LOGO VNBET
TRƯỜNG A - HÀM
PHẦN III

20. KINH A-MA-TRÚ
 
[82a07] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành nước Câu-tát-la,1 cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, rồi đến Y-xa-năng-già-la,2 thôn của một người Bà-la-môn
ở Câu-tát-la. Ngài nghỉ đêm tại rừng Y-xa.3
Lúc ấy, có một người Bà-la-môn tên Phất-già-la-sala, 4 đang sống ở thôn Úc-già-la.5 Thôn ấy sung túc, nhân dân đông đúc, là một thôn được vua Ba-tư-nặc6phong cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la làm phạm phần.7 Người Bà-la-môn này, từ bảy đời nay cha mẹđều chân chính, không bị người khác khinh thường;8đọc tụng thông suốt ba bộ cựu điển,9 có thể phân tích các loại kinh thư, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, nghi lễ tế tự; có năm trăm đệ tử, dạy dỗ không bỏ phế. Ông có một đệ tử Ma-nạp10 tên là A-ma-trú,11 từ bảy đời nay cha mẹ đều chân chính, không bị
__________________
* 第三分阿摩晝經第一
1 Câu-tát-la 俱薩羅, D 3: Kosala. T. 20: Việt-kì 越祇.
2 Y-xa-năng-già-la 伊車能伽羅, D 3.: Icchānaṅkala, tên thôn. T. 20: Cổ xa thành 古車城.
3 Y-xa 伊車林, D 3: Icchānaṅkalavanasaṇḍa, tên khu rừng.
4 Phất-già-la-sa-la 沸伽羅娑羅, Pl.: Pokkharasādi. T. 20: Phí-ca-sa 費迦沙.
5 Úc-già-la 郁伽羅, D 3.: Ukkaṭṭha.
6 Ba-tư-nặc 波斯匿, D 3.: Pasenadi, vua nước Câu-tát-la.
7 Phạm phần 梵分(phạm thí 梵施, tịnh thí 淨施); Pl.: brahmadeyya, vật, thường là đất đai, do vua ban tặng.
8 Bảy đời thuần chủng, không lai.
9 Ba bộ cựu điển, chỉ ba bộ Vệ đà. Pl. tiṇṇa veda.
10 Ma nạp đệ tử 摩納弟子, Pl.: māṇavo antevāsi, thiếu niên đệ tử, người học trò (hầu cận) trẻ tuổi.
11 A-ma-trú 阿摩晝, T. 20: A-bạt 阿颰; Pl.: Ambaṭṭha.

* Trang 399 *
device

người khác khinh thường, đọc tụng thông suốt ba bộ cựu điển, có thể phân tích các loại kinh thư, và cũng giỏi phép xem tướng đại nhân, nghi lễ tế tự, và cũng có năm trăm đệ tử Ma-nạp, dạy dỗ không bỏ phế, không khác với thầy mình.
Lúc ấy, Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la nghe đồn Sa-môn Cù-đàm Thích tử, xuất gia, thành Đạo, cùng với đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đến Y-xa-năng-già-la, thôn của Bà-la-môn, đang nghỉtrong rừng Y-xa. Ngài có tiếng tăm lớn lưu truyền trong thiên hạ, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa chư Thiên, người đời, Ma, hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, đã tự mình chứng nghiệm,12 rồi thuyết pháp cho người khác; pháp ấy thiện xảo khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng cuối,có đủ nghĩa và vị,13 phạm hạnh thanh tịnh.14 Ông nghĩ: “Với bậc chân nhân như vậy,15 ta nên đến thăm viếng.Ta nay nên đến xem Sa-môn Cù-đàm để xác định vịấy có ba mươi hai tướng, tiếng tăm đồn khắp, điều đócó đúng sự thật chăng? Nên bằng duyên cớ nào để cóthể thấy tướng của Phật?” Rồi lại nghĩ: “Nay đệ tử ta A-ma-trú, từ bảy đời trở lại cha mẹ đều [82b] chân chính, không bị người khác khinh thường, đọc tụng thông suốt ba bộ cựu điển, có thể phân tích các loại kinh thư, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, nghi lễ tếtự; duy chỉ người này có thể sai đi xem Phật, để biết có các tướng ấy không.”
Khi ấy Bà-la-môn liền sai đệ tử A-ma-trú đi, bảo rằng:
“Con hãy đến xem Sa-môn Cù-đàm kia có thật có ba mươi hai tướng hay không, hay là dối?”
A-ma-trú liền thưa thầy ngay rằng:
___________________
12 Pl. định cú: so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samarākaṃ sabrahmakaṃsasamaṇa-brāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññāsacchikatvā, Ngài bằng thắng trí đã tự mình chứng nghiệm thế giớinày bao gồm Thiên giới, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, sinh loạicùng chư Thiên nhân loại.
13 Hán: nghĩa vị cụ túc 義味具足. Pl., định cú: sātthaṃ savyājanaṃ, có ý nghĩa (có mục đích) và có văn.
14 Phạm hạnh thanh tịnh 梵行清淨. Pl., định cú: kevelaparipuṇṇaṃparisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, “Ngài nêu rõ Phạm hạnhtuyệt đối viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh.
15 Chân nhân 真人, Pl.: arahataṃ, A-la- hán; đây chỉ chung các Thánh nhân trong đời.

* Trang 400 *
device

“Con làm thế nào để nghiệm xét tướng của Cù-đàm, để biết thật hay dối?”
Người thầy trả lời:
“Nay ta bảo cho con biết, nếu thật có ba mươi hai tướng đại nhân, chắc chắn có hai đường, không nghi ngờ gì nữa. Nếu tại gia, sẽ làm Chuyển luân thánh vương, cai trị bốn thiên hạ, đúng theo pháp mà trịhóa, thống lãnh nhân dân, đầy đủ bảy báu: 1. báu bánh xe vàng, 2. báu voi trắng, 3. báu ngựa xanh, 4. Báu thần châu, 5. báu ngọc nữ, 6. báu Cư sỹ, 7. báu điển binh. Vua có một nghìn người con, dũng mãnh, đa trí, hàng phục kẻ thù, không cần dùng vũ khí mà thiên hạthái bình, nhân dân trong nước không có điều kinh sợ. Còn nếu không ham thích thế gian, vị ấy xuất gia cầu đạo, sẽ thành Như Lai, Chí nhân, Đẳng Chính Giác đầy đủ mười hiệu. Theo đó mà có thể biết thực hư của Cù-đàm.”
A-ma-trú vâng lời thầy sai bảo, bèn thắng cỗ xe báu, dẫn theo năm trăm đệ tử Ma-nạp, vào lúc sáng sớm, ra khỏi thôn, đi đến rừng Y-xa. Đến nơi, xuống xe, đi bộ đến chỗThế Tôn. Trong lúc cùng đàm luận nghĩa lý, nếu Thế Tônđang ngồi thì Ma-nạp này đứng; nếu Thế Tôn đứng thìMa-nạp này ngồi. Phật nói với Ma-nạp rằng:
“Phải chăng ngươi đã từng đàm luận với các Bà-la-môn trưởng thượng, kì cựu như thế?”
Ma-nạp bạch Phật:
“Nói như vậy nghĩa là sao?”
Phật bảo Ma-nạp:
“Trong lúc cùng đàm luận, Ta ngồi thì ngươi đứng; Ta đứng thì ngươi ngồi. Phép đàm luận của thầy ngươi phải là như vậy chăng?”
Ma-nạp bạch Phật:
“Theo phép Bà-la-môn của tôi, ngồi thì cùng ngồi, đứng thì cùng đứng, nằm thì cùng nằm. Nay với hạng Sa-môn hủy hình, không vợ không con, hèn hạ, thấp kém, tập theo pháp đen tối,16 thì khi tôi cùng bọn người ấy luận nghĩa, không theo phép ngồi đứng.”
_______________
16 Hán: hủy hình, quan độc, ti lậu, hạ liệt, tập hắc minh pháp 毀形鰥獨卑陋下劣習黑冥法. Pl., định cú: muṇḍakā samaṇakāibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, hạng Sa-môn trọc đầu, ti tiện,đen đũi, sinh từ chân của bà con ta (Phạm thiên).

* Trang 401 *
device

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói với Ma-nạp ấy rằng:
“Khanh, Ma-nạp, chưa được dạy dỗ.”17
Khi Ma-nạp nghe Thế Tôn gọi mình bằng “khanh”,18lại nghe bị chê là chưa được dạy dỗ, tức thì nổi giận, kích bác Phật rằng:
“Con nhà họ Thích này hay có lòng độc ác, không cóphép tắc.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Những người họ Thích có lỗi gì với khanh?”
Ma-nạp nói:
“Xưa, một lần, [82c] tôi có chút duyên sự của thầy tôi với họ Thích ở nước Ca-duy-việt.19 Khi ấy có nhiều người họ Thích có chút nhân duyên nên tập họp tại
giảng đường. Thấy tôi từ xa đến, họ khinh mạn, đùa cợt, không thuận nghi pháp, không biết kính trọng nhau.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Các người họ Thích kia khi ở trong nước mình có thểvui đùa thỏa thích. Cũng như chim bay, đối với khu rừng có tổ của nó, ra vào tự tại. Cũng vậy, các người họ Thích khi ở trong nước mình có thể vui đùa tự tại.”
Ma-nạp bạch Phật:
“Đời có bốn chủng tính: Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la. Ba chủng tính kia thường tôn trọng, cung kính, cúng dường Bà-la-môn. Những người họ Thích kia
không nên như vậy. Họ Thích là tôi tớ20 kia, hèn mọn,thấp kém, mà không cung kính Bà-la-môn như ta.”
Bấy giờ, Thế Tôn nghĩ thầm rằng: “Gã Ma-nạp này nhiều lần mắng nhiếc, và nói đến từ ‘tôi tớ.’ Vậy Ta cónên nói nguồn gốc của nó để nó khuất phục chăng?”
Rồi Phật bảo Ma-nạp:
________________________
17 Hán: vị điều phục 未調伏; Pl.: avusitavā, chưa được hoàn hảo, chưa được dạy dỗ, vô giáo dục.
18 Hán: khanh 卿. Bản Pāli không có chi tiết này.
19 Ca-duy việt 迦維越(Ca-Tì-la-vệ). Pl.: Kapilavatthu.
20 Hán: xí tư 廁斯; Pl.: ibbha, tôi tớ hèn mọn.

* Trang 402 *
device

“Dòng họ21 ngươi là gì?”
Ma-nạp trả lời:
“Tôi thuộc dòng họ Thanh vương.”22
Phật bảo Ma-nạp:
“Dòng họ ngươi như thế là thuộc dòng dõi tôi tớ23 của dòng họ Thích.”
Lúc ấy, năm trăm đệ tử Ma-nạp kia thảy đều lớn tiếng nói với Phật rằng:
“Chớ nói như vậy. Chớ nói Ma-nạp này thuộc dòng dõi tôi tớ của dòng họ Thích. Vì sao? Đại Ma-nạp này thật sự là con nhà tông tộc, nhan mạo xinh đẹp, tài biện luận ứng cơ, nghe nhiều, học rộng, đủ để cùng đàm luận trao đổi với Cù-đàm.”
Thế Tôn nói với năm trăm Ma-nạp:
“Nếu thầy của các ngươi không đúng như lời các ngươi nói, Ta sẽ bỏ qua thầy ngươi mà luận nghĩa với các ngươi. Nếu thầy ngươi có đúng như lời các ngươi nói, các ngươi nên im lặng để Ta luận với thầy các ngươi.”
Năm trăm Ma-nạp bấy giờ bạch Phật rằng:
“Chúng tôi tất cả sẽ im lặng. Xin Ngài luận với thầy của tôi.”
Bấy giờ Thế Tôn nói với A-ma-trú:
“Trong thời quá khứ lâu dài xa xưa, có vị vua tên Thanh Ma.24 Vua có bốn người con trai. Thứ nhất tên Diện Quang. Thứ hai tên Tượng Thực. Thứ ba tên LộChỉ. Thứ tư tên Trang Nghiêm.25 Bốn người con của Vua
_________________
21 Hán: tánh 姓; Pl.: gotta, chủng tánh, dòng dõi.
22 Hán: Thanh Vương 聲王. D 3: Kaṇhāyana, chỉ hậu duệ thổ dân bị chủng tộc Arya chinh phục; ám chỉ có nguồn gốc da đen. Hán dịch không phù hợp với từ này.
23 Hán: Thích-ca nô chủng 釋迦奴種. D 3.: dāsiputto Sakyānam, con cháu của một nữ tỳ của họ Thích.
24 Hán: Thanh Ma 聲摩; Pl.: Okkāka (Skt. Ikṣvāku), thường dịch làCam giá vương 甘蔗, thủy tổ dòng họ Thích. T 20: Cổ-ma-sàng 鼓摩床.
25 Bốn người con: Diện Quang 面光, Pl.: Okkamukha, Tượng Thực 象食, Pl.: Hatthinīya, Lộ Chỉ 路指, Pl.: Karakaṇḍa, Trang Nghiêm 莊嚴, Pl.: Sinisūra (Sinipura). T 20: Úc-kiềm 郁鉗, Kiền-ni 虔尼, Độ 度Thuần 淳.

* Trang 403 *
device

có chút vi phạm bị vua đuổi khỏi nước,26 đến phía nam Tuyết Sơn, sống trong rừng Trực Thọ.27 Mẹ của bốn người con cùng với các gia thuộc đều nghĩ nhớhọ, cùng nhau nhóm họp bàn, rồi đi đến chỗ Thanh Ma vương, tâu rằng:
“Đại vương, nên biết, bốn người con của chúng ta xa cách đã lâu, nay tôi muốn đi thăm.”
Vua nói:
“Muốn đi thì tùy ý.”
“Người mẹ và các quyến thuộc nghe vua dạy, liền đi đến phía Nam Tuyết Sơn, trong rừng Trực Thọ, [83a]đến chỗ bốn người con. Các bà mẹ nói:
“Con gái của ta gả cho con trai ngươi. Con trai ngươi gả cho con gái ta.28
“Rồi họ phối nhau thành vợ chồng. Sau sinh con trai,29dung mạo xinh đẹp.
“Lúc ấy, vua Thanh Ma nghe bốn người con mình được các bà mẹ gả cho các con gái làm vợ, sinh con trai xinh đẹp, vua rất vui mừng, thốt lên lời này: ‘Đích thực là con nhà họ Thích! Đích thực là con trai họ Thích!30 Vìchúng có thể tự lập.’ Nhân đó đặt tên là Thích. Thanh Ma vương chính là tiên tổ họ Thích vậy.
“Vương có một người nữ tỳ, tên gọi Phương Diện,31nhan mạo xinh đẹp, cùng thông giao với một người Bà-la-môn bèn có thai, sinh một
_________________
26 Theo bản Pl., Okkāka muốn truyền ngôi cho con trai một ái phi nên đuổi những người con lớn đi. T 20: bốn người con tranh ngôi; vua buồn chán, bỏ nước mà đi.
27 Hán: Trực Thọ lâm 直樹林. Pl.: sāka-saṇḍo, rừng cây sāka, cólẽ chỉ cây sồi.
28 Theo văn, Bốn người con khác mẹ. D 3 (i 92).: te jātisambhedabhayāsakāhi bhaginīhi saddhiṃ saṃvāsaṃ kappesuṃ: Vì sợ phá hoạihuyết thống, họ bèn phối hợp với các chị em của mình.
29 Để bản, sinh nam tử 生男子. TNM: sinh nam nữ 生男女: sinh con cái.
30 Hán: chân thích tử, chân Thích đồng tử 真釋子, 真釋童子. BảnHán chua thêm: “Thích 釋, tiếng nước Tần nói là năng 能(khảnăng). Vì ở trong rừng Trực Thọ nên gọi là Thích. Thích, tiếng Tần cũng có nghĩa là Trực 直(thẳng).” Pl.: Sakyā vata bho kumārā,paramasakyā vata bho kumārā: Giỏi thay (có năng lực) các
Vương tử! Rất giỏi thay các Vương tử!” Ở đây, Sākya được hiểu là“có năng lực.”
31 Hán: thanh y Phương Diện 青衣方面, một nữ tỳ tên Phương Diện. D 3.: Okkākassa Disā nāma dāsī ahosi, Vua có một nữ tỳ tên Disā(Phương Hướng).

* Trang 404 *
device

Ma-nạp,32 vừa rơi xuống đất là biết nói. Nó nói với cha mẹ rằng: ‘Hãytắm cho con, trừ sạch dơ bẩn. Sau này lớn lên, con sẽ báo ơn.’ Vì mới sinh đã biết nói nên đặt tên Thanh vương. Như nay kẻ mới sinh mà biết nói thì ai cũng sợ, đặt tên là Đáng Sợ.33 Kia cũng vậy. Vừa sinh đãbiết nói nên được đặt tên là Thanh vương.34 Từ đó đến nay, Bà-la-môn lấy Thanh vương làm họ.”
Lại bảo Ma-nạp:
“Ngươi có bao giờ nghe các Bà-la-môn kì cựu, trưởng thượng, nói về nguồn gốc dòng họ này chưa?”
Lúc ấy Ma-nạp im lặng không trả lời. Hỏi lần nữa. Lại cũng không trả lời. Phật hỏi đến ba lần, bảo Ma-nạp rằng:
“Ta hỏi đến ba lần. Ngươi hãy nhanh chóng trả lời. Nếu ngươi không trả lời, Mật Tích Lực sĩ,35 tay cầm chày vàng đứng hai bên Ta, sẽ đánh cho đầu ngươi vỡ
thành bảy mảnh.”
Lúc ấy Mật Tích Lực sĩ tay cầm chày vàng, đang đứng giữa hư không, ngay trên đầu Ma-nạp. Nếu Ma-nạp không trả lời câu hỏi đúng lúc, sẽ hạ chày vàng đánh
vỡ đầu Ma-nạp. Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi hãy ngước nhìn xem.”
Ma-nạp ngước nhìn, thấy Mật Tích Lực sĩ tay cầm chày vàng đứng giữa hư không. Thấy vậy, rất đỗi kinh hãi, toàn thân lông dựng đứng, liền rời chỗ ngồi, đến gần Thế Tôn, nương tựa nơi Thế Tôn để được cứu hộ. Ma-nạp bạch Phật:
“Thế Tôn hãy hỏi. Con sẽ trả lời.”
Phật hỏi Ma-nạp:
“Ngươi có bao giờ nghe các Bà-la-môn kì cựu, trưởng thượng, nói về nguồn gốc dòng họ này chưa?”
________________
32 Hán: ma-nạp tử 摩納子; đây chỉ con của Bà-la-môn được gọi làma-nạp. D 3.: Sinh một người con, thấy nó đen nên gọi là Kaṇha (Đen).
33 Hán: khả úy 可畏. Pāli: pisāca, quỷ tì-xá-xà.
34 D 3.: ayaṃ jāto pavyāhāsi, kaṇho jāto pisāco jāto, đứa trẻ này mớisinh liền nói; một kaṇha (đen) mới sinh, một ác quỷ (tì-xá-xà) mới sinh.
35 Mật Tích Lực sĩ 密跡力士, Pl.: vajirapāṇī yakkho, Kim cang thủDạ-xoa, Dạ-xoa cầm chày Kim cang.

* Trang 405 *
device

Ma-nạp đáp:
“Tôi tin là đã từng nghe. Thật có sự kiện ấy.”
Khi ấy năm trăm Ma-nạp thảy cùng cất tiếng bảo nhau rằng:
“A-ma-trú này thật sự thuộc dòng họ tôi tớ của Thích ca. Sa-môn Cù-đàm nói sự thật, chúng ta vô cớ ôm lòng khinh mạn.”
Bấy giờ Thế Tôn nghĩ thầm: “Năm trăm Ma-nạp này về sau [83b] tất có lòng khinh mạn, gọi Ma-nạp này là tôi tớ. Nay hãy phương tiện làm mất cái tên gọi ‘tôi tớ’ ấy.”
Phật liền nói với năm trăm Ma-nạp:
“Các ngươi cẩn thận, chớ xem người này thuộc dòng họ nô tài. Vì sao? Tiên tổ Bà-la-môn của người này là một Đại Tiên nhân,36 có oai lực lớn, gây chiến với Thanh Ma vương, đòi lấy con gái. Vì sợ, vua bèn gảcon gái cho.”
Do lời này của Phật, Ma-nạp thoát khỏi danh xưng tôi tớ.
Rồi Thế Tôn bảo A-ma-trú:
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu con gái Sát-lị có bảy đời cha mẹ chân chính không bị khinh khi, được gã cho một người Bà-la-môn làm vợ, sinh một người con trai, là
Ma-nạp, dung mạo xinh đẹp. Người con trai này khi đi vào giữa những người Sát-lị, nó có được mời ngồi, nhận nước, tụng đọc pháp Sát-lị không?”
Đáp: “Không được.”
“Có được sự nghiệp tài sản của cha không?”
Đáp: “Không được.”
“Có được kế thừa chức của cha không?”37
Đáp: “Không được.”
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu con gái Bà-la-môn, có cha mẹbảy đời chân chính không bị người khinh khi, được gả cho người Sát-lị làm vợ, sinh một người con, dung
mạo xinh đẹp. Người này khi vào giữa chúng Bà-lamôn, có được mời ngồi, được nhận nước không?”
__________________
36 Pl.: uḷāro so kaṇho isi ahosi, Kaṇha trở thành một Tiên nhân vĩđại.
37 Trong bản Pāli, D 3, các quyền lợi trên đều được phép, chỉ trừquyền thừa kế, vì cha không phải Sát-lị (pitito anupapanno).

* Trang 406 *
device

Đáp: “Được.”
“Được tụng đọc pháp Bà-la-môn, được hưởng gia tàicủa cha, thừa kế chức vụ của cha không?”38
Đáp: “Được.”
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu người Bà-la-môn bị Bà-lamôn tẩn xuất, chạy vào chủng tính Sát-lị, có được chỗngồi, được nước, được tụng đọc pháp Sát-lị không?”
Đáp: “Không được.”
“Được hưởng di sản của cha, kế thừa chức vụ của cha không?”
Đáp: “Không.”
“Nếu chủng tính Sát-lị bị Sát-lị tẩn xuất sang Bà-la-môn, có được chỗ ngồi, được mời nước, tụng đọc pháp Bà-la-môn chăng?”
Đáp: “Được.”
“Vậy thì, này Ma-nạp, giữa người nữ, nữ Sát-lị trỗi hơn. Giữa người nam, nam Sát-lị trỗi hơn. Không phải là Bà-la-môn vậy.”
Phạm Thiên tự mình nói bài kệ rằng:
Trong đời, Sát-lị nhất,
Với ai y chủng tính.39
Minh, Hành thảy đầy đủ,
Tối thắng giữa Trời Người.
Phật bảo Ma-nạp:
“Phạm Thiên nói bài kệ này, thật là nói khéo chớkhông phải không khéo. Ta công nhận như vậy. Vìsao? Nay, như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, cũng nói nghĩa đó:
Trong đời, Sát-lị nhất,
Với ai y chủng tính.
Minh, Hành thảy đầy đủ,
_______________
38 Theo bản Pāli, D 3, cha Sát-lị, mẹ Bà-la-môn, con trai không được làm lễ Quán Đảnh để thừa kế (khattiyā khattiyābhisekenaabhisiñceyyuṃ). Vì mẹ không phải Sát-lị (mātito anupapanno).
39 Nguyên Hán: chủng tính diệc thuần chân 種姓亦純真. Bài kệnày cũng được nói trong T 1(5) kinh Tiểu Duyên, nhưng Hán dịch không đồng nhất. Xem cht. 30 T 1(5) kinh Tiểu Duyên.

* Trang 407 *
device

Tối thắng giữa Trời Người.
[83c] Ma-nạp bạch Phật:
“Cù-đàm, Vô thượng Minh Hành Cụ Túc40 là thếnào?”
Phật bảo Ma-nạp:
“Hãy nghe kỹ, hãy nghe kỹ, hãy suy nghĩ kỹ! Ta sẽnói cho.”
Đáp: “Kính vâng. Rất muốn được nghe.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Nếu đức Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, là đấng Thiện thệ, Thếgian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn; Ngài ở giữa chư Thiên, người đời, Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên ma, Phạm Vương màtự mình chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người. Pháp
được nói ấy thiện xảo khoảng đầu,41 thiện xảo khoảng giữa, khoảng cuối cũng thiện xảo, đầy đủ nghĩa vàvị, khai mở phạm hạnh thanh tịnh.42 Hoặc Cư sỹ, con
trai Cư sỹ, và các chủng tính khác, nghe Chính pháp mà sinh lòng tín ngưỡng, do tâm tín ngưỡng mà nghĩnhư vầy: ‘Ta nay tại gia, vợ con ràng buộc, không thể
thanh tịnh thuần tu phạm hạnh. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo.’Người ấy, sau đó từ bỏ gia đình tài sản, từ giã thân tộc, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo. Cũng đồng với những người xuất gia, xả bỏ các thứ trang sức, đầy đủ các giới hạnh, không làm hại chúng sinh.
“Xả bỏ dao gậy, tâm hằng tàm quí, từ niệm đối với hết thảy. Đó là không giết.
“Xả bỏ tâm trộm cắp, không lấy vật không cho, tâm hằng thanh tịnh, không có ý lén lút lấy cắp. Đó làkhông trộm cắp.
“Xả ly dâm dục, tịnh tu phạm hạnh, ân cần tinh tấn, không bị nhiễm dục,
_____________________
40 Hán: Vô Thượng Sỹ, Minh Hành cụ túc 無上士明行具足. Chép dư chữ sỹ 士. D 3: Ambaṭṭha hỏi: “Hành ấy là gì? Minh ấy là gì? (katamaṃ pana taṃ caraṇaṃ. katamā ca pana sā vijjā ti).
41 Hán: thượng ngữ diệc thiện 上語亦善. Pl.: So dhammaṃ deseti ādi-kalyānaṃ (...), Ngài tuyên thuyết pháp mà pháp ấy phần đầuthiện (...).
42 Hán: khai thanh tịnh hạnh 開清淨行. Pl. định cú cú: kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, Ngài thuyết minh phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.

* Trang 408 *
device

sống trong sạch. Đó là không dâm.
“Xả ly vọng ngữ, chí thành không lừa dối, không gạt người. Đó là không nói dối.
“Xả ly nói hai lưỡi; nếu nghe lời người này, không truyền lại người kia; nếu nghe lời người kia, không truyền lại người này. Những người chia rẽ thì làm cho hòa hiệp, khiến cho thân kính lẫn nhau. Những lời nói ra đều hòa thuận, đúng thời. Đó là không nói hai lưỡi.
“Xả ly ác khẩu. Những lời nào là thô lỗ, thích gây não người khác, khiến sinh phẫn kết; xả những lời nhưvậy. Lời nói dịu dàng, không gây oán hại, đem nhiều lợi ích, được mọi người yêu kính, thích nghe những lời như vậy. Đó là không ác khẩu.
“Xả ly ỷ ngữ; lời nói hợp thời, thành thật như pháp, y luật diệt trừ tranh chấp; có duyên cớ mới nói; lời nóikhông phát suông. Đó là xả ly ỷ ngữ.
“Xả ly uống rượu, xa lìa chỗ buông lung.
“Không đeo hương hoa, anh lạc.
“Không đi xem và nghe các thứ ca, múa, xướng, hát.
“Không ngồi giường cao
“Không ăn phi thời.
“Không cất chứa, sử dụng vàng bạc, bảy báu.
“Không cưới thê thiếp; không nuôi nô tỳ, voi, [84a] ngựa, trâu bò, gà, chó, heo, dê; không tích chứa ruộng, nhà, vườn tược. Không gạt người bằng cân đong dối trá.
“Không lôi kéo nhau bằng bàn tay, nắm tay. Cũng không cầm đồ. Không vu dối người, không làm điều ngụy trá. Xả bỏ những thứ xấu ác như vậy. Diệt trừcác tranh tụng, các điều bất thiện. Đi thì biết thời. Không phải thời thì không đi. Lường dạ mà ăn, không tích chứa dư thừa. Che thân bằng y phục, vừa đủ thìthôi. Pháp phục, bình bát,43 thường mang theo mình, như chim bay mang theo mình hai cánh. Cũng vậy, Tỳ-kheo không chứa dư thừa.
“Này Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, nhận sự tín thí của người mà vẫn tìm cách tích chứa; với y phục, ẩm thực, không hề biết đủ.
_________________
43 Nguyên Hán: ứng khí 應器.

* Trang 409 *
device

Ai vào trong pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, vẫn tìm phương tiện cầu các lợi dưỡng, các thứ ngà voi, tạp bảo, giường lớn cao rộng, với các loại chăn nệm thêu thùa sặc sỡ. Ai vào trong pháp ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy nhận của người tín thí, vẫn tìm phương tiện, tìm cách trang điểm mình, bôi dầu vào thân, tắm gội bằng nước thơm, thoa các thứ bột thơm, chải đầu thơm láng, đeo tràng hoa đẹp, nhuộm mắt xanh biếc, bôi mặt cho đẹp đẽ, đeo vòng xuyến sáng chói, dùng gương soi mặt, giày da đủ màu, áo trên thuần trắng, dao gậy, người hầu, lọng báu, quạt báu, xe báu trang nghiêm. Ai vào trong pháp Ta, không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí mà chuyên việc vui chơi, chơi bài, chơi cờ loại tám đường, mười đường,45 trăm đường, cho đến đủ hết mọi đường,46 với đủ các loại vui chơi khác nhau. Ai vào trong pháp Ta, không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí vẫn nói những lời vô ích, chướng ngại đạo: bàn các việc vương giả, việc chiến đấu, quân mã; việc quần liêu, đại thần, cưỡi ngựa, đánh xe ra vào, dạo chơi vườn rừng; bàn luận việc nằm, việc đứng, việc đi bộ, việc nữ nhân, việc y phục, ẩm thực, thân lý; lại nói chuyện vào biển tầm ngọc. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăncủa người tín thí, bằng vô số phương tiện, chỉ sinh hoạt tà mạng: mĩ từ dua xiểm, hiện tướng khen chê, lấy lợi cầu lợi. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn [84b] của người tín thí, lại chỉ tranh cãi nhau, hoặc nơi vườn rừng, hoặc nơi ao tắm, hoặc ở
_____________________
44 Hán: quỷ thần sở y 鬼神所依. Pl.: bhūta-gāma, làng quỷ thần, chỉ thực vật, các loại cây cỏ.
45 Hán: bát đạo, thập đạo 八道十道; Pl.: aṭṭhapadaṃ dasapadaṃākāsam, bát mục kì, thập mục kì: cờ tám ô, cờ mười ô.
46 Bản Pl. không có các loại cờ này.

* Trang 410 *
device

sảnh đường, chỉtrích lẫn nhau, rằng: ‘Ta biết kinh luật; ngươi không biết gì. Ta đi đường chính; ngươi đi lối tà. Ngươi đặt cái trước ra sau, đặt cái sau ra trước. Ta nhịn ngươi được; ngươi không biết nhịn. Những điều ngươi nói đều không chân chính. Nếu có điều gì nghi ngờ, cứđến hỏi ta, ta giải đáp được hết.’ Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn tuy ăn của người tín thí, lại làm các phương tiện, cầu làm sứ giả; hoặc làm sứ giả thông tin cho vua, đại thần của vua, Bà-la-môn, Cư sỹ; từ người này đến người kia, từngười kia đến người này; đem lời người này trao cho người kia, đem lời người kia trao cho người này; hoặc tự mình làm, hoặc sai người khác làm. Ai vào trong pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, lại chỉ luyện tập các việc chiến trận, tỷ đấu; hoặc luyện tập dao, gậy, cung tên; hoặc nuôi gà chọi, chó, heo, dê, voi, ngựa, bò, lạc đà; hoặc đấu nam nữ; hoặc tấu các thứ tiếng: tiếng loa, tiếng trống, tiếng ca, tiếng múa, leo cột phướn, leo xuôi, leo ngược, đủ các thứ trò chơi. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, lại hành pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tà mạng: xem tướng trai gái, cát hung, đẹp xấu, và tướng súc sinh, lấy lợi cầu lợi. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí vẫn hành pháp chướng ngại đạo, sinh sống tà mạng: kêu gọi quỷ thần, hoặc đuổi đi, hoặc bảo dừng, các thứ ếm đảo, vô số phương thuật, khiến người sợ hãi, có thể tụ có thể tán, có thể khổ có thể vui, lại có thể an thai, trục thai, cũng có thể chú ếm người khiến làm lừa ngựa, cũng có thể khiến người đui, mù, câm, ngọng, hiện bày các mánh khóe, chấp tay hướng về mặt trời, mặt trăng, làm các khổ hạnh để cầu lợi. Ai vào trong pháp Ta, không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, mà hành các pháp chướng ngại đạo,sinh sống bằng tà mạng: chú bệnh cho người, hoặctụng ma thuật ác, hoặc tụng chú thuật lành, hoặc làm thầy thuốc, châm cứu, thuốc thang, liệu trị các thứbệnh. Ai vào pháp Ta, không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, nhưng hành các pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: hoặc chú nước, chú lửa, hoặc chú ma quỷ, hoặc tụng chú [84c] sát-lị, hoặc

* Trang 411 *
device

tụng chú chim, hoặc tụng chú chi tiết, hoặc bùa chú trấn nhà, trấn cửa, hoặc bùa chú giải trừ lửa cháy, chuột gặm, hoặc tụng kinh thư ly biệt sinh tử, hoặc đọc sách đoán mộng, hoặc xem tướng tay tướng mặt, hoặc đọc sách tất cả âm. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, mà hành pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: xem tướng thiên thời, đoán mưa hay không mưa, thóc cao hay thóc kém, bệnh nhiều hay bệnh ít, kinh sợ hay an ổn, hoặc nói động đất, sao chổi, nhật thực, nguyệt thực, tinh thực, hoặc nói không thực, điềm lành như vậy, điềm xấu như vậy. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, mà hành pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: hoặc nói nước này hơn nước kia, nước kia không bằng; hoặc nói nước kia hơn nước này, nước này không bằng; xem tướng tốt xấu, đoán việc thịnh suy. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.47 Nhưng tu Thánh giới, không nhiễm trước tâm, trong lòng hỷ lạc.48
“Mắt tuy nhìn thấy sắc nhưng không nắm bắt các tướng, mắt không bị sắc trói buộc, kiên cố tịch nhiên, không điều tham đắm, cũng không buồn lo, không rò rỉ các ác, kiên trì giới phẩm, khéo thủ hộ nhãn căn. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cũng như vậy. Khéo chế ngự sáu xúc, hộ trìđiều phục, khiến cho được an ổn, cũng như đi xe bốn ngựa trên đường bằng phẳng, người đánh xe khéo cầm roi khống chế không để trật lối. Tỳ-kheo cũng vậy, chếngự con ngựa sáu căn, an ổn không mất.
“Vị ấy có Thánh giới như vậy, khéo hộ trì các căn theo Thánh pháp, ăn biết đủ,49 cũng không tham vị, chỉ với mục đích nuôi thân để không bị khổ hoạn mà không cống cao, điều hòa thân mình khiến cho cái khổ cũ diệt, cái khổ mới không sinh, có sức, vô sự, khiến thân an lạc. Cũng như người dùng thuốc bôi ghẻ, cốt để ghẻlành chứ không phải để trang sức, không vì tự cao.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, ăn đủ để duy trì thân, không có lòng kiêu mạn phóng túng. Cũng như xe được bôi mỡ, cốt để trơn tru khiến vận
___________________
47 Trở lên, liệt kê các đề tài thảo luận mà Pāli gọi là tiracchāna-kāthā: súc sinh luận
48 Đoạn trên, nói về Tỳ-kheo thành tựu giới (bhikkhu sīlasampanno). Đoạn tiếp theo, Tỳ-kheo phòng hộ căn môn (bhikkhu indriyesuguttadvāro hoti).
49 Từ đây trở xuống, Tỳ-kheo sống tri túc (bhikkhu santuṭṭho hoti).

* Trang 412 *
device

hành thong suốt, đi đến đích. Tỳ-kheo cũng vậy, ăn uống cốt đủduy trì thân để mà hành đạo.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy thành tựu Thánh giới, được các căn của Thánh, ăn biết vừa đủ; bấy giờ, đầu hôm cuối hôm, tinh tấn tỉnh giác. Lại vào lúc ban ngày, hoặc đi hoặc dừng, thường niệm nhất tâm, trừ các ấm cái. Vị ấy, vào khoảng đầu hôm, hoặc [85a] đi hoặc ngồi, thường niệm nhất tâm, trừ các ấm cái. Cho đến giữa đêm, nằm nghiêng hông phải, tưởng niệm sẽ trỗi dậy, đặt ý tưởng vào ánh sáng, tâm không loạn tưởng. Đến lúc cuối đêm, liền dậy tư duy, hoặc đi hoặc ngồi, trừ các ấm cái. Tỳ-kheo có Thánh giới như vậy đầy đủ, được các căn bậc Thánh, ăn uống biết đủ, đầu hôm cuối hôm, tinh cần tỉnh giác, thường niệm nhất tâm, không có loạn tưởng.
“Thế nào là Tỳ-kheo-niệm không thác loạn?50 Tỳ- kheo như vậy, quán thân trên nội thân, tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Quán thân trên ngoại thân; quán thân trên nội ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán tâm, quán pháp cũng vậy. Đó là Tỳ-kheo-niệm không thác loạn.
“Thế nào là nhất tâm? Tỳ-kheo như vậy hoặc tản bộ, hoặc ra vào, hoặc quay nhìn hai bên, co duỗi, cúi ngước, cầm y bát, tiếp nhận ẩm thực, hoặc tả hữu tiện lợi, hoặc ngủ hoặc thức, hoặc ngồi hoặc đứng, nói năng hay im lặng, vào bất cứ lúc nào, thường niệm nhất tâm, không mất oai nghi. Đó là nhất tâm. Cũng như một người đi giữa đám đông, hoặc đi ở trước, ở giữa hay ởcuối, thường an ổn, không có điều sợ hãi. Ma-nạp, Tỳ- kheo như vậy,... (cho đến), nói năng im lặng, thường niệm nhất tâm, không buồn không sợ.
“Tỳ-kheo có Thánh giới như vậy, được các căn bậc Thánh, ăn thì biết đủ, đầu hôm, cuối hôm, tinh cần tỉnh thức, thường niệm nhất tâm, không có thác loạn; thích ở nơi vắng, dưới gốc cây, trong bãi tha ma, hoặc trong hang núi, hoặc ở đất trống hay trong chỗ đống rơm;51đến giờ khất thực, lại rửa tay chân, đặt yên y bát, ngồi kiết già, ngay người chính
________________
50 Tỳ kheo thành tựu chánh niệm, chánh tri (bhikkhu satisampajaññena samannāgato).
51 Hán: phẩn tụ 糞聚: đống phân; có lẽ Pl.: palālapuñja, đống rơm.

* Trang 413 *
device

ý, buộc chặt niệm trước mắt. Trừ bỏ xan tham, tâm không tham cầu;52 diệt tâm sân
hận, không có oán kết, tâm trú thanh tĩnh, thường giữlòng từ; trừ dẹp ngủ nghỉ,53 buộc tưởng nơi ánh sáng,54niệm không thác loạn; đoạn trừ trạo hý,55 tâm không khuấy động, nội tâm an tịnh,56 diệt tâm trạo hý; đoạn trừ nghi hoặc, đã vượt lưới nghi, tâm chuyên nhất ởnơi pháp thiện. Cũng như đồng bộc được đại gia ban cho chủng tính, an ổn giải thoát, miễn khỏi sai khiến,tâm hoan hỷ, không còn lo, sợ.57
“Lại như có người mượn tiền đi buôn bán,58 được lợi lớn mà trở về, trả vốn cho chủ, còn dư tiền đủ dùng, bèn nghĩ rằng: ‘Ta trước mượn tiền đi buôn, e không
như ý. Nay được lợi mà trở về, trả vốn cho chủ, tiền còn dư đủ dùng, không [85b] còn lo, sợ nữa.’ Người ấy rất đỗi vui mừng.’
“Như người bệnh lâu, nay bệnh đã khỏi; ăn uống được tiêu hóa, sức lực dồi dào, bèn nghĩ rằng: ‘Ta trước cóbệnh, mà nay đã khỏi; ăn uống được tiêu hóa, sức lực dồi dào, không còn lo và sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng.
“Cũng như người bị nhốt trong ngục đã lâu, nay bình yên ra tù, bèn nghĩ thầm rằng: ‘Ta trước đây bị giam giữ, nay được giải thoát, không còn lo và sợ.’ Người
ấy rất đỗi vui mừng.
“Lại như có người cầm nhiều tài bảo, đi qua chỗ hoang mạc, không gặp cướp, bình an qua khỏi, bèn tựnghĩ rằng: ‘Ta cầm tài bảo qua khỏi chỗ hiểm nạn này, không còn lo và sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng, tâm tư an lạc.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo bị năm triền cái bao phủ cũng giống như vậy. Như
________________
52 Hán: tâm bất dữ câu 心不與俱; Pl.: abhijjhāya cittaṃ parisodheti, tâm gột sạch xan tham.
53 Pl.: thīnamiddhaṃ pahāya, loại bỏ trạng thái buồn ngủ và rã rượi.
54 Hán: hệ tưởng tại minh 繫想在明; phương pháp trừ buồn ngủ bằng cách thực tập quang minh tưởng. Pl.: ālokasaññī sato, ý niệm với ảnh tượng ánh sáng.
55 Trạo (điệu) hý 掉戲, hay trạo hối 掉悔, trạo cử và hối tiếc; chỉtrạng thái bứt rứt và bồn chồn; Pl.: uddhaccakukkucca.
56 Nội hành tịch diệt 內行寂滅. Pl.: ajjhattaṃ vūpasantacitto, nội tâm an tĩnh, tĩnh chỉ.
57 Cf. D.i. 72.
58 Hán: cử tài trị sinh 舉財治生. Cf. D.i. 71. : iṇaṃ ādāya kammante payojeyya, người mắc nợ, bèn làm các nghề nghiệp (để trả nợ).

* Trang 414 *
device

người mang nợ, bệnh lâu, bị giam giữ, đi qua hoang mạc,59 tự thấy mình chưa thoát ly các ấm che trùm tâm, bị trùm kín trong tối tăm, mắt tuệ không sáng; vị ấy bèn tinh cần, xả dục, xả pháp ác, bất thiện, có tầm có tứ, có hỷ do viễn ly sinh, chứng nhập sơ thiền. Vị ấy có hỷ lạc nhuần thấm nơi thân, tràn đầy cùng khắp, không đâu là không sung mãn. Như người khéo biết cách tắm, cho thuốc đầy bồn tắm, rồi chế nước vào, trong ngoài đều nhuần thấm,60không đâu là không cùng khắp. Tỳ-kheo cũng vậy,chứng nhập sơ thiền, hỷ lạc nhuần thấm khắp thân,không đâu, không sung mãn. Như vậy, này Ma-nạp, đó là hiện thân chứng đắc lạc thứ nhất. Vì sao? Ấy làdo tinh tấn, niệm không thác loạn, ưa chỗ nhàn tĩnh mà được vậy.
“Vị ấy xả tầm, tứ, nội tĩnh,61 chuyên niệm nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sinh, chứng nhập đệ nhị thiền. Vị ấy có hỷ lạc và nhất tâm thấm nhuần châu thân, cùng khắp, tràn đầy, không đâu không sung mãn. Cũng như nước suối trong mát từđỉnh núi chảy ra,62 không phải từ ngoài đến, mà nước trong mát chảy ra ngay từ trong con suối ấy, trở lại thấm nhuần chính nó, không đâu không cùng khắp. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, nhập nhị thiền, có hỷ lạc do định sinh không đâu không sung mãn. Đó là hiện thân chứng đắc lạc thứ hai.
“Vị ấy lìa hỷ, an trú xả, có chính niệm, chính tri,63thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh nói là xả, an trú lạc, có niệm, chứng nhập tam thiền. Vị ấy thân không hỷ,
có lạc thấm nhuần, cùng khắp, tràn đầy, không đâu không sung mãn. Cũng như hoa ưu-bát, hoa bát-đầuma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị, mới nhô khỏi bùn mà chưa ra khỏi nước, với cọng, rễ, cành, lá còn chìm ngập trong nước, nước thấm không đâu không cùng khắp. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, chứng nhập tam thiền, [85c] lìa hỷ, an trú lạc, nhuần thấm khắp thân, không đâu không cùng khắp. Đó là hiện thân chứng đắc lạc thứ ba.
“Vị ấy xả khổ64 và lạc; ưu và hỷ đã diệt từ trước, không khổ, không lạc,
________________
59 Bản Hán kể thiếu: như cảnh nô lệ. Thứ tự 5 ví dụ cho 5 triền cái hơi khác bản Pl..
60 Bột thấm nước và do đó hòa tan với nước.
61 Hán: tiện sinh vi tín 便生為信. Pl.: ajjhattaṃ sampasādaṃ.
62 Cf. D.i. 74.: udakarahado ubbhidodako, nước phun lên từ hồ nước sâu.
63 Hán: bĩ xả hỷ trú hộ niệm bất thố loạn 彼捨喜住護念不措亂.
64 Bản Hán: xả hỷ 捨喜, chép nhầm. Tứ thiền, xả khổ và lạc. Pāli: sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā.

* Trang 415 *
device

xả niệm thanh tịnh, nhập tứthiền. Thân, tâm thanh tịnh, tràn đầy cùng khắp, không chỗ nào không thấm nhuần. Cũng như một người đã tắm gội sạch sẽ, khoác lên mình tấm lụa trắng mới tinh, toàn thân thanh tịnh. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy,
nhập tứ thiền, tâm thanh tịnh, tràn khắp thân, không chỗ nào không thấm.
“Lại nhập tứ thiền, tâm không tăng giảm, cũng không dao động, an trú trên mảnh đất không ái, không nhuế, không động. Cũng như mật thất, trong ngoài được sơn quét, đóng chặt các cửa nẻo, không gió, không bụi lọtvào, bên trong đốt đèn, không bị khuấy động, ngọn lửa bốc thẳng mà không lay động. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, nhập đệ tứ thiền, tâm không tăng giảm, cũng không khuynh động, an trú trên đất không ái, không nhuế, không dao động. Đó là hiện thân chứng lạc thứ tư.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cáu bẩn,nhuần nhuyễn, khéo được huấn luyện, an trú trạng thái bất động, tự mình trong thân khởi tâm biến hóa, hóa thành thân khác, chân tay đầy đủ, các căn không khuyết.65 Vị ấy quán như vầy: ‘Thân này, với sắc bốn đại, hóa thành thân kia. Thân này và thân kia cũng khác nhau, nhưng từ thân này khởi tâm hóa thành thân kia; các căn đầy đủ, chân tay không khuyết.’ Cũng như người rút con dao khỏi bao, bèn nghĩ rằng: ‘Bao khác với dao, nhưng dao được rút ra từ bao.’ Lại nhưmột người se gai làm dây, nghĩ rằng: ‘Gai khác với dây. Nhưng dây xuất xứ từ gai.’ Lại như một người cho rắn bò ra khỏi hộp,66 nghĩ rằng: ‘Rắn khác, hộp khác, nhưng rắn từ hộp mà ra.’ Lại như một người lấy áo ra khỏi giỏ tre, nghĩ rằng: ‘Giỏ tre khác, áo khác; nhưng áo được lấy ra từ giỏ.’ Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy. Đây là thắng pháp thứ nhất được chứng đắc.67Vì sao? Ấy do tinh tấn, niệm không thác loạn, ưa chỗnhàn tĩnh mà được vậy.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cáu bẩn, nhu nhuyến, được khéo huấn luyện, an trú trạng thái bất động, từ sắc thân bốn đại của
__________________
65 D 3 (i. 77): (…) manomayaṃ kāyaṃ abhinimmānāya cittaṃabhinīharati abhininnāmeti, “vị ấy hướng tâm đến sự biến hóa rathân do ý thành.” Xem cht. 64 tiếp theo.
66 Hán: khiệp trung xuất xà 篋中出蛇. Cf. D.i. 77.: ahiṃ karaṇḍa uddhareyya,
con rắn lột vỏ. (karaṇḍa: cái giỏ; hoặc xác/vỏ rắn).
67 Trong Pāli, D 3 ibid., đây là thắng pháp thứ hai: thần thông trí vềý thành thân (manomaya-iddhiñāṇa), khả năng biến hóa thành một thân khác hoàn toàn do ý tạo ra.

* Trang 416 *
device

mình mà khởi tâm, hóa thành thân khác,68 đủ cả tay chân và các căn, nghĩrằng: ‘Thân này do bốn đại hiệp thành. Thân kia từthân này hóa ra. Thân này với thân kia khác nhau. Tâm này trú trong thân này, y thân này mà an trú, [86a] rồi đi đến trong thân biến hóa kia. Cũng nhưlưu ly, ma ni, được lau chùi sáng loáng, trong sạch không dơ; hoặc được xâu bằng chỉ xanh, chỉ vàng, chỉđỏ; người có mắt đặt chúng trong lòng tay mà nhìn, biết rằng ngọc và dây xâu khác nhau. Nhưng dây dựangọc, từ hạt này đến hạt khác. Ma-nạp, Tỳ-kheo quán thấy tâm nương thân này mà an trú, rồi đi đến thân kia cũng như vậy. Đó là Tỳ-kheo chứng đắc thắng pháp thứ hai.69 Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm khôngtán loạn, ưa chỗ nhàn tĩnh mà được vậy.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cáu bẩn, nhu nhuyến, dễ điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập thần thông trí chứng, có thể biến hóa các thứ: hoặc biến một thân thành vô số thân; từ vô sốthân hiệp thành một thân; thân có thể bay đi, vách đákhông ngăn ngại; trú trong hư không như chim; đi trên nước như đi trên đất; mình bốc khói lửa, như đống lửalớn; tay sờ mặt trời, mặt trăng, đứng cao đến Phạm thiên; muốn làm gì tùy ý, đều có thể tự tại thành tựu, làm ích lợi cho nhiều người. Lại như thợ ngà khéo xử lý ngà voi. Cũng như thợ vàng khéo luyện chân kim, tùy ý mà làm, ích lợi cho nhiều người. Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, tâm định tĩnh, thanh tịnh, an trú bất động địa, tùy ý biến hóa, cho đến, tay sờ mặt trời, mặt trăng, đứng cao đến Phạm thiên. Đó là thắng pháp thứba của Tỳ-kheo.70
“Vị ấy với tâm đã định, thanh tịnh không cáu bẩn, nhu nhuyến, khéo điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập chứng thiên nhĩ trí. Vị ấy, với thiên nhĩ thanh tịnh vượt qua lỗ tai con người, nghe được hai loại tiếng: tiếng Chư Thiên và tiếng loài người. Cũng nhưtrong thành có đại giảng đường, cao lớn, rộng rãi, cóngười thính tai ở trong giảng đường; những âm thanh có trong giảng đường, không phải cố gắng để nghe, người ấy nghe rõ hết. Cũng vậy, Tỳ-kheo do tâm đã định, với thiên nhĩ thanh tịnh, nghe được hai thứ tiếng. Ma-nạp, đó là thắng pháp thứ tư
_________________
68 Cf. D 3 (i 76): (…) ñāṇadasanāya cittaṃ abhinīharati, “hướng tâm đến tri kiến.” Tức hướng tâm đến chánh quán về bốn đại, chứ không phải biến hóa như trong bản Hán. Xem thêm cht. 67 tiếp theo.
69 Pl., D 3 ibid.: thắng pháp thứ nhất: chánh quán trí (vipassanāñāṇa) về bốn đại.
70 Thắng pháp thứ ba: thần thông trí 神通智. Pl.: iddhividhāñāṇa.

* Trang 417 *
device

Tỳ-kheo.71
“Vị ấy với tâm đã định, thanh tịnh không cáu bẩn, nhu nhuyến, khéo điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập chứng tha tâm trí. Vị ấy đúng như tâm của người, có dục hay không dục, có cấu uế hay không cấu uế, có si hay không si, tâm rộng hay hẹp, tâm lớn hay nhỏ, tâm định hay loạn, tâm bị trói buộc hay cởi mở, tâm cao thượng hay hạ liệt,… (cho đến), tâm vôthượng, thảy đều biết hết. Cũng như một người rọi bóng mình trong nước trong, đẹp hay xấu đều xét biết cả. Tỳ-kheo như vậy, vì tâm định tĩnh cho nên có thểbiết tâm người. Ma-nạp, đó là [86b] thắng pháp thứnăm của Tỳ-kheo.72
“Vị ấy tâm định, thanh tịnh không cấu uế, mềm dịu, khéo điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập túc mạng trí chứng, liền có thể biết được đời trước, với vô số sự việc; có thể nhớ một đời cho đến vô sốđời, số kiếp thành hoại; chết đây sinh kia; danh tính, chủng tộc, ẩm thực, xấu tốt, thọ mạng dài vắn, cảm thọ khổ lạc, hình sắc tướng mạo thế nào, tất cả đều nhớ biết hết. Cũng như một người từ chòm xóm của mình đi đến nước khác; ở tại chỗ kia, hoặc đi hoặc đứng, hoặc nói, hoặc im lặng; rồi lại từ nước này đến nước khác. Lần lượt như vậy, sau đó quay về chốn cũ. Không cần nhọc sức mà vẫn có thể nhớ những nước đã đi qua; từ chỗ này đến chỗ kia, từ chỗ kia đến chỗnày; đi, đứng, nói năng, im lặng, thảy đều nhớ hết. Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, do tâm đã định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, an trú bất động địa, có thể bằng túc mạngtrí mà nhớ đời trước vô số sự việc trong vô số kiếp. Đólà Tỳ-kheo chứng đắc minh thứ nhất.73 Vô minh vĩnh viễn diệt, pháp đại minh phát sinh; cái tối tăm tiêu diệt, pháp sáng chói phát sinh. Đấy là Tỳ-kheo đắc túc mạng trí minh. Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm không tán loạn, ưa chỗ thanh nhàn vắng vẻ mà được như vậy.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, nhu nhuyến khéo điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập sinh tử trí chứng minh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, thấy các chúng sinh sinh đây chết kia; chết ở kia, sinh đến nơi này, hình sắc đẹp xấu, quả báo thiện ác, tôn quý, ti tiện, tùy nghiệp báo đã tạo mà phù hợp với nhân duyên, tất cả đều biết
_______________
71 Thắng pháp thứ tư: thiên nhĩ trí chứng 天耳智證. Pl. dibbasotañāṇa.
72 Thắng pháp thứ năm: tha tâm trí 他心智. Pl. cetopariyañāṇa.
73 Nguyên Hán: đệ nhất thắng 第一勝. Theo các đoạn tiếp theo, đọc là minh 明. Túc mạng trí minh 宿命智明. Pl. pubbenivāsānúatiñāṇa(túc trụ tùy niệm trí).

* Trang 418 *
device

rõ. Người này thân hành ác, khẩu nói ác, ý nghĩ ác, phỉ báng Hiền Thánh, tin theo tà kiến điên đảo, thân hoại mạng chung đọa ba đường dữ. Người này thân làm thiện, miệng nói thiện,ý nghĩ thiện, không phỉ báng Hiền Thánh, hành theo chính kiến, thân hoại mạng chung, sinh lên trời, người. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấy chúng sinh tùy theo duyên của nghiệp đã làm, qua lại trong năm đường. Cũng như khoảng đất bằng cao rộng trong thành nội, đầu ngã tư đường, cất một ngôi lầu cao lớn, người mắt sáng đứng trên lầu mà nhìn, thấy các bộ hành Đông, Tây, Nam, Bắc, mọi cử động, tất cả đều thấy hết. Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, với tâm định tĩnh, không cấu uế, thanh tịnh, nhu nhuyến dễ điều phục, an trú bất động địa, chứng sinh tử trí. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấyhết chúng sinh với những việc thiện ác mà chúng đãlàm, tùy nghiệp thọ sinh, qua lại năm đường, thảy đều biết cả. Đó là minh thứ hai của Tỳ-kheo. Đoạn trừ vôminh, sinh tuệ minh, xả bỏ tối tăm, phát ra [86c] ánh sáng trí tuệ. Đó là kiến chúng sinh sinh tử trí minh74vậy. Vì sao? Ấy do tinh cần niệm không tán loạn, ưa một mình nơi thanh vắng mà được vậy.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, nhu nhuyến dễ điều phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập vô lậu trí chứng. Vị ấy như thật biết Khổ Thánh đế, như thật biết hữu lậu tập, như thật biết hữu lậu diệt tận, như thật biết con đường dẫn đến vô lậu. Vịấy biết như vậy, thấy như vậy; tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, đắc giải thoát trí, biết rằng: ‘sự sinh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đãlàm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.’ Cũng nhưtrong nước trong, có gỗ, đá, cá, ba ba, các loại thủy tộc du hành Đông, Tây, người có mắt sáng thấy rõhết: đây là gỗ, đá; đây là cá, ba ba. Ma-nạp, Tỳ-kheonhư vậy, với tâm định tĩnh, an trú bất động địa, đắc vôlậu trí chứng, cho đến, không còn tái sinh. Đó là Tỳ- kheo đắc minh thứ ba. Đoạn trừ vô minh, phát sinh tuệ minh, xả bỏ tối tăm, phát ra ánh sáng đại trí. Đó làlậu tận trí minh.75 Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm không tán loạn, ưa một mình nơi thanh vắng vậy.
“Ma-nạp, đó là Minh và Hành vô thượng được đầy đủ. Ý ngươi nghĩ sao, minh và hành như vậy là đúng, hay sai?”
_______________
74 Minh thứ hai: Sinh tử trí chứng minh 生死智證明. Pl. dibbacakkhuñāṇa: thiên nhãn trí; hoặc cutūpapātañāṇa: sinh tử trí.
75 Vô lậu trí minh 無漏智明. Pl.: āsavakkhayañāṇa.

* Trang 419 *
device

Phật bảo Ma-nạp:
“Có người không thể chứng đắc đầy đủ minh hành vô thượng, do bởi thực hành bốn phương tiện.76 Những gì là bốn? Ma-nạp, hoặc có người không thể đạt được đầy đủ minh hành vô thượng, nhưng vác rựa, ôm lồng,77 đi vào rừng tìm thuốc, ăn rễ cây. Đó là không thể đạt được minh hành vô thượng mà hành phương tiện thứ nhất. Thế nào, Ma-nạp, phương tiện thứ nhất này, ngươi và thầy các ngươi có làm không?”
Đáp: “Không.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không hay biết chân ngụy, lại cứ phỉ báng, khinh mạn Thích tử, tự gieo mầm tội lỗi, nuôi lớn gốc rễ địa ngục.
“Lại nữa, Ma-nạp, không thể đạt được thành tựu minh hành vô thượng, mà tay cầm bình nước rửa, vác gậy toán thuật,78 vào núi rừng, ăn trái cây tự rụng. Ma-nạp,
đó là không được thành tựu minh hành vô thượng mà hành phương tiện thứ hai. Thế nào, Ma-nạp, ngươi và thầy ngươi có hành pháp này chăng?”
Đáp: “Không.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chân ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn Thích tử, tự gieo mầm ác, nuôi lớn gốc [87a] địa ngục lâu dài.
“Lại nữa, Ma-nạp, không thể thành tựu minh hành vô thượng, mà bỏ lối hái thuốc và lượm trái cây rụng trên đây, trở về thôn xóm, sống nương
________________
76 Hán: nhi hành tứ phương tiện 而行四方便. Pl.: cattāri apāyamukhāni bhavanti, có bốn phương diện tổn thất. Bản hán đọc là upāya (phươngtiện) thay cho apāya (tổn thất, đọa xứ). Cf. D.i. 101: anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni, bốn cửa ngõ dẫn đếnsự thoái thất minh hành túc vô thượng.
77 Hán: trì chước phụ lung 持斫負籠. Pl.: kuddāla-piṭakaṃ ādāya,mang theo cuốc và giỏ. Trong bản Pl., đây là tổn thất thứ hai.
78 Hán: thủ chấp tháo bình, trì trượng toán thuật 手執澡瓶持杖算術, Pl.: khāri- vividhaṃ ādāya, mang cán cân hay đòn gánh, chỉ dụng cụ của đạo sĩ. Sớ giải Pāli: ettha khārīti araṇī kamaṇḍalu sujādayotāpasaparikkhārā, ở đây khāri chỉ cho các tư cụ của khổ hành giảnhư que dùi lửa, bình nước, thìa gỗ, v.v. Trong bản Pāli, đây là một phần thực hành của tổn thất thứ nhất.

* Trang 420 *
device

người đời, cất am tranh, ăn lá cây, lá cỏ.79 Ma-nạp, đó là không được thành tựu minh hành vô thượng mà thực hành phương tiện thứ ba. Thế nào, Ma-nạp, ngươi và thầy ngươi cóhành pháp này chăng?”
Đáp: “Không.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chân ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn Thích tử, tự gieo mầm ác, nuôi lớn gốc địa ngục lâu dài.
“Lại nữa, Ma-nạp, không được thành tựu minh hành vô thượng, nhưng không ăn cỏ thuốc, không ăn trái cây rụng, không ăn lá cỏ, mà dựng nhà gác to lớn nơi thôn xóm thành ấp. Những người đi đường từ Đông sang Tây ngang qua đó đều được cấp dưỡng tùy khảnăng. Đó là không được vô thượng mà thực hành phương tiện thứ tư. Thế nào, Ma-nạp, ngươi và thầy ngươi có hành pháp ấy không?”
Đáp: “Không.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chân ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn Thích tử, tự gieo mầm tội, nuôi lớn gốc địa ngục.
“Thế nào, Ma-nạp, các Bà-la-môn kì cựu, và các tiên nhân, với nhiều kỹ thuật, tán thán, xưng tụng những điều mình học tụng, như nay những điều được các người Bà-la- môn tán thán, ca ngợi. Đó là: 1. A-tra-ma, 2. Bà-ma, 3. Bà-ma-đề-bà, 4. Tỉ-ba-mật-đa, 5. Y-đâu- lâu-tất, 6. Dabà- đề-già, 7. Bà-bà-bà-tất-tra, 8. Ca-diệp, 9. A-lâu-na, 10.Cù-đàm, 11. Thủ-di-bà, 12. Tổn-đà-la.80 Các đại Tiên, Bà-la-môn này, có đào hào, xây dựng nhà gác, nhưchỗ mà thầy trò ngươi đang ở không?”
Đáp: “Không.”
“Các Đại Tiên ấy có dựng thành quách vây quanh nhàcửa, rồi ở
_____________
79 Bản Pl., trường hợp thứ ba: agyāgāraṃ karitvā aggiṃ paricaranto acchati, dựng Thánh hỏa đường và thờ lửa.
80 Danh sách các tiên nhân cổ đại: A-tra-ma 阿吒摩, Bà-ma 婆摩, Bà-ma- đề-bà 婆摩提婆, Tỉ-ba-mật-đa 鼻波密多, Y-đâu-lại-tất 伊兜瀨悉, Da-bà-đề-già 耶婆提伽, Bà-bà bà-tất-tra 婆婆婆悉吒, Ca-diệp 迦葉, A-lâu-na 阿樓那, Cù-đàm 瞿曇, Thủ-di-bà 首夷婆, Tổn-đà-la 損陀羅. Danh sách trong bản Pl.: Aṭṭaka, Vāmaka, Vāmadeva,Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgirassa, Bharadvāja, Vāseṭṭha, Kassapa,
Bhagu.

* Trang 421 *
device

đó, như chỗ ở của thầy trò ngươi hiện nay không?
Đáp: “Không.”
“Các Đại Tiên ấy có nằm trên giường cao, chăn đệm dày, mềm mại, như thầy trò ngươi hiện nay không?”
Đáp: “Không.”
“Các Đại Tiên kia có tự mình vui thú với vàng, bạc, chuỗi anh lạc, tràng hoa nhiều màu, và mỹ nữ, nhưthầy trò ngươi hiện nay không? Các Đại Tiên kia cóđi xe báu, cầm gậy sắt dẫn đường, che đầu bằng lọng trắng, tay cầm phất báu, mang guốc báu nhiều màu, lại bận toàn lụa trắng, như thầy trò ngươi hiện nay đang mặc không?”
Đáp: “Không.”
“Ma-nạp, ngươi tự mình thấp hèn, không rõ chân ngụy, mà [87b] lại phỉ báng, khinh mạn Thích tử, tựgieo mầm tội, nuôi lớn gốc địa ngục.
“Thế nào, Ma-nạp, như các Đại Tiên, các Bà-la-môn kì cựu kia, như A-tra-ma, tán thán, đề cao những gìmà họ vốn đọc tụng, nay những điều được các Bà-la-môn tán thán, đề cao cũng giống như vậy. Nếu truyền những điều ấy, để dạy vẽ người khác, mà muốn sinh lên Phạm thiên, không có trường hợp đó. Cũng như, này Ma-nạp, vua Ba-tư-nặc cùng nói chuyện với người khác, hoặc cùng bàn luận với các vua, hoặc với đại thần, Bà-la-môn, Cư sỹ, mà những người nhỏ mọn khác nghe được, bèn vào thành Xá-vệ, gặp người, liền thuật chuyện vua Ba-tư-nặc có nói như vậy. Thế nào, Ma-nạp, vua có cùng bàn luận với người ấy không?”
Đáp: “Không.”
“Ma-nạp, người đọc thuộc lời vua cho những người khác nghe, há có thể làm đại thần cho vua được chăng?”
Đáp: “Không có chuyện ấy.”
“Ma-nạp, ngươi ngày nay truyền lời của Đại Tiên đời trước, Bà-la-môn kì cựu, đọc tụng, dạy cho người, màmuốn sinh Phạm thiên, không có chuyện ấy.
“Thế nào, Ma-nạp, các ngươi tiếp nhận sự cúng dường của người có thể tùy pháp mà thực hành được chăng?”
Đáp: “Đúng như vậy, Cù-đàm, nhận cúng dường của người khác thì phải như pháp mà hành.”

* Trang 422 *
device

“Ma-nạp, thầy ngươi Phất-già-la-sa-la nhận phong ấp của vua, nhưng khi cùng nghị luận với vua Ba-tưnặc, lại nói những lời vô ích mà vua không nên bàn đến, không đem sự việc chân chính mà cùng bàn luận,cùng khuyên nhủ. Ngươi nay tự mình xem xét lỗi lầm của thầy ngươi và của chính ngươi; nhưng hãy gác qua chuyện ấy, mà nên tìm hiểu nguyên nhân ngươi đến đây.”
Ma-nạp liền ngước mắt lên nhìn thân của Như Lai, tìm các tướng tốt. Thấy đủ các tướng khác, duy chỉhai tướng không thấy, trong lòng hoài nghi. Bấy giờ, Thế Tôn thầm nghĩ: “Nay Ma-nạp này không thấy hai tướng nên sinh nghi ngờ như thế.” Ngài bèn cho ra tướng lưỡi rộng dài, liếm đến tai, phủ kín mặt. Lúc ấy, Ma-nạp còn nghi ngờ một tướng nữa. Thế Tôn lại nghĩ: “Nay Ma-nạp này vẫn còn nghi ngờ một tướng nữa.” Ngài bèn dùng thần lực khiến cho duy chỉ Ma-nạp thấy được tướng mã âm tàng. Ma-nạp thấy đủ các tướng rồi, không còn hồ nghi gì nơi Như Lai nữa, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, vòng quanh Phật rồi đi.
Khi ấy, Bà-la-môn Phất-già-la đứng ngoài cửa, từ xa trông thấy đệ tử đang đi đến, bèn đón lại, hỏi rằng:
“Ngươi xem Cù-đàm có thật đủ các tướng không? Công đức thần thông có thật như lời đồn không?”
Ma-nạp tức thì bạch thầy rằng:
“Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba mươi hai tướng. Công đức thần lực đều như tiếng đồn.”
Thầy lại hỏi:
“Ngươi có [87c] bàn luận ý nghĩa gì với Cù-đàm không?”
Đáp: “Thật con có trao đổi qua lại với Cù-đàm.”
Thầy lại hỏi:
“Ngươi với Cù-đàm thảo luận chuyện gì?”Bấy giờ Ma-nạp kể hết câu chuyện cùng Phật luận bàn. Vị thầy bèn nói:
“Ta có người đệ tử thông minh như vậy, lại khiến xảy ra như vậy! Chúng ta chẳng bao lâu sẽ đọa địa ngục!
Vì sao? Lời nói của ngươi, vì muốn hơn mà kích bác Cù-đàm, khiến cho ông ấy không vui lòng, đối với ta lại càng thêm sợ. Ngươi được coi là đệ tử thông minh
mà khiến đến mức ấy, thì khiến ta vào địa ngục sớm.”
Thế rồi người thầy ấy lòng rất tức giận, bèn đạp Ma-nạp té xuống đất,

* Trang 423 *
device

và ông tự mình đánh xe lấy. Ma-nạp kia khi vừa té xuống đất thì toàn thân nổi vảy trắng.81Khi ấy Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la ngước nhìn mặt trời, nghĩ thầm rằng: “Nay không phải là lúc thăm viếng Sa-môn Cù-đàm. Ta hãy chờ sáng mai rồi đi thăm hỏi.”
Sáng hôm sau, ông thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm đệ tử tùy tùng, đi đến rừng Y-xa; đến nơi, xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Ông ngước nhìn thân Như Lai, đầy đủ các tướng, duy thiếu hai tướng. Bà-la-môn do đó có ýnghi ngờ về hai tướng. Phật biết ý nghĩ của ông, bèn làm lộ tướng lưỡi rộng dài, liếm đến tai và phủ kín mặt. Bà-la-môn lại còn nghi ngờ một tướng nữa. Phậtbiết ý nghĩ của ông, bèn dùng thần lực, khiến cho thấytướng mã âm tàng. Bà-la-môn khi thấy đủ ba mươi hai tướng của Như Lai, trong lòng khai ngộ, không còn hồ nghi, liền bạch với Phật rằng:
“Nếu khi đi giữa đường mà gặp Phật, tôi dừng xe một lát, mong Ngài biết cho là tôi đã kính lễ Thế Tôn. Vì sao? Tôi nhận được phong cho thôn này. Nếu tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, và tiếng xấu đồn khắp.”
Ông lại bạch Phật:
“Nếu tôi xuống xe, cởi kiếm, lui tàn lọng, và dẹp bỏgiải phướn, bình nước rửa và giày dép, nên biết ấy làtôi đã lễ kính Như Lai. Vì sao? Tôi nhận được phong cho thôn này. Nếu tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, vàtiếng xấu đồn khắp.”
Lại bạch Phật:
“Nếu ở giữa đám đông, thấy Phật mà tôi đứng dậy, hoặc trật áo bày vai phải, tự xưng tên họ, nên biết, ấy là tôi đã lễ kính Như Lai. Vì sao? Tôi nhận được phong cho thôn này. Nếu tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, và tiếng xấu đồn khắp.”
Lại bạch Phật:
“Tôi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin nhận tôi làm ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Từ nay về sau, tôi không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu. Cúi [88a] mong Thế Tôn cùng các Đại chúng nhận lời mời của tôi.”
_______________
81 Bạch lại 白癩.

* Trang 424 *
device

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Bà-la-môn thấy Phật im lặng, biết Ngài đã hứa khả, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, bất giác lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi. Về nhà, ông sửa soạn thức ăn. Sau khi bày biện mâm cỗ xong, ông quay trở lại thưa: “Đã đến giờ.”
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y, ôm bát cùng với đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi vị đi đến nhà ông ấy, rồi ngồi lên chỗ soạn sẵn.
Lúc ấy, Bà-la-môn tự tay chăm chước thức ăn, cúng Phật và Tăng các thứ ngon ngọt. Ăn xong, dẹp cất bát, dùng nước rửa xong, Bà-la-môn tay phải nắm cánh
tay đệ tử là A-ma-trú đến trước Thế Tôn bạch rằng:
“Cúi mong Thế Tôn nghe lời hối lỗi của nó.”
Nói như vậy ba lần, rồi lại bạch Phật:
“Cũng như voi, ngựa đã được huấn luyện khéo; người này cũng vậy, tuy có sơ suất, cúi mong Ngài nhận lời hối lỗi.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Cầu cho ngươi thọ mạng dài lâu, đời này an ổn. Mong cho chứng vảy trắng của đệ tử ngươi được trừ.”
Phật nói vừa xong, người đệ tử kia liền khỏi chứng vảy trắng.
Rồi thì, Bà-la-môn lấy một cái giường nhỏ để trước Thế Tôn. Thế Tôn bèn nói pháp cho Bà-la-môn, khaithị, giáo huấn, khiến cho được ích lợi, hoan hỷ. Ngài
giảng về thí, giới, sinh thiên, dục là ô uế, là hữu lậu, làtai hoạn, xuất yếu là trên hết, diễn bày thanh tịnh. Khi Thế Tôn biết tâm người Bà-la-môn đã nhu nhuyến,
thanh tịnh, không cáu bẩn, có thể nhận lãnh đạo giáo; như thường pháp của chư Phật, Ngài nói Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ xuất
yếu Thánh đế. Bà-la-môn lúc ấy ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh, cũng như tấm lụa trắng tinh dễ nhuộm màu, Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la cũng vậy, thấy pháp, đắc pháp, quyết định đạo quả, không còn tin ở đạo khác, được vô sở úy, tức thìbạch Phật rằng:
“Con nay ba lần xin quy y Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Xin nhận con làm ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm, không
dối, không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn cùng Đại chúng thương tưởng con, nhận lời mời bảy ngày.”
Thế Tôn im lặng nhận lời. Bà-la-môn tức thì trong bảy ngày cúng dường Phật và Đại chúng đủ các thứ. Bấy giờ, qua bảy ngày, Thế Tôn

* Trang 425 *
device

lại du hành nhân gian. Phật đi chưa bao lâu, Phất-già-la-sa-la ngộ bệnh, mạng chung. Các Tỳ-kheo nghe Bà-la-môn này sau khi cúng dường Phật trong bảy ngày, sau đó mạng chung, bèn tự nghĩ thầm: Người này mạng chung, sinh vào cõi nào? Rồi chúng Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, lễ Phật xong, ngồi sang bên, bạch Phật rằng:
“Bà-la-môn sau khi cúng dường Phật suốt bảy ngày thì thân hoại mạng chung. Người ấy sinh vào chỗ nào?”
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Tộc tính tử ấy đã tập hợp rộng rãi các điều thiện, đầy đủ pháp và tùy pháp, không trái pháp hành, đoạn trừnăm hạ phần kết, Niết-bàn ở nơi kia,82 không trở lại
đời này nữa.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.83
______________
82 Chỉ trường hợp Thánh giả Bất hoàn tái sinh lên Tịnh cư thiên vànhập Niết-bàn tại đó.
83 Bản Hán, hết quyển 13.

* Trang 426 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1