn lâu được, mà khuyên ta lưu lại hưởng thụ, như thế có thuận chăng?’ Ngọc nữ tâu: ‘Chẳng hay phải nói thế nào mới là thuận?’ Vua bảo: ‘Giá ngươi nói, các thứ voi, ngựa xe cộ, đền đài, y phục, hào soạn đều vô thường, không giữ gìn lâu được, mà khuyên ta đừng mê luyến đến làm gì cho lao thần tổn tứ. Vì mạng Vua chẳng còn bao lâu sẽ qua đời khác. Hễ có sinh tất có chết, có hợp tất có ly, đâu phải sống đời ở đây được. Vậy hãy cắt đứt ân ái để chuyên tâm vào đạo lý. Nếu ngươi nói như thế mới là kính thuận.’
“Này A-nan, nghe lời Vua dạy như thế, Ngọc nữ buồn khóc than thở, gạt nước mắt mà nói: ‘Các thứ voi, ngựa xe cộ, đền đài, y phục, hào soạn thảy đều vô thường, không giữ gìn lâu được, đừng mê luyến đến làm gì cho lao thần tổn tứ. Vì mạng Vua chẳng còn bao lâu sẽ qua đời khác. Hễ có sinh tất có chết, có hợp tất có ly, đâu phải sống đời ở đây được. Vậy hãy cắt đứt ân ái để chuyên tâm vào đạo lý.’
“Này A-nan, Ngọc nữ bảo kia vừa nói xong giây lát, Thiện Kiến Vương bỗng nhiên mệnh chung, không chút đau khổ, như kẻ tráng sĩ trong một bữa ăn ngon, hồn thần sinh lên cõi trời Phạm Thiên thứ bảy.161
_____________________
161 Đệ thất Phạm thiên 第七梵天. T 6: cũng vậy. D17 (ii 196):sugatiṃ brahmalokaṃ upapajji, tái sinh thượng thiên, Phạm thiên giới. T 5, T 7, như Pāli.

* Trang 123 *
device

“Sau khi Vua băng hà bảy ngày, các thứ Luân bảo, Thần châu biến mất, Voi báu, Ngựa báu, Ngọc nữ báu, Cư sỹ báu, Quân binh báu cũng một ngày chết hết; thành trì, ao hồ, Pháp điện, đền đài, các thứ trang sức bằng báu, vườn Kim đa-lân, đều biến thành gỗ, đất.”
Phật bảo A-nan:
“Này A-nan, pháp hữu vi này là vô thường, biến dịch,chung qui hao mòn, hoại diệt. Tham dục không chán. Mạng người tiêu tán. Mê say ân ái không hề biết đủ.Chỉ người nào chứng đắc Thánh trí, thấy rõ đạo lý, mới biết đủ mà thôi.
“Này A-nan, Ta nhớ đã từng ở nơi này, Ta sáu lần tái sinh làm Chuyển luân thánh vương và cuối cùng bỏxác tại chỗ này. Nay Ta thành Vô thượng Chính giác, lại cũng muốn xả bỏ mạng căn, gởi thân tại đây. Từnay về sau, Ta đã dứt tuyệt sinh tử, không còn có chỗnào là nơi bỏ xác Ta nữa. Đây là đời cuối cùng. Ta không còn thọ sinh trở lại nữa.”
Bấy giờ, Thế Tôn tại thành Câu-thi-na-kiệt, Bản sinh xứ, trong vuờn Sa-la, giữa hai cây song thọ, vào lúc sắp gần diệt độ, nói với A-nan rằng:
“Này A-nan! Ngươi hãy vào thành Câu-thi-na-kiệt, báo tin cho những người Mạt-la rằng: ‘Chư Hiền nên biết, Như Lai nửa đêm nay sẽ vào Niết-bàn tại giữa cây Song Thọ trong vườn Sa-la. Các người nên kịp thời đến thưa hỏi [24c] các điều nghi ngờ và trực tiếp nghe Phật chỉ dạy, để sau khỏi hối tiếc.”
A-nan vâng lời Phật dạy, rời chỗ ngồi đứng dậy, lễPhật mà đi. Cùng với một Tỳ-kheo khác, nước mắt chảy ròng, mà vào thành Câu-thi-na. Khi vào thành, gặp năm trăm Mạt-la nhân có chuyện đang họp cảmột chỗ. Họ thấy A-nan đến, đều đứng dậy chào hỏi rồi đứng về một bên, và bạch rằng:
“Không hiểu Tôn giả có việc gì mà phải vào thành lúc chiều tối thế này?”
A-nan rơi lệ vừa nói:
“Tôi vì ích lợi các người, đến tin các người hay đức Như Lai đến nửa đêm nay sẽ vào Niết-bàn. Các người nên kịp thời đến thưa hỏi những điều hoài nghi, trực tiếp nghe Phật chỉ dạy, để sau khỏi hối tiếc.”
Vừa nghe xong, những người Mạt-la cất tiếng kêu than, vật vã xuống đất, có người ngất đi tỉnh lại. Vínhư cây lớn khi trốc gốc thì các nhánh

* Trang 124 *
device

cành đều đổ gãy. Họ đồng than:
“Phật diệt độ sao mà vội thế! Phật diệt độ làm sao mà vội thế! Con mắt của thế gian mà diệt mất, thì chúng sinh bị suy hại lâu dài!”
A-nan an ủi họ:
“Thôi, các người chớ buồn! Trời đất, muôn vật, hễ có sinh đều có chết. Muốn cho pháp hữu vi tồn tại mãi là điều không thể có được. Phật há chẳng dạy: ‘Có hợp tất có ly, có sinh tất có diệt’ đó sao!”
Rồi thì, các người Mạt-la bảo nhau:
“Chúng ta hãy về nhà, đem cả gia thuộc và năm trăm khổ vải trắng, cùng đến Song thọ.”
Những người Mạt-la ai về nhà nấy, rồi đem cả gia thuộc, và mang cả năm trăm tấm lụa trắng ra khỏi thành Câu-thi, đến giữa rừng Song thọ, và đi đến chỗ A-nan. A-nan vừa trông thấy từ xa, thầm nghĩ: ‘Bọn họ rất đông. Nếu để cho từng người một vào yết kiến Phật, e rằng chưa khắp hết thì Như Lai đã diệt độ rồi. Ta nên bảo họ vào đầu hôm đồng một lượt đến bái yết
Phật.’”
A-nan liền dắt năm trăm người Mạt-la và gia thuộc đến trước Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng sang một bên và bạch rằng:
“Nay có các Mạt-la tên như thế và gia thuộc, xin thăm hỏi đức Thế Tôn sức khỏe có bình thường không?”
Phật nói:
“Phiền các ngươi đến thăm. Ta chúc cho các ngươi sống lâu, vô bịnh.”
A-nan bằng cách đó đã có thể dẫn hết các người la và gia thuộc của họ vào thăm Phật. Khi ấy, các Mạtla đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên.
Thế Tôn thuyết giảng cho họ về vô thường, khai thị, giáo huấn, khiến cho được lợi ích, hoan hỷ.
Nghe pháp xong, các Mạt-la ai nấy đều hoan hỷ, liền đem năm trăm khổ vải trắng dâng Phật. Phật thụ lãnh.
[25a] Các Mạt-la rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Phật rồi lui ra.

* Trang 125 *
device

Lúc đó, trong thành Câu-thi có một vị Phạm-chí tên Tu-bạt162 là bực kì cựu đa trí, đã một trăm hai mươi tuổi, nhân nghe đức Sa-môn Cù-đàm đêm nay sẽ diệt độ tại giữa cây Song Thọ, ông tự nghĩ: ‘Ta đối với pháp có điều hoài nghi. Chỉ có đức Cù-đàm mới khai mở được tâm ý ta. Ta nên kịp thời cố hết sức mình đi đến Phật.’ Ngay đêm ấy ông gắng ra khỏi thành, đi đến Song thọ, đến chỗ A-nan. Sau khi chào hỏi xong, ông thưa:
“Tôi nghe Sa-môn Cù-đàm sắp vào Niết-bàn đêm nay, nên đến đây mong được bái yết một lần. Tôi đối với pháp có điều hoài nghi, mong được gặp Cù-đàm để Ngài quyết nghi cho. Vậy Ngài có được rỗi rảnh cho tôi vào bái yết không?”
A-nan bảo: “Thôi đừng, Tu-bạt! Phật đang có bịnh.
Không nên quấy rầy Ngài.”
Tu-bạt cố nài xin đến ba lần rằng:
“Tôi nghe đức Như Lai ra đời như hoa ưu-đàm, rất lâumới xuất hiện một lần, nên đến đây mong bái yết để được giải quyết nghi ngờ. Ngài có rỗi rảnh cho tôi gặp một lát được không?”
A-nan cũng vẫn trả lời như trước:
“Phật đang có bịnh. Không nên quấy rầy Ngài.”
Khi ấy Phật bảo A-nan:
“A-nan, ngươi chớ ngăn cản. Hãy để cho ông ấy vào.
Ông muốn giải quyết sự nghi ngờ, không có gì phiền nhiễu. Nếu nghe được pháp của Ta, ắt được khai ngộ.”
A-nan liền bảo Tu-bạt:
“Nếu ông muốn vào thăm Phật, xin mời vào.”
Tu-bạt được vào, chào hỏi Phật xong, ngồi một bên và bạch Phật:
“Tôi đối với pháp có điều hoài nghi. Ngài có rỗi rảnh quyết nghi cho không?”
Phật nói: “Ông cứ tùy ý hỏi.”
Tu-bạt hỏi:
____________________________
162 Tu-bạt 須拔. T 7: Tu-bạt-đà-la 須跋陀羅. Pl.: Subhadaparibbājaka,ngoại đạo xuất gia Subhada.

* Trang 126 *
device

“Bạch Cù-đàm, có những giáo phái khác, tự xưng bậc thầy, như các ông Phất-lan Ca-diếp, Mạt-già-lê Kiềuxá- lợi, A-phù-đà Sí-xá-kim-bạt-la, Ba-phù Ca-chiên, Tát-nhã Tì-da-lê-phất, Ni-kiền Tử.163 Những bậc Thầy đó đều có pháp riêng, đức Sa-môn Cù-đàm có biết hết hay không?”
Phật đáp: “Thôi, thôi! Nói về điều ấy có ích gì? Những giáo pháp ấy Ta đều rõ cả. Nay Ta sẽ nói cho ông pháp thâm diệu, ông hãy lắng nghe và khôn khéo suy nghiệm. Này Tu-bạt! Trong giáo pháp nào mà không có Thánh đạo tám chi thì ở đó không có quả vị Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Trong giáo pháp nào có Thánh đạo tám chi thì ở đó có quả vị Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư. Nay trong giáo pháp này có Thánh đạo tám chi nên có quả vị Sa-môn thứ nhất, [25b] quả vị Sa-môn thứ hai, thứ ba, thứ tư. Trong các chúng ngoại đạo không có.”
Rồi Thế Tôn đọc bài kệ:
Ta hai mươi chín tuổi,
Xuất gia tìm Chính đạo.
Từ khi Ta thành Phật,
Đến nay năm mươi năm.164
Các hành giới, định, tuệ,
Sông đơn độc tư duy.
Nay Ta giảng pháp yếu:
Ngoại đạo không Sa-môn.
Phật bảo:
“Này Tu-bạt! Nếu các Tỳ-kheo thảy đều có thể tự nhiếp tâm thì cõi thế gian này không trống vắng A-la-hán.”
Khi ấy Tu-bạt thưa với A-nan:
______________________________
163T 5: Tám người đồng chí hướng của Tu-bạt: Cố Quy (T 6: Cô Quy), Vô Tiên (T 6: Vô Thất), Chí Hành, Bạch Lộ Tử, Diên Thọ, Kế Kim Phàn, Đa Tích Nguyện, Ni-kiền Tử 故龜氏, 無先氏, 志行, 有白鷺子, 有延壽氏, 有計金樊氏, 多積願氏, 尼揵子.
164 D16 (ii 151): ekūnatiṃso vayasā subhadda, yaṃ pabbajiṃkiṃkusalānu-esī; vassāni paññāsa samādhikāni, yato ahaṃ pabbajitosubhadda: 29 tuổi xuất gia; 51 năm, kể từ khi xuất gia cho đến khi nhập Niết-bàn. T 7: 29 tuổi xuất gia, 36 tuổi thành Đạo. T5: 49 năm khai hóa dẫn dắt. T 6: xuất gia, sau 12 năm mới thành Đạo, 50 năm khai diễn kinh pháp.

* Trang 127 *
device

“Những ai theo đức Sa-môn Cù-đàm đã tu hành phạm hạnh, hiện đang tu hành và sẽ tu hành, thảy đều có lợi ích lớn. A-nan, ông theo Như Lai tu hành phạm hạnh cũng được lợi ích lớn. Tôi nay được gặp mặt Như Lai, hỏi những điều nghi ngờ, cũng được lợi ích lớn. Nay Như Lai cũng đã ký biệt cho tôi như là ký biệt165cho đệ tử.”
Rồi ông bạch Phật:
“Con nay có thể ở trong pháp của Như Lai mà xuất gia thọ giới cụ túc được chăng?”
Phật nói:
“Này Tu-bạt, nếu có dị học Phạm-chí muốn tu hành ởtrong giáo pháp của Ta, phải được thử qua bốn tháng để xét coi hành vi họ, chí nguyện, tính nết họ. Nếu thấy đủ các oai nghi không điều gì thiếu sót, mới cho phép thọ cụ túc giới ở trong giáo pháp Ta. Tu-bạt, nên biết, còn do bởi tính hạnh của mỗi người vậy.”
Tu-bạt lại bạch Phật:
“Dị học Phạm-chí muốn tu hành ở trong Phật pháp, phải được thử qua bốn tháng để xét coi hành vi, chínguyện, tính nết. Nếu thấy đủ các oai nghi không điều gì thiếu sót, mới cho phép thọ cụ túc giới ở trong Phật pháp. Nay con có thể phục dịch bốn năm ở trong Phật pháp, khi đủ các oai nghi không còn gì thiếu sót mới xin thọ cụ giới.”
Phật dạy:
“Này Tu-bạt, Ta đã nói trước rồi, còn do bởi tính hạnh của mỗi người vậy”
Ngay trong đêm đó, Tu-bạt được xuất gia thọ giới, thanh tịnh tu hành, ngay trong hiện tại, tự thân tác chứng, biết như thật rằng, “Sinh đã dứt, phạm hạnh đãvững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh.”Lúc gần nửa đêm, ông đã chứng quả A-la-hán, là đệ tửcuối cùng của Phật và diệt độtrước Phật.
Bấy giờ, A-nan đứng hầu sau Phật vỗ giường than khóc,166 không thể tự chế, rằng:
_________________________
165Biệt 莂 tức thọ ký.
166Hán: phủ sàng bi khấp 撫床悲泣. D16 (ii 143): kapisīsaṃālambitvā rodamāT ṭhito, “dựa cột cửa, đứng khóc.”

* Trang 128 *
device

“Như Lai diệt độ sao mà vội thế! Thế Tôn diệt độsao mà vội thế! Đại pháp chìm lặng làm sao nhanh quá! Con mắt thế gian diệt mất thì chúng sinh suy đọa lâu dài! Ta nhờ ơn Phật xuất gia mà chỉ đạt được bậc [25c] học địa, nhưng sự nghiệp tu chưa thành mà NhưLai đã diệt độ!”
Khi ấy đức Thế Tôn dù biết mà cố hỏi:
“Tỳ-kheo A-nan đâu rồi?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Tỳ-kheo A-nan đang ở sau Phật, vỗ giường than khóc, không thể tự chế, rằng: Như Lai diệt độ sao màvội thế! Đại pháp chìm lặng làm sao nhanh quá! Con mắt thế gian diệt mất thì chúng sinh suy đọa lâu dài!
Ta nhờ ơn Phật xuất gia mà chỉ đạt được bậc học địa, nhưng sự nghiệp tu chưa thành mà Như Lai đã diệt độ!”
Phật bảo A-nan:
“Thôi, thôi, A-nan! Chớ có buồn phiền than khóc. Từtrước đến nay ngươi hầu hạ Ta với thân hành từ ái không hạn lượng, không phân hai; ngữ hành từ ái, ýhành từ ái không hạn lượng, không phân hai. A-nan, ngươi đã cúng dường Ta, công đức rất lớn. Nếu có sựcúng dường nào của chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn vàBà-la-môn, cũng không sao sánh bằng được. Ngươi hãy siêng năng lên, không bao lâu sẽ thành Đạo”
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, đệ tử thị giả167của chư Phật quákhứ cũng chỉ như A-nan. Đệ tử thị giả của chư Phật vị lai cũng chỉ như A-nan. Nhưng đệ tử thị giả của chư Phật quá khứ được Phật nhắc bảo mới biết. Còn A-nan nay, Ta vừa đưa mắt là đã biết Như Lai cần gì, Thế Tôn cần gì. Đó là pháp vị tằng hữu của A-nan, các ông hãy ghi nhớ.
“Chuyển luân thánh vương có bốn pháp vị tằng hữu,kì đặc. Những gì là bốn? Khi Thánh vương đi, người dân khắp cả nước đều đến nghinh đón; thấy vua rồi thìhoan hỷ, nghe lời dạy cũng hoan hỷ, chiêm ngưỡng uy nhan không hề biết chán. Khi Thánh vương đứng, khi Thánh vương ngồi và khi Thánh vương nằm, quốc dân đều đến bái yết, được thấy vua họ vui mừng, được nghe vua họ vui mừng, họ trông ngắm dung nhan vua không biết chán. Đó là bốn pháp hy hữu của Chuyển luân thánh
______________________
167  Cấp thị đệ tử 給侍弟子.

* Trang 129 *
device

vương. A-nan cũng có bốn pháp đặc biệt ấy. Khi A-nan im lặng đi vào chúng Tỳ-kheo, chúng đều hoan hỷ; thuyết pháp cho chúng, ai nghe cũng hoan hỷ; nhìn ngắm nghi dung, nghe lời thuyết pháp không hề biết chán. Khi A-nan im lặng vào chúng Tỳ-kheo-ni, khi A-nan vào chúng Ưu-bà-tắc, khi Anan vào chúng Ưu-ba-di, nơi nào được trông thấy A-nan cũng vui mừng, được nghe A-nan thuyết pháp cũng vui mừng; họ trông nhìn nghi dung và lời A-nan thuyết pháp không biết chán. Đó là bốn pháp vị tằng hữu, kì đặc của A-nan.”
Bấy giờ, A-nan trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, bạch Phật:
“Thế Tôn, hiện nay các Sa-môn khắp bốn phương, gồm những vị kì cựu đa văn, thấu hiểu kinh luật, đức hạnh [26a] thanh cao, thường đến bái yết Phật, nhân đó con được lễ kính và gần gũi hỏi han. Nhưng sau khi Phật diệt độ rồi, họ không đến nữa, con không còn biết hỏi ai nữa, thì làm sao?”
Phật bảo A-nan:
“Ngươi chớ lo. Các con nhà dòng dõi168 thường có bốn chỗ tưởng nhớ: 1. Tưởng tới chỗ Phật sinh, hoan hỷ muốn thấy, nhớ mãi không quên, sinh tâm luyến mộ.2. Tưởng tới chỗ Phật thành đạo, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 3. Tưởng tới chỗ Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ. 4.Tưởng tới chỗ Phật vào Niết-bàn, hoan hỷ muốn thấy, nhớ tưởng không quên, sinh tâm luyến mộ.
“Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, trai hay gái con nhà dòng dõi nhớ nghĩ khi Phật giáng sinh có những công đức như thế, khi Phật đắc đạo có những thần thông như thế, khi Phật chuyển Pháp luân có những sự hóa độ như thế, khi Phật diệt độ có những lời di huấn như thế. Rồi mỗi người đi đến bốn chỗ đó kính lễ, dựng chùa tháp cúng dường. Khi chết đều được sinh lên cõi trời, chỉ trừ người đắc đạo.”
Phật lại bảo A-nan:
“Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, có các người dòng họ Thích đến cầu đạo, hãy nhận cho họ xuất gia thọ giới cụ túc chớ để lâu. Những người Phạm-chí dị học đến cầu đạo cũng nhận cho xuất gia thọ giới cụ túc,
_______________________
168 Hán: tộc tánh tử 族姓子, người thuộc trong bốn giai cấp. Cũng dịch là thiện gia nam tử 善家男子, hay thiện nam tử 善男子.

* Trang 130 *
device

chớ có để thử qua bốn tháng.169 Vì những người kia vốn có học sẵn các luận thuyết khác, nếu để lâu thì các kiến giải trước của họ sẽ phát sinh lại.”
Bấy giờ A-nan quỳ xuống, chắp tay bạch Phật:
“Tỳ-kheo Xiển-nộ 170 thô lỗ, tự chuyên, sau khi Phật diệt độ, phải đối xử thế nào?”
Phật dạy:
“Sau khi Ta diệt độ, nếu Tỳ-kheo Xiển-nộ không tuân oai nghi, không chịu nghe giáo huấn, các ông hãy cùng xử trị theo phép phạm-đàn172 là truyền hết các Tỳ-kheo không ai được cùng nói chuyện, cùng tới lui, chỉ bảo, giúp đỡ.”
A-nan lại bạch Phật: “Sau khi Phật diệt độ, các hạng nữ nhân đến thọ giáo huấn172cần được đối xử như thế nào?”
Phật dạy:
“Đừng gặp họ.”
“Giả sử phải gặp thì làm sao?”
“Chớ cùng nói chuyện.”
“Giả sử phải cùng nói chuyện thì làm sao?”
“Hãy tự thu nhiếp tâm ý.
“Này A-nan, ngươi chớ nghĩ sau khi Ta diệt độ, các ngươi mất chỗ nương tựa, không ai che chở. Chớ có quan niệm như vậy. Nên biết những Kinh và Giới mà Ta đã dạy từ khi thành Đạo đến nay là chỗ nương tựa, che chở các ngươi đó!
“Này A-nan, từ nay trở đi, cho phép các Tỳ-kheo tùy nghi bỏ các giới
 _____________________________
169 Bỏ quy định 4 tháng biệt trú (cattāro māse parivasati) cho ngoại đạo xuất gia, không có trong các bản khác. Ngoại đạo Tu-bạt(-đàla) cũng đã được miễn.
170 Xiển-nộ 闡怒. T 7: Xa-nặc 闡匿. Cf. Ngũ phần 3 (tr. 21b5), Tăngkìluật 6 (tr. 284c22); Tứ phần 5 (tr. 599a16), Căn bản Hữu bộ luật15 (tr. 707a25): Xiển-đà 闡陀. Thập tụng 4 (tr. 27c6): Xiển-na 闡那.Pl.: Channa. Nguyên là quân hầu của Thái tử trước khi xuất gia.
171 Phạm-đàn phạt 梵檀伐. T 7: trọng phạt 重罰. Pl.: brahma-daṇḍa.
172 Vị thọ hối 未受悔chưa nhận được sự giáo huấn. TNM: lai thọ hối來受悔đến thọ giáo huấn.

* Trang 131 *
device

cấm nhỏ nhặt.173 Kẻ trên, người dưới xưng hô nhau phải thuận lễ độ.174 Đó là pháp [26b] kính thuận của người xuất gia.”
Rồi Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, đối với Phật, Pháp và chúng Tăng, đối với Chính đạo, các ông có điều gì hoài nghi nữa không, nên kịp thời hỏi han để sau khỏi hối tiếc. Kịp lúc Ta còn, Ta sẽ giảng thuyết cho các ngươi.”
Các Tỳ-kheo đều im lặng. Phật lại nói:
“Các ngươi, đối với Phật, Pháp và chúng Tăng, đối với Chính đạo, có điều gì hoài nghi nữa không, nên kịp thời hỏi han để sau khỏi hối tiếc. Kịp lúc Ta còn, Ta sẽ giảng thuyết cho các ngươi.”
Các Tỳ-kheo cũng vẫn im lặng. Phật lại nói:
“Nếu các ngươi e ngại không dám hỏi, hãy mau nhờ các vị hiểu biết hỏi giúp cho; nên kịp thời để sau khỏi hối tiếc.”
Các Tỳ-kheo cũng vẫn lặng thinh. A-nan bạch Phật:
“Con tin rằng đại chúng ở đây ai nấy đều đã có lòng tin thanh tịnh, không một ai còn hoài nghi đối với Phật, Pháp, Tăng và Chính đạo nữa.”
Phật dạy:
“A-nan, Ta cũng biết trong chúng này dù một vị Tỳ-kheo nhỏ nhất cũng thấy được dấu Đạo,175 không còn đọa vào đường dữ, chỉ trải qua bảy lần sinh lại cõi Dục này để tu hành là dứt hết thống khổ.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền thọ ký cho một ngàn hai trăm đệ tử đã được đạo quả.
Rồi Thế Tôn khoác lên uất-đa-la-tăng để lộ cánh tay sắc màu vàng ròng, bảo với các Tỳ-kheo:
“Các ngươi hãy quán sát rằng, Như Lai mỗi khi xuất thế, như hoa ưu-đàm-bát lâu lắm mới hiện một lần.”
_________________________
173  Tiểu tiểu giới 小小戒. Pl.: khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni.
174 D16 (ii 154): Khi Phật còn tại thế, các Tỳ-kheo xưng hô với nhau là āvuso (huynh đệ, hiền giả, nhân giả). Sau khi Phật diệt độ, Tỳ-kheo niên trưởng nên gọi Tỳ-kheo nhỏ tuổi hơn bằng tên hay họ (nāmena vā gottena vā); Tỳ-kheo nhỏ tuổi gọi Tỳ-kheo lớn tuổi hơn là bhante (đại đức) hay āyasmā (trưởng lão, cụ thọ).
175 Kiến đạo tích 見道跡. D16 (ii 155): “Tỳ-kheo thấp nhất đã chứng quả Dự lưu.”

* Trang 132 *
device

Quan sát ý nghĩa này, Thế Tôn đọc bài kệ:
Tay phải màu tử kim,
Phật hiện như linh thụy.
Đi, đến, hành vô thường;
Hiện diệt, chớ buông lung.
“Thế nên các Tỳ-kheo chớ có buông lung. Ta chính nhờ không buông lung mà được thành Chính giác. Vôlượng điều lành toàn nhờ không buông lung mà có
được. Hết thảy vạn vật đều vô thường, đó là lời dạy cuối cùng của Như Lai.”176
Thế rồi, Thế Tôn nhập sơ thiền; rồi từ sơ thiền xuất, nhập nhị thiền; từ nhị thiền xuất, nhập tam thiền; từ tam thiền xuất, nhập tứ thiền, từ tứ thiền xuất, nhập không vô biên xứ định; từ không vô biên xứ định xuất,
nhập thức vô biên xứ; từ thức vô biên xứ định xuất, nhập vào vô sở hữu xứ; từ vô sở hữu xứ định xuất, nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ định; từ phi tưởng phi phi tưởng xứ định xuất, nhập diệt thọ tưởng định.
Lúc ấy A-nan hỏi A-na-luật:177
“Thế Tôn đã vào Niết-bàn rồi chăng?”
A-na-luật nói:
“Chưa, A-nan. Thế Tôn hiện đang ở trong định diệt thọ tưởng. Tôi lúc trước được thân nghe từ Phật rằng, khi Phật từ tứ thiền xuất mới vào Niết-bàn.”
[26c] Rồi Thế Tôn từ diệt thọ tưởng định xuất, nhập phi tưởng phi phi tưởng, từ phi tưởng phi phi tưởng xuất, nhập vô sở hữu định; từ vô sở hữu định xuất, nhập thức vô biên xứ định; từ thức vô biên xứ định xuất, nhập không vô biên xứ định; từ không vô biên xứ định xuất, nhập tứ thiền; từ tứ thiền xuất, nhập tam thiền; từ tam thiền xuất, nhập nhị thiền; từ nhị thiền xuất, nhập sơ thiền; rồi lại từ sơ thiền xuất lần lượtđến tứ
________________________
176 Cf. D16 (ii 156): “handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo,vayadhammā saṅkhārā appamādena sampādethā”ti. ayaṃtathāgatassa pacchimā vācā, “Ôi, này các Tỳ kheo, nay Ta nóivới các ngươi, các hành là vô thường, hãy tinh tấn chớ buônglung.” Đây là những lời cuối cùng của Như Lai.
177  A-na-luật. T 7: A-ngỗ-lâu-đà 阿珸樓駄.

* Trang 133 *
device

thiền, rồi từ tứ thiền xuất, Phật vào Niết-bàn.178Ngay lúc đó, cõi đất rung động, trời người kinh hoàng.Những chỗ tối tăm mà mặt trăng mặt trời không rọiđến được đều được chói sáng. Chúng sinh ở đó trôngthấy nhau, và bảo nhau: ‘Người kia (bỗng nhiên) sinhra ở đây! Người kia (bỗng nhiên) sinh ra ở đây!’ Ánhsáng ấy chiếu khắp, hơn cả ánh sáng của Chư Thiên.
Bấy giờ, trời Đao-lị, ở giữa hư không, dùng hoa vănđa-la, hoa ưu-bát-la, hoa ba-đầu-ma, hoa câu-ma-đầu, hoa phân-đà-lị,179 tán rải trên thân Phật và chúng hội. Rồi lại lấy bột hương chiên-đàn tán rải trên thân Phật và chúng hội.
Phật diệt độ rồi, khi ấy Phạm Thiên vương ở giữa hưkhông ngâm bài kệ rằng:
Hết thảy loài sinh linh,180
Đều phải bỏ các uẩn.
Phật là đấng Vô Thượng,
Thế gian không ai bằng.
Như Lai, Đại Thánh Hùng,
Có thần lực vô úy,
Đáng lẽ ở đời lâu,
Nhưng nay diệt độ rồi!
Trời Thích Đề-hoàn Nhân181 đọc bài kệ:
Ấm hành đều vô thường
Chỉ là pháp hưng suy.
Có sinh đều có chết,
Phật tịch diệt là lạc.182
Tì-sa-môn Thiên vương đọc bài kệ:
 _________________________
178 T 7: Phật nhập (trở lại) tứ thiền, và nhập Niết-bàn ngay tại địa này. D16, ibid., catutthajjhānā vuṭṭhahitvā samanantarā bhagavāparinibbāyi., sau khi xuất tứ thiền, tức thì Phật nhập Niết-bàn.
179 Văn-đà-la 文沱羅, TNM: mạn đà la 曼陀羅, Pl.: mandarāva(thiên diệu hoa). Ba-đầu-ma 波頭摩, TNM: bát-đầu-ma 鉢頭摩, Pl.: paduma, Skt. padma. Câu-ma-đầu 拘摩頭, TNM: câuvật-đầu 拘勿頭, Pl. (Skt. id): kumuda.
180 Hán: hôn manh loại 昏萌類. D16 ibid.: sabbeva … bhūtā.
181T 6: Thiên đế Thích thứ hai 第二天帝釋(?).
182 Pāli, thành cú: (…) tesaṃ vūpasamo sukho, “sự tĩnh chỉ củachúng (sinh diệt) là an lạc.”

* Trang 134 *
device

Đại tòng lâm, cây phúc,
Sa-la phước vô thượng.
Đấng Ruộng phước Ứng cúng,
Diệt độ giữa rừng cây.
Tỳ-kheo A-na-luật đọc bài kệ:
Phật an trú vô vi,
Không cần thở ra vào.
Vốn từ Tịch diệt đến,183
Sao Thiêng184nay đã tắt.
Tỳ-kheo Phạm-ma-na đọc bài kệ:
[27a] Không sinh tâm biếng nhác;
Tự chế, tu thượng tuệ.
Không nhiễm, không bị nhiễm,
Đấng Chí Tôn lìa ái.185
Tỳ-kheo A-nan đọc bài kệ:
Trời người lòng kinh sợ,
Toàn thân lông dựng lên.
Tất cả đã thành tựu,
Thế Tôn vào Niết-bàn.
Thần Kim-Tì-la làm bài tụng:
Thế gian mất che chở,
Chúng sinh vĩnh viễn mù,
Không còn thấy Chính giác,
Đấng Sư Tử giữa người.
Mật Tích lực sĩ đọc bài kệ:
Các thiên, nhân, ma, phạm,
Đời nay và đời sau,
Không còn thấy được Phật,
Bậc Sư Tử giữa người.
_______________________
183 Cf. T 7: các căn không dao động 諸根不搖動. D16 ibid.: anejosantimārabbha, với tâm tịch tĩnh bất động (Phật nhập Niết-bàn).
184 Hán: Linh diệu 靈曜. Cf. T 7: như đèn tắt ánh sáng mất. D16ibid.: pajjotasseva nibbānaṃ.
185 Ly ái 離愛, có bản chép ly thọ 離受.

* Trang 135 *
device

Phật mẫu Ma-da đọc bài kệ:
Phật sinh vườn Lâm-tì;186
Đạo Ngài lưu bố rộng.
Trở lại Bản sinh xứ,
Ngài xả thân vô thường.
Thần Song thọ đọc bài kệ:
Bao giờ tôi lại lấy
Hoa sái mùa cúng dâng
Đấng Mười Lực công đức,
Như Lai vào Niết-bàn?
Thần rừng cây Sa-la đọc bài kệ:
Cõi này lạc tối thượng,
Phật sinh trưởng tại đây;
Ở đây chuyển Pháp luân,
Lại ở đây Niết-bàn.
Tứ Thiên vương đọc bài kệ:
Như Lai Vô thượng trí,
Thường diễn lẽ vô thường,
Cởi trói chúng sinh khổ,
Cuối cùng vào Niết-bàn.
Đao-lị Thiên vương đọc bài kệ:
Trải ức nghìn vạn kiếp,
Cầu thành Đạo vô thượng.
Cởi trói chúng sinh khổ,
Cuối cùng vào Niết-bàn.
Diệm Thiên vương đọc bài kệ:
Đây mảnh y tối hậu
Dùng quấn thân Như Lai.
Nay Phật diệt độ rồi,
Y này để cúng ai.
[27b] Đâu-suất-đà Thiên vương đọc bài kệ:
Đây là thân cuối cùng,
_______________________
186 Nguyên bản: lâu-tỳ 樓毘.

* Trang 136 *
device

Uẩn, giới diệt ở đây.
Không tưởng ưu, tưởng hỷ,
Không tai hoạn già-chết.
Hóa Tự Tại Thiên vương đọc bài kệ:
Đúng vào giữa đêm nay,
Phật nằm nghiêng bên hữu.
Ở tại rừng Sa-la,
Thích Sư Tử diệt độ.
Tha Hóa Tự Tại Thiên vương đọc bài kệ:
Thế gian mãi tối tăm,
Trăng sao đều rơi rụng,
Mây vô thường che kín,
Mặt trời Đại trí mờ.
Các Tỳ-kheo đọc bài kệ:
Thân này như bèo bọt,
Mong manh có gì vui.
Phật được thân kim cang,
Còn bị vô thường hoại.
Thể kim cang chư Phật,
Cũng đều qui vô thường;
Tiêu tan như nhúm tuyết,
Huống những người thế gian.
Sau khi Phật nhập Niết-bàn, các Tỳ-kheo buồn đau, vật vã, gieo mình xuống đất, lăn lộn kêu than không tự kềm chế nổi, nức nở mà nói rằng:
“Như Lai diệt độ sao chóng thay! Thế Tôn diệt độ sao sớm thay! Đại pháp sao chìm lặn sớm thay! Quần sinh mãi mãi suy sụp; con mắt của thế gian đã tắt!”
Như thân cây lớn, trốc rễ, gãy cành. Lại như con rắn bị đứt khúc, bò trườn, uốn lượn, không biết trườn đilối nào. Các Tỳ-kheo cũng vậy, buồn đau, vật vã, gieo mình xuống đất, lăn lộn kêu than không tự kềm chếnổi, nức nở mà nói rằng: ‘Như Lai diệt độ sao chóng thay! Thế Tôn diệt độ sao sớm thay! Đại pháp sao chìm lặn sớm thay! Quần sinh mãi mãi suy sụp; con mắt của thế gian đã tắt!”’
Bấy giờ, Trưởng lão A-na-luật khuyên:
“Thôi các Tỳ-kheo, các ngài chớ buồn khóc, kẻo cóhàng chư Thiên trông xuống nhìn thấy, họ có thể cho là quái lạ.”

* Trang 137 *
device

Các Tỳ-kheo hỏi A-na-luật:
“Trên ấy có bao nhiêu thiên thần?”
A-na-luật nói:
“Đầy kín hư không. Kể sao hết. Thảy đều ở trong hư không, bồi hồi, bứt rứt, bước đi khập khiễng, gạt nước mắt mà than rằng: ‘Như Lai diệt độ sao chóng thay!
Thế Tôn diệt độ sao sớm thay! Đại pháp sao chìm lặn sớm thay! Quần sinh mãi mãi suy sụp; con mắt của thế gian đã tắt!’ Như thân cây lớn, trốc rễ, gãy cành. Lại [27c] như con rắn bị đứt khúc, bò trườn, uốn lượn,
không biết trườn đi lối nào. Các chư Thiên cũng vậy, thảy đều ở trong hư không, bồi hồi, bứt rứt, bước đi khập khiễng, gạt nước mắt mà than rằng: ‘Như Lai diệt độ sao chóng thay! Thế Tôn diệt độ sao sớm thay! Đại pháp sao chìm lặn sớm thay! Quần sinh mãi mãi suy sụp; con mắt của thế gian đã tắt!’”
Các Tỳ-kheo suốt đêm đến sáng cùng nhau giảng luậnpháp ngữ.
Trưởng lão A-na-luật bảo A-nan đi vào thành báo tin cho dân chúng dòng Mạt-la biết Phật đã diệt độ, như họ có muốn cúng dường thế nào thì chóng đến kịp thời. A-nan vâng lời, đứng dậy, lễ chân Phật, rồi dắt theo một Tỳ-kheo, vừa khóc vừa đi vào thành. Từ xa A-nan trông thấy năm trăm người Mạt-la do có chút duyên sự đang nhóm tại một chỗ. Trông thấy A-nan, họ đều đứng dậy nghinh tiếp, đảnh lễ và hỏi:
“Tôn giả có việc gì đến đây sớm vậy?”
A-nan đáp:
“Vì lợi ích các ngài, nên mới sáng sớm tôi đã đến đây. Các ngài nên biết, Như Lai đêm qua đã diệt độ rồi. Các ngài muốn cúng dường thế nào thì nên đến kịp thời.”
Chúng Mạt-la vừa nghe tin, ai nấy bi cảm buồn rơi lệ than kể: “Phật vào Niết-bàn sao vội quá! Con mắt của thế gian đã diệt!”
A-nan khuyên:
“Thôi, thôi, các ngài! Chớ có buồn khóc! Muốn cho pháp hữu vi không bị biến hoại, không thể nào được. Đức Như Lai đã dạy, hễ có sinh tức có chết, có hội hiệp tức có chia ly, hết thảy ân ái đều vô thường cả.”
Chúng Mạt-la mới bàn nhau rằng:

* Trang 138 *
device

“Chúng ta hãy trở về nhà mang hương hoa, kỹ nhạc, đi nhanh đến rừng cây Song thọ để cúng dường Kim thân187 suốt một ngày, rồi thỉnh Kim thân Phật đặt lên một cái giường, khiến thanh niên Mạt-la nâng bốn góc giường khiêng đi; có tràng phan, lọng tàn, đốt hương, rải hoa, trỗi nhạc, cúng dường. Đưa vào thành cửa Đông khắp các nẻo cho dân chúng cúng dường, rồi đưa ra cửa thành Tây, đến một đồi cao rộng mà hỏa thiêu.”
Bàn xong, ai về nhà nấy, sắm sửa các thứ hương hoa, kỹ nhạc, rồi đi đến rừng Song thọ, cúng dường Kim thân. Suốt một ngày rồi, họ đặt Kim thân của Phật lên trên một cái giường. Chúng Mạt-la cùng đến khiêng. Nhưng dở không lên.
Trưởng lão A-na-luật mới bảo:
“Này các ngài, chớ nhọc công khiêng! Hiện nay có các Chư Thiên muốn đến khiêng giường.”
Các người Mạt-la hỏi:
“Ý Chư Thiên thế nào mà lại muốn khiêng giường?”
A-na-luật đáp:
“Các người muốn mang hương hoa, kỹ nhạc cúng dường Kim thân [28a] suốt một ngày, rồi thỉnh Kim thân Phật đặt lên một cái giường, khiến thanh niên
Mạt-la nâng bốn góc giường khiêng đi; có tràng phan, lọng tàn, đốt hương, rải hoa, trỗi nhạc cúng dường. Đưa vào thành cửa Đông khắp các nẻo cho dân chúng cúng dường, rồi đưa ra thành cửa Tây, đến một đồi cao rộng mà hỏa thiêu. Ý Chư Thiên muốn lưu Kim thânlại trong bảy ngày để kính lễ cúng dường bằng các thứhoa hương, kỹ nhạc, sau mới thỉnh lên giường, cho các thanh niên Mạt-la nâng bốn góc rước vào thành cửa Đông, đi khắp các nẻo để cho dân chúng cúng dường, rồi đưa ra thành cửa Bắc, qua sông Hi-liênthiền188đến chùa Thiên Quan189 mà hỏa thiêu. Ý ChưThiên là như vậy nên khiến cho giường bất động.”
_________________________
187 Nguyên Hán: xá-lị 舍利, Pāli: sarīra, chỉ thân thể, nhục thân (chưa thiêu); cũng chỉ xá-lợi, tro cốt đã thiêu.
188 Hi-liên thiền 熙連禪. Pl.: Hiraññavatī.
189 Thiên Quan tự 天冠寺. Pl.: Makuṭa-(bandhana)-cetiya, đền thờ phía Đông ngoài thị trấn Kusinagara. T6: hỏa thiêu tại miếu thần Âutrà 漚荼神地. T 5: khiêng ra cửa Tây, đến miếu Chu-lê-ba-đàn 周黎波檀殿. T 7: đến miếu Bảo Quan 寶冠支提.

* Trang 139 *
device

Các Mạt-la nói:
“Hay lắm! Xin theo ý Chư Thiên!”
Chúng Mạt-la bảo nhau:
“Chúng ta hãy vào thành trước, đi đến các ngõ đường, dọn bằng phẳng các con đường, quét tước, đốt hương, rồi trở lại đây để cúng dường Kim thân trong bảy ngày.”
Rồi các Mạt-la cùng vào thành, đi đến các ngõ đường, dọn bằng phẳng các con đường, quét tước, đốt hương, xong rồi ra khỏi thành, trở lại rừng Song thọ, dùng hương hoa, kỹ nhạc để cúng dường Kim thân. Sau bảy ngày, vào lúc trời chiều, họ thỉnh Kim thân Phật đặt lên một cái giường, khiến các thanh niên Mạt-la nâng bốn góc khiêng đi thong thả giữa đám đông người hộ tống, có tràng phan, hương hoa, âm nhạc cúng dường. Từ không trung các vị trời Đao-lị dùng hoa văn-đà-la, hoa ưu-đàm-bát-la, hoa ba-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị, và bột hương chiên-đàn nhà trời rải trên kim thân và tràn ngập các ngã đường, Chư Thiên tấu nhạc, quỷ thần ca ngâm.
Khi ấy các người Mạt-la nói với nhau:
“Hãy bỏ qua nhạc loài người. Xin tấu nhạc trời để cúng dường Kim thân.”
Rồi các người Mạt-la khiêng giường tiến tới dần, vào cửa thành phía Đông, đến mỗi ngã đường thì dừng lại để cho dân chúng đốt hương, tán hoa, trỗi nhạc cúng dường. Lúc ấy có nàng Lộ-di dòng Mạt-la190 vốn dốc lòng tin Phật, cầm một đóa hoa vàng lớn như bánh xe cúng dường Kim thân. Khi ấy một bà lão cất tiếng tán thán rằng: “Các Mạt-la này may được phúc lợi lớn.
Như Lai cuối cùng diệt độ tại đây. Khắp nước nhân dân hớn hở cúng dường.”
Họ cúng dường xong, đưa Kim thân ra thành cửa Bắc, qua sông Hi-liên-thiền đến chùa Thiên Quan, đặt giường xuống đất rồi thưa với A-nan:
“Chúng tôi [28b] bây giờ nên cúng dường cách nào nữa?”
A-nan bảo:
“Tôi trực tiếp nghe từ Phật, lãnh thọ lời Phật dạy rằng: muốn tẩn táng
 ________________________
190 Lộ-di Mạt-la nữ 路夷末羅女.

* Trang 140 *
device

Kim thân hãy làm như pháp tẩn táng Chuyển luân thánh vương.”
Hỏi: “Phép táng Chuyển luân thánh vương là thế nào?”
Đáp: “Về phép táng Chuyển luân thánh vương, trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể, rồi lấy vải bông mới quấn thân thể, rồi lấy năm trăm tấm vải lần lượt quấn vào, đặt thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè, lại đặt kim quan trong một cái quách thứ hai lớn bằng sắt, bên ngoài là lớp quách bằng gỗ hương chiên đàn.Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà hỏa thiêu. Thiêu xong lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngã tư đường để dân chúng đi ngang trông thấy tháp của Pháp vương mà tưởng nhớ lại chính hóa của vua đã làm lợi ích cho nhiều người. A-nan, ngươi muốn táng Ta, trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể, rồi lấy vải bông mới quấn thân thể, rồi lấy năm trăm tấm vải lần lượt quấn vào, đặt thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè, lại đặt kim quan trong một cái quách thứ hai lớn bằng sắt, bên ngoài là lớp quách bằng gỗ hương chiên-đàn. Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà hỏa thiêu. Thiêu xong lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngã tư đường để dân chúng đi ngang trông thấy tháp của Phật mà tưởng nhớ lại Đạo hóa của Pháp vương Như Lai, sống thì được phước lợi, chết thìsinh thiên. Trừ người đã đắc đạo.”
Chúng Mạt-la bảo nhau:
“Chúng ta về thành sắm sửa các đồ tẩn táng, các thứhương hoa, bông gòn, quan quách, dầu thơm và vải lụa trắng.”
Những người Mạt-la vào thành sắm sửa các thứ xong, trở lại chùa Thiên Quan, dùng nước hương tắm rửa thân Phật, rồi lấy vải bông mới bọc quanh, tiếp quấn năm trăm lớp vải trắng, rồi đặt vào trong kim quan đãtẩm dầu thơm, lại đặt kim quan vào một cái quách lớnbằng sắt, rồi một cái quách gỗ chiên-đàn bọc ngoài. Xong, lấy củi thơm chất đầy lên trên.
Tiếp đó, vị Đại thần dòng Mạt-la tên Lộ-di,191 cầm cây đuốc lớn châm lửa vào giàn hỏa, song lửa không cháy.
Các người Mạt-la trưởng lão cũng cầm lửa châm theo, song lửa vẫn không cháy. Trưởng lão A-na-luật bảo chúng Mạt-la:
“Thôi các ngài, chẳng phải sức các ngài đốt được đâu! Lửa không cháy
________________________
191Lộ-di 末羅大臣路夷. T 6: Âu-tô đại thần 漚蘇大臣. D16 (ii 163): cattāro mallapāmokkhā, bốn vị đứng đầu trong dòng họ Mallā.

* Trang 141 *
device

là vì ý chư Thiên vậy.”
Chúng Mạt-la hỏi:
“Tại sao chư Thiên lại khiến cho lửa không cháy?”
A-na-luật đáp:
“Chư Thiên nhân thấy Đại Ca-diếp đang dẫn năm trăm đệ tử từ nước Ba-bà192 đi về cho kịp được thấy Phật khi chưa hỏa thiêu. [28c] Hiện Tôn giả đang ở nửa đường.
Chư Thiên biết ý nên khiến cho lửa không cháy.”
Chúng Mạt-la nói: “Xin để toại ý ấy.”
Lúc bấy giờ, Đại Ca-diếp dắt năm trăm đệ tử, từ nước Ba-bà đi về, vừa ngang giữa đường, gặp một người Ni-kiền Tử193 trong tay cầm một đóa hoa văn-đà-la.194
Đại Ca-diếp đến gần hỏi:
“Này bạn! Bạn từ đâu lại?”
Ni-kiền Tử đáp: “Tôi từ thành Câu-thi lại.”
Ca-diếp lại hỏi: “Bạn có biết Thầy của tôi không?”
“Có biết.”
Lại hỏi: “Thầy tôi hiện nay thế nào?”
Đáp: “Đã diệt độ cách đây bảy ngày. Tôi từ đó lại, nên lượm được đóa thiên hoa này.” Ca-diếp nghe xong lòng rất buồn bã. Năm trăm Tỳ- kheo nghe Phật diệt độ, đều buồn khóc, quay cuồng kêu than không tự kềm chế nổi rằng: “Như Lai diệt độ làm sao vội quá! Thế Tôn diệt độ sao vội quá! Đại pháp chìm lặn làm sao nhanh quá! Con mắt của thế gian đã diệt, chúng sinh mãi mãi suy đọa!” Ví như cây lớn bị trốc gốc, cành nhánh gãy đổ. Lại như rắn bị chặt đuôi, quay cuồng lăn lóc, không biết trườn đi đâu. Nhưng trong chúng ấy có một Tỳ-kheo tên Bạtnan- đà195 dòng họ Thích,
___________________________
192 T7: đang ở tại nước Đạc-xoa-na-kì-lị 鐸叉那耆利國.
193 T 5: Dị học tên Ưu-vi 優為. T 6: A-di-duy 阿夷維. D16: aññataroājīvako, một người Tà mạng ngoại đạo.
194 T 5: hoa mạn-đà-lặc 曼陀勒.
195 Bạt-nan-đà 拔難陀. T 6: Đàn-đầu-giả 檀頭者. T 7: Một số (nhiều) các Tỳ-kheo. D16: subhaddo nāma vuddhapabbajito, một Tỳ kheo lão niên xuất gia tên Subhada.

* Trang 142 *
device

ngăn các Tỳ-kheo rằng:
“Các ngươi chớ lo buồn. Thế Tôn diệt độ thì chúng ta được tự do. Ông già196ấy trước đây thường hay bảo chúng ta nên làm thế này, không nên làm thế này.Nhưng từ nay về sau thì tùy ý chúng ta làm.”
 Ca-diếp nghe rồi, lòng càng buồn, mới bảo các Tỳ-kheo sửa soạn y bát đi nhanh đến Song Thọ trước khichưa hỏa thiêu, để có thể trông thấy Phật. Các Tỳ-kheo nghe Đại Ca-diếp nói xong đều đứng dậy tùy tùng Ca diếp đến thành Câu-thi, qua sông Hi-liên-thuyền đến chùa Thiên Quan, rồi đến chỗ A-nan. Hỏi han xong, đứng sang một bên, nói với A-nan:
“Chúng tôi muốn được thấy Phật một lần chót khi chưa hỏa thiêu, có thể được không?”
A-nan đáp:
“Tuy chưa hỏa thiêu, nhưng khó mà thấy được, vì thân Phật đã được tắm nước hương, quấn một lớp kiếp-ba ngoài bọc năm trăm lớp vải trắng, đặt trong một kim quan. Kim quan lại đặt trong một cái quách bằng sắt, ngoài hết có bọc một cái quách bằng gỗ chiên-đàn, nên khó thấy được.”
Ca-diếp năn nỉ xin tới ba lần, A-nan vẫn trả lời như cũ, là khó mà thấy Phật được nữa! Ngài Đại Ca-diếp mới hướng mặt về hỏa đàn để chiêm bái, thì ngay khi ấy bỗng nhiên từ trong ba lớp quan quách, Phật đưa hai bàn chân ra ngoài. Chân có màu sắc khác lạ. Ca diếp thấy vậy, ngạc nhiên hỏi A-nan:
“Thân Phật kim sắc, [29a] sao bây giờ lại có đổi khác?”
A-nan đáp: “Trước đây có một bà già, tiếc thương Đức Như Lai, tiến tới lấy tay vỗ vào chân Phật, để rơi nước mắt trên chân Ngài, cho nên có màu sắc đổi khác như thế.” Nghe xong, Ca-diếp lại không vui, liền hướng tới
hỏa đàn đảnh lễ Kim thân Phật. Bốn bộ chúng và chư Thiên trên không trung cũng đồng thời tác lễ. Chân Phật bỗng không hiện nữa. Ngài Đại Ca-diếp vừa đi quanh hỏa đàn ba vòng vừa tán dương rằng:
Con nay cúi đầu lễ
Đức Đạo Sư Vô thượng,
Thánh trí không nghĩ lường,
 __________________________
196  Để bản: bỉ giả 彼者, TNM: bỉ lão 彼老.

* Trang 143 *
device

Thánh trí cao tột bực.
Đại Sa-môn Tối cao,
Tối thượng, không tỳ uế,
Đức Mâu-ni tuyệt ái,
Đấng Đại Tiên tối tôn.
Con nay cúi đầu lễ
Đấng Đại Hùng bậc nhất,
Khổ hạnh chẳng ai bằng,
Dạy người dứt nhiễm trước.
Kính lễ Vô Thượng Tôn
Không nhiễm ô trần cấu;
Tham, sân, si dứt sạch;
Vui sống đời Không tịch.
Kính lễ đấng Thập Lực,
Không hai, không thể sánh.
Đấng Thiện Thế tối thượng,
Chí Tôn giữa trời người.
Kính lễ An Ổn trí,
Ngộ tứ đế, tịch tĩnh,
Vô thượng trên Sa-môn,
Khiến bỏ tà về chính.
Kính lễ Đạo trạm nhiên,
Nơi197Thế Tôn tịch diệt.
Không nóng bức, tỳ uế,
Thân tâm thường vắng lặng.
Kính lễ đấng Vô Cấu,
Trừ sạch các uế trược,
Tuệ nhãn không hạn lượng,
Cõi bất tử198 danh xưng.
Kính lễ đấng Vô đẳng,
Hy hữu, khó nghĩ nghì,
Tiếng nói như sư tử,
Trong rừng, không khiếp sợ.
Hàng ma, vượt bốn tộc;199
_________________________
197 Để bản: thí 施; bản Nguyên-Minh: ư 於.
198 Nguyên Hán: tứ tánh 四姓, chỉ bốn giai cấp.
199 Bộ tộc Mạt-la thuộc nhánh ở thủ phủ Ba-bà (Pāli: Pāveyyaka-Mallā),phân biệt với nhánh ở Câu-thi (Pāli gọi là Kosinārakā-Mallā).

* Trang 144 *
device

Cho nên con kính lễ.
Đại Ca-diếp oai đức lớn lao, đầy đủ bốn biện tài, vừa đọc xong bài kệ trên, thì hỏa đàn không đốt mà tự nhiên bừng cháy. Chúng Mạt-la bảo nhau:
“Ngọn lửa cháy mạnh quá khó ngăn, e cháy tiêu hết xá-lợi ! Hãy tìm đâu lấy nước dập tắt.”
Lúc đó có vị Thần cây Song Thọ đang đứng bên giàn hỏa, vốn dốc lòng tin Phật, dùng thần lực làm tắt ngọn lửa. Chúng Mạt-la [29b] lại bảo nhau: “Mười hai do tuần chung quanh thành Câu-thi này, có bao nhiêu hoa thơm hái hết, đem về dâng cúng xá-lợi.”
Rồi họ đi ra hai bên thành tìm các thứ hoa thơm đem về cúng dường xá-lợi.
Lúc đó dân Mạt-la nước Ba-bà200 nghe Phật diệt độ tại Song thọ, tự nghĩ: “Ta nên đến đó cầu lấy phần xá-lợi về dựng tháp cúng dường tại trong nước.” Các người Mạt-la nước Ba-bà liền hạ lệnh đem bốn thứ binh là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, đi đến thành Câu-thi và cử sứ giả nói:
“Chúng tôi nghe đức Phật đã diệt độ tại đây. Phật cũng là Thầy chúng tôi. Vì lòng kính mộ Ngài, chúng tôi đến xin phần xá-lợi về nước dựng tháp cúng dường.”
Vua Câu-thi đáp:
“Thật vậy, đúng như ngài nói. Nhưng vì đức Thế Tôn đã giáng lâm và diệt độ tại đây. Nhân dân trong nước tôi tự lo cúng dường. Phiền các ngài từ xa đến cầu xálợi. Nhưng điều đó hẳn là không được!”
Đồng thời dân Bạt-li nước Giá-la-phả, dân Câu-lị nước La-ma-già, dân chúng dòng Bà-la-môn nước Tìlưu-đề, dân chúng dòng họ Thích nước Ca-duy-la-vệ,
dân chúng dòng Lệ-xa nước Tì-xá-li, và vua A-xà-thế nước Ma-kiệt, nghe đức Như Lai diệt độ tại cây Song thọ ở thành Câu-thi, đều tự nghĩ: “Ta nay nên đến đó chia phần xá-lợi.”201
________________________
200 Bộ tộc Mạt-la thuộc nhánh ở thủ phủ Ba-bà (Pāli: Pāveyyaka-Mallā),phân biệt với nhánh ở Câu-thi (Pāli gọi là Kosinārakā-Mallā).
201 Các nước đến yêu sách chia xá-lợi: người Bạt-li 跋離nước Giála-phả 遮羅頗; người Câu-lị 拘利nước La-ma-già 羅摩伽; chúng Bà-la-môn nước Tì-lưu-đề 毘留提; dòng họ Thích nước Ca-duy-lavệ 迦維羅衛; người Li-xa 離車nước Tì-xá-li

* Trang 145 *
device

A-xà-thế và các vua kia mới hạ lệnh trong nước đem bốn thứ binh mã tiến qua sông Hằng. Vua A-xà-thế sai Bà-la-môn Hương Tính:202
“Ngươi nhân danh ta vào thành Câu-thi hỏi thăm vua Mạt-la, đời sống thường nhật có thoải mái chăng, lui tới có khỏe mạnh chăng, và nói ta với quí quốc xưa nay vốn tôn kính nhau, láng giềng hòa nghĩa, chưa cóxảy ra điều chi tranh tụng. Nay ta nghe Như Lai diệt độ tại quý quốc. Đối với đức Thế Tôn, lòng ta thật hết sức tôn kính, nên chẳng quản xa xôi, đến thỉnh phần di cốt, đem về nước dựng tháp cúng dường. Nếu nhận lời, ta sẽ chia bớt tài bảo trong nước ta cho.”
Bà-la-môn Hương Tính vâng lệnh, đến thành Câu-thi nói với các người Mạt-la:
“Đại vương nước Ma-kiệt có lời thăm hỏi vô vàn. Các ngài đi đứng có nhẹ nhàng không? Bước đi có khỏe mạnh không? Và nhắn rằng: ‘Ta với quí quốc xưa nay vốn tôn kính nhau, láng giềng hòa nghĩa, chưa có xảy ra điều chi tranh tụng. Nay ta nghe Như Lai diệt độtại quý quốc. Đối với đức Thế Tôn, lòng ta thật hết sức tôn kính, nên chẳng quản xa xôi, đến thỉnh phần di cốt, đem về nước dựng tháp cúng dường. Nếu nhậnlời, [29c] ta sẽ chia bớt tài bảo trong nước ta cho.’”Các người Mạt-la trả lời:
“Quả như vậy! Quả như lời ông nói. Nhưng vì đức ThếTôn đã giáng lâm và diệt độ tại đây; nhân dân trong nước tôi tự lo cúng dường. Phiền các ngài từ xa đến cầu xin xá-lợi. Nhưng điều đó hẳn không thể được.”
Các quốc vương liền triệu tập quần thần lập nghị, tụng cáo rằng:
Chúng ta hòa nghị,
 _______________________________
毘舍離; và A-xà-thế,vua nước Ma-kiệt 摩竭王阿闍世. T 5: 8 nước Biên Cảnh 邊境八國, nhưng không liệt kê danh sách. T 6: người Hoa Thị 華氏nước Ba-tuần 波旬; người Câu-lân 拘鄰nước Khả Lạc 可樂; người Mãnli滿離nước Hành 衡國; các Phạm chí nước Thần Châu 神州; người Li-kiền 離揵nước Duy-da 維耶; cuối cùng, A-xà-thế vua nước Ma-kiệt. Danh sách Pāli, D16 (ii 165): rājā Māgadho Ajātasattu, Vesālikā Licchavī, Kapilavatthuvāsī Sakyā, Allakappakā Bulayo,Rāmagāmakā Koḷiyā, Veṭṭhadīpako Brāhmaṇo, Pāveyyakā Mallā,Kosinārakā Mallā.
202 Hương Tánh 香姓. T 6: Phạm-chí Mao Quệ 梵志毛蹶. T 7: Đồ-lô-na 徒盧那. T 5: Thiên đế hóa hiện làm một người Phạmchítên là Đồn-khuất 屯屈để phân xử tranh chấp. D16: Doṇobrāhmaṇo

* Trang 146 *
device

Xa đến cúi đầu,
Khiêm tốn yêu cầu.
Nhưng không chấp nhận,
Bốn binh đã sẵn.
Không tiếc thân mạng.
Dùng nghĩa không được;
Tất phải dùng lực.
Vua Câu-thi cũng triệu tập quần thần lập nghị trả lời:
Các người xa nhọc,
Khuất nhục cầu xin
Như Lai di thể.
Nhưng không cho được.
Kia muốn dùng binh,
Ta đây cũng sẵn.
Chống trả đến cùng,
Chưa từng biết sợ.
Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tính đứng ra hiểu dụ mọi người:
“Chư Hiền, các ngài lãnh thụ giáo huấn của Phật đã lâu, miệng tụng pháp ngôn, tâm phục theo giáo hóa nhân ái, thường mong cho chúng sinh thảy được an lành, nay há lẽ vì dành xá-lợi của Phật mà trở nên tàn hại nhau sao? Di thể Như Lai, nếu muốn có lợi ích rộng rãi, thì xá-lợi hiện tại nên chia ra nhiều phần.”
Chúng đều khen phải. Họ lại bàn nghị nên nhờ ai đủ sức chia giúp. Mọi người đều nói Bà-la-môn Hương Tính là người mà nhân và trí đều có đủ, có thể chia được. Các quốc vương bèn sai Hương Tính:
“Ngươi hãy vì chúng ta mà chia xá-lợi làm tám phần bằng nhau.”
Được lệnh của các quốc vương, Hương Tính đến ngay chỗ xá-lợi, cúi đầu đảnh lễ, xong từ từ trước hết nhặt lấy răng trên của Phật để riêng một nơi. Rồi bảo sứ giả mang cái răng trên của Phật đến chỗ vua A-xà-thế rằng:
“Ngươi nhân danh ta tâu lên Vua rằng: ‘Đại vương, đời sống thường nhật có thoải mái chăng? Bước đi có khỏe không? Xá-lợi chưa đến, chắc Đại vương trông lắm? Nay tôi giao sứ giả mang răng trên của Như Lai để kịp cúng dường, cho thỏa lòng Đại vương trông ngóng. Sáng mai, lúc sao Mai mọc, xá-lợi chia xong, tôi sẽ đích thân dâng đến.’”
Khi ấy, sứ giả vâng lời, đi đến chỗ vua A-xà-thế, tâu rằng:

* Trang 147 *
device

“Bà-la-môn Hương Tính kính lời thăm hỏi vô vàn:‘Đại vương, đời sống thường nhật có thoải mái không? Bước đi có khỏe không. Xá-lợi chưa đến, [30a] chắc Đại vương trông lắm? Nay tôi giao sứ giả mang răng trên của Như Lai để kịp cúng dường, cho thỏa lòng Đại vương trông ngóng. Sáng mai, lúc sao Mai mọc, xá-lợi chia xong, tôi sẽ đích thân dâng đến.’” Tiếp đó Hương Tính lấy một bình dung lượng chừng một thạch, rồi chia đều xá-lợi ra làm tám phần, xong, ông nói với mọi người:
“Các ngài bàn bạc cho tôi xin cái bình đó để dựng tháp thờ tại nhà riêng.”
Mọi người đều nói:
“Trí tuệ thay. Như thế là thích hợp.”
Và họ đồng ý cho.
Lúc đó, có người thôn Tất-bát203 cũng đến xin phần tro còn lại để dựng tháp cúng dường. Mọi người cũng bằng lòng.
Sau khi người nước Câu-thi được xá-lợi liền dựng tháp cúng dường. Các nước Ba-bà, Giá-la, La-ma-già, Tìlưu-đề, Ca-duy-la-vệ, Tì-xá-li, Ma-kiệt sau khi được xá-lợi đều đem về nước dựng tháp cúng dường. Bàla- môn Hương Tính đem cái bình dùng chia xá-lợi về nhà dựng tháp cúng dường. Dân chúng thôn Tất-bát đem phần tro còn lại về dựng tháp cúng dường.
Như vậy, xá-lợi Phật được chia thờ ở tám tháp, tháp thứ chín là cái bình, tháp thứ mười204là tháp tro và tháp thứ mười một là tháp tóc, thờ tóc Phật khi còn tại thế.
Phật sinh giờ nào? Thành đạo giờ nào? Diệt độ thời nào?
__________________________
203 Tất-bát 畢鉢羅. D16 (ii 166): Pippālivaniyā Moriyā. T 5: đạo sĩHoàn-vi 桓違. Phạm-chí tên Ôn-vi 溫違.
204 Cuối cùng, những người họ Lực sĩ (Mallā) thâu lượm tro còn lại, dựng tháp thờ, kể tất cả có 10 chỗ.

* Trang 148 *
device

Sinh khi sao Phất205 mọc. Xuất gia khi sao Phất mọc. Thành đạo khi sao Phất mọc. Diệt độ khi sao Phất mọc.206
Lưỡng Túc Tôn sinh khi nào?
Xuất gia tu khổ khi nào?
Đắc Đạo tối thượng khi nào?
Nhập Niết-bàn thành thế nào?
Mồng tám: Như Lai sinh.
Mồng tám: Phật xuất gia.
Mồng tám: thành Bồ đề.
Mồng tám: vào diệt độ.
Sao Phất mọc, Thế Tôn sinh.
Sao Phất mọc, Phật xuất gia.
Sao Phất mọc, thành Chính giác.
Sao Phất mọc, nhập Niết-bàn.
Mồng tám, sinh Lưỡng túc tôn.
Mồng tám, vào rừng tu khổ.
Mồng tám, thành Đạo tối thượng.
Mồng tám, vào thành Niết-bàn.
Tháng hai, Như Lai sinh.
Tháng hai, Phật xuất gia.
Tháng hai, thành Bồ-đề.
Tháng hai, vào diệt độ.
Tháng hai, sinh Lưỡng Túc Tôn.
Tháng hai, vào rừng tu khổ.
Tháng hai thành Đạo tối thượng.
Tháng hai, vào thành Niết-bàn.
Sa-la hoa nở rộ,
Đủ màu ánh chói nhau,
Tại Bản sinh xứ ấy,
Như Lai nhập Niết-bàn.
Đức Đại từ Niết-bàn,
____________________________
205 Phất tinh 沸星. Cũng gọi là Phất-sa. Phiên dịch danh nghĩa (T2131, tr. 1058b25): “Phất-sa, chính xác âm là Phú-sa 富沙… Hoặc gọi là Bột-sa 勃沙. Dịch là Tăng thạnh 增盛… Tức sao Quỷ 鬼星
trong 28 tú.” Skt. Puṣya-nakṣatra. Tháng sao Phất, khoảng tháng 12 và tháng 1, dương lịch.
206 Phụ chú trong nguyên bản: “Đơn bản chú rằng: trong các câu hỏi, đúng ra phải có câu: ‘Xuất gia giờ nào?’ Các bản thảy đều khuyết.”

* Trang 149 *
device

Nhiều người xưng tán lễ.
Vượt qua các sợ hãi
Quyết định nhập Niết-bàn.207
______________________
207 Bản Hán, hết quyển 4.

* Trang 150 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1