LOGO VNBET
21. KINH PHẠM VÕNG1
 
[88b13] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành đến nước Ma-kiệt,2 cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, du hành nhân gian, đến Trúc Lâm,3 nghỉ đêm tại nhà của
Vua.4
Lúc bấy giờ có vị Phạm-chí tên là Thiện Niệm5 vàđệ tử tên là Phạm-ma-đạt;6 hai thầy trò thường cùng đi theo sau Phật, mà Phạm-chí Thiện Niệm thì dung vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Tỳ-kheoTăng, đệ tử Phạm-ma-đạt thì bằng vô số phương tiện tán thán Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy tròmỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống trái nhau. Vìsao vậy? Ấy là do xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt.
Bây giờ, số đông Tỳ-kheo sau khi khất thực về, nhóm tại giảng đường, bàn câu chuyện như sau:
“Kì diệu thay, hy hữu thay! Thế Tôn có đại thần lực, đầy đủ oai đức, biết hết mọi xu hướng của chúng sinh. Nhưng nay có hai thầy trò Thiện Niệm cùng đi theo sau Phật và chúng Tăng, mà Phạm-chí Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp vàTỳ-kheo Tăng. Đệ tử Phạm-ma-đạt thì bằng vô sốphương tiện tán thán Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy trò mỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống Trái
___________________
* 第三分梵動經第二
1 Nguyên Hán: Phạm động 梵動. Nhưng từ Phạm võng 梵網được biết rộng rãi hơn. Hán dịch ở đây có lẽ đọc Brahmacala, thay vì Brahmajala. Xem Tì-bà-sa 8, 98, 126, 199; Du-già 64; Đại trí độ 4.
2 Ma-kiệt 摩竭. Pl.: Magadha. T 21: Phật ở nước Câu-lưu 俱留國.
3 Để bản: Trúc Lâm 竹林. TNM: Trúc Thôn 竹村. D. 1: Phật đang đi trên con đường giữa Rājagaha (thủ phủ của Magadha) vàNalandā.
4 Hán: tại vương đường thượng 在王堂上. D1.: tại Ambalatthikā, trong nhà nghỉ của vua.
5 Phạm chí Thiện Niệm 梵志善念. Pl.: Supiyo paribbājako. T 21: Dịđạo Tu-ti 異道人須卑.
6 Phạm-ma-đạt 梵摩達. Pl.: Brahmadatta. T 21. Phạm-đạt ma-nạp 梵達摩納.

* Trang 427 *
device

nhau vì do xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt vậy.”
Bấy giờ, Thế Tôn đang ở trong tịnh thất, bằng thiên nhĩ thanh tịnh quá hơn người thường, nghe các Tỳ- kheo đang luận bàn như thế, liền rời khỏi tịnh thất, đi đến giảng đường, ngồi trước đại chúng. Tuy đã biết Ngài vẫn hỏi:
“Này các [88c] Tỳ-kheo, do nhân duyên gì mà các ông nhóm lại đây và đang bàn luận câu chuyện gì?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Chúng con sau khi khất thực về, tập họp ở giảng đường này và cùng bàn luận như vầy: ‘Kì diệu thay, hy hữu thay! Thế Tôn có đại thần lực, đầy đủ oai đức, biết hết mọi xu hướng của chúng sinh. Nhưng nay có hai thầy trò Thiện Niệm cùng đi theo sau Phật và Chúng Tăng,mà Phạm-chí Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Đệ tử Phạmma- đạt thì bằng vô số phương tiện tán thán Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy trò mỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống trái nhau vì do xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt vậy.’”
Thế Tôn bèn nói với các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, nếu có ai dùng phương tiện hủy báng Như Lai, hủy báng Chính pháp và chúng Tăng, các ngươi không nên ôm lòng phẫn nộ, có ý nghĩ ác hại đối với người ấy. Vì sao vậy? Vì nếu có ai dung phương tiện hủy báng Như Lai, hủy báng Chính pháp và chúng Tăng mà các ngươi ôm lòng phẫn nộ, có ýnghĩ ác hại đối với người ấy thì tự các ngươi đã tựhãm nịch rồi. Vì vậy các ngươi không nên ôm long oán giận hay có ý nghĩ ác hại đối với người ấy.
“Này các Tỳ-kheo, nếu có ai khen ngợi Phật, Pháp, vàchúng Tăng, các ngươi cũng vội chớ lấy điều đó làm vui mừng, hãnh diện. Vì sao vậy? Vì nếu các ngươi
sinh tâm vui mừng là đã bị hãm nịch rồi. Do đó các ngươi không nên vui mừng. Tại sao thế? Vì đó chỉlà duyên cớ nhỏ nhặt về oai nghi giới hạnh, mà hàng phàm phu ít học, không thấu rõ thâm nghĩa, chỉ bằng vào sở kiến để tán thán một cách chân thật.
“Thế nào là duyên cớ nhỏ nhặt về oai nghi giới hạnh, mà hàng phàm phu ít học, không thấu rõ thâm nghĩa, chỉ bằng vào sở kiến để tán thán một cách chân thật?

* Trang 428 *
device

“Người ấy tán thán rằng7 Sa-môn Cù-đàm đã bỏnghiệp sát, dứt nghiệp sát, xả bỏ dao gậy, có tàm quí, có tâm thương xót hết thảy. Đó chỉ là duyên cớ nhỏnhặt về oai nghi giới hạnh mà hàng phàm phu ít học dựa lấy để tán thán Như Lai.
“Lại tán thán rằng: Sa-môn Cù-đàm đã bỏ sự lấy của không cho, dứt trừ sự lấy của không cho, không cótâm trộm cắp.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ sự dâm dục, tịnh tu phạm hạnh, một mực giữ giới, không tập hành dâm dật, sở hành tinh khiết.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ nói dối, mà nói lời nói chíthành, nói điều chân thật, không dối gạt người đời.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ nói hai lưỡi, không đem lời người này đến phá rối người kia, đem lời người kia đến phá rối người này, gặp kẻ tranh tụng làm cho hòa hiệp, kẻ đã hòa hiệp làm cho vui thêm, nói ra lời gì cũng cốt đem đến sự hòa hiệp, thành thật đưa vào lòng người và nói phải lúc.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ [89a] ác khẩu. Những lời thô lỗ nào mà thương tổn đến người, tăng thêm mối hận, kéo dài mối thù; những lời như vậy đều không nói. Thường nói lời hay, đẹp lòng người, ai cũng ưa, nghe không chán. Chỉ nói những lời như vậy.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ ỷ ngữ, chỉ nói phải lúc, nói thành thật, nói có lợi, nói đúng pháp đúng luật, nói để ngăn ngừa sai quấy.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ uống rượu; không trangsức hương hoa; không xem ca múa; không ngồi giường cao; không ăn phi thời; không cầm vàng bạc; không chứa vợ con, tớ trai, tớ gái; không nuôi heo ngựa, voi, dê, gà, chó, và các thứ chim muông; không chứa binh voi, binh ngựa, binh xe, binh bộ; không chứa ruộng nhà, gieo trồng ngũ cốc; không nắm quyền đánh đấm với người; không dùng cân đấu lường gạt; không mua bán, khoán ước, giao kèo; không cho vây cầm đồ lấy lãi bất chính.8 Cũng không âm mưu, trước mặt khác sau lưng khác; phi thời không đi; để nuôi sống thân, lường bụng màăn; đi đến chỗ nào thì y bát
___________________
7 Từ đây trở xuống cho hết phần về giới, nội dung đồng nhất với kinh “A-ma-trú”, nhưng văn dịch nhiều chỗ bất nhất.
8 Hán: khoán yếu đoán đương, thủ thọ để trái, hoạnh sinh vô đoan 券要斷當… 取受觝債橫生無端. A-ma-trú: bất để trái, bất vu võng 不觝債不誣網.

* Trang 429 *
device

mang theo như chim không lìa hai cánh. Nhưng đó cũng chỉ là nhân duyên nhỏ nhặt về sự trì giới mà hàng phàm phu ít học nương lấy để tán thán Như Lai.9
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác dầu đã nhận của tín thí vẫn tìm cách tích trữ y phục, ẩm thực không hềbiết chán. Sa-môn Cù-đàm không như vậy.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng vẫn kinh doanh sinh kế, trồng cây, gieo giống.10 Còn Sa-môn Cù-đàm không có việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của ngườtín thí nhưng vẫn tìm phương tiện mong cầu lợi dưỡng, chứa ngà voi tạp bảo, ghế giường cao rộng, thảm thêu, đệm bông, chăn len các thứ thêu thùa. Sa-môn Cù-đàm không có việc ấy.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí nhưng vẫn tìm phương tiện để trang sức, dùng dầu mỡ thoa mình, nước thơm tắm gội, bột thơm xông ướp, chải đầu thơm láng, hoặc mang tràng hoa đẹp, nhuộm mắt xanh biếc, tô điểm mặt mày, xâu bông tai, soi gương, mang dép da quí, mặc áo trắng mịn, che dù, cầm phất lọng, trang sức cờ hiệu, còn Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác chuyện trò du hí, chơi cờ, đánh bạc, cờ tám đường, mười đường cho đến trăm ngàn đường, đủ các trò chơi. Sa-môn Cùđàm
không như vậy.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy [89b] ăn của người tín thí, nhưng vẫn nói lời vô ích chướng ngại đạo,11 hoặc bàn việc vua chúa, quân mã, chiến đấu, việc quan liêu đại thần, xe ngựa ra vào, dạo chơi vườn rừng, và luận việc nữ nhân, nằm ngồi đi đứng, việc y phục, ăn uống, thân thích; lại nói chuyện vào biển tìm châu báu. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã nhận thức ăn của tín thí, bằng
________________
9 Dứt phần tiểu giới (Pl. cūḷasīla).
10 Hán: chủng thực thọ mộc quỷ thần sở y 種植樹木鬼神所依, trồng các thứ cây cối có quỷ thần ở. Dịch nghĩa đen của từ Pl.: bhūta-gāma (Skt. bhūta-grama), thôn xóm quỷ thần; nghĩa thực chỉ các loại thực vật, cây cỏ.
11 Hán: vô ích già đạo chi ngôn 無益遮道之言. Pl.: tiracchānakāham, súc sinh luận, chuyện thú vật, chuyện vô ích, không ích lợi chosự tu đạo.

* Trang 430 *
device

vô số phương tiện, làm điều tàmạng, chuốt lời dua nịnh, gợi ý, chê bai,12 lấy lợi cầu lợi. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng cùng nhau tranh cãi, hoặc nơi vườn rừng, hoặc ở ao tắm, trong nhà, thị phi lẫn nhau, rằng: ‘Ta biết kinh luật, ngươi không biết gì; ta đi đường chính, ngươi đi đường tà, đem trước để sau, lấy sau đểtrước; ta nhẫn ngươi được, ngươi không nhẫn được; ngươi nói điều gì đều không chính đáng; nếu có nghi ngờ hãy đến hỏi ta, ta đáp cho cả.’ Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã ăn của tín thí, nhưng tìm đủ phương tiện làm thông sứ cho vua, đại thần, Bà-la-môn, Cư sỹ; đi từ đây đến kia, từ kia đến đây; đem tin qua lại, hoặc tự làm, hoặc dạy người làm. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã ăn của tín thí, nhưng lo luyện tập chiến trận, đấu tranh, đao gậy cung tên, chọi gà, chó, heo, dê, voi, ngựa, trâu, lạc đà.
Hoặc đấu tài trai gái, hoặc luyện các thứ tiếng, tiếng thổi, tiếng trống, tiếng ca, tiếng múa, luyện các trò kỹthuật, leo cột phướn, leo xuôi leo ngược. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.13
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như xem tướng trai gái tốt xấu, lành dữ,
xem tướng súc sinh, để cầu lợi dưỡng. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như kêu gọi quỷ thần, hoặc lại đuổi
đi, các thứ ếm đảo, vô số phương đạo, làm người khiếp sợ; có thể tụ, có thể tán; có thể làm cho khổ, có thể làm cho vui; có thể an thai, trục thai; hoặc phùchú người ta hóa làm lừa, ngựa; có thể khiến người điếc, đui, câm, ngọng; hiện các kỹ thuật; hoặc chắp tay hướng về mặt trời, mặt trăng; hành các khổ hạnh để [89c] cầu lợi dưỡng. Sa-môn Cù-đàm không có các việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy; hoặc vì người mà chú đảo bệnh tật, đọc ác thuật, tụng thiện chú; làm thuốc thang, châm
__________________
12 Hán: hiện tướng hủy thụ 現相毀呰; Pl.: nemittikā ca nippesikā.
13 Dứt phần trung giới (majjhimasīla).

* Trang 431 *
device

chích, trị liệu bệnh tật. Sa-môn Cù-đàm không có việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo,14 sinh hoạt bằng tàmạng: hoặc chú15 nước lửa, hoặc chú quỷ thần,16 hoặc chú Sát-lị, hoặc chú voi, hoặc chú chân tay,17 hoặc bùachú an nhà cửa; hoặc giải chú lửa cháy, chuột gặm; hoặc đọc sách đoán việc sống chết; hoặc đọc sách giải mộng; hoặc xem tướng tay, tướng mặt; hoặc đọc sách thiên văn; hoặc đọc sách hết thảy âm.18 Sa-môn Cù-đàm không có những việc ấy.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, hành pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tàmạng: xem tướng thiên thời, nói có mưa hay không
mưa, thóc quý hay thóc rẻ, nhiều bệnh hay ít bệnh, kinh sợ hay an ổn; hoặc dự đoán đất động, sao chỗi, nhật thực, nguyệt thực, tinh tú thực, hay không thực, phương hướng ở đâu;19 thảy đều ghi nhận cả. Samôn Cù-đàm không có các việc ấy.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tà mạng: hoặc nói nước này sẽ thắng, hoặc nói
nước này chẳng bằng; xem tướng tốt xấu, bàn chuyện thịnh suy. Sa-môn Cù-đàm không có việc ấy.
“Các Tỳ-kheo, đấy chỉ là nhân duyên trì giới nhỏ nhặt, mà phàm phu ít học kia dựa vào để khen Phật.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, duy chỉ
______________________
14 Hán: hành già đạo pháp 行遮道法. Pl.: tiracchāna-vijjāya, bằng học thuật vô ích (súc sinh minh).
15 Các khoa chú được kể, Pl.: vijjā, môn học, ngành học; cũng cónghĩa chú thuật (minh chú).
16 Quỷ thần chú 鬼神咒; môn học liên quan đến quỷ thần; ma thuật. Pl.: bhūtavijjā; Sớ giải: bhūtavejjamanto, chú thuật chữa trị các thứ bệnh quỷ thần ám.
17 Hán: chi tiết chú 支節咒; Pl.: aṅga-vijjā, chú (khoa học về) chân tay. Sớ giải: sau khi xem thấy xương ngón tay bèn luận đoán ‘người này là con nhà gia thế, hay không phải; vinh quang hay không.’
18 Hán: nhất thiết âm thư 一切音書. Có lẽ Pāli: saraparitta, Sớgiải: sararakkhaṇaṃ, chú hộ mạng, cứu hộ bằng âm vận.
19 Phương diện sở tại 方面所在. Chưa xác định nghĩa. Gần tương đương Pl.: disāḍāha, lửa cháy ở các phương. Sớ giải: disākālusiyaṃ aggisikhadhūmasikhādihi ākulabhāvo, phươngtrời bị bao phủ bởi chóp lửa, hay chóp khói các thứ.

* Trang 432 *
device

đệ tử Hiền Thánh mới có thể tán thán Như Lai bằng pháp này. Thế nào là pháp đại quang minh, mà đệ tử Hiền Thánh tán thán Như Lai ? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y vào bản kiếp bản kiến,20 mạt kiếp mạt kiến,21 mà tùy ý lập thuyết với vô số trường hợp khác nhau. Tất cả được tóm thâu vào trong sáu mươi hai kiến. Bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp khác nhau, tùy ý lập thuyết, không thể vượt ra ngoài sáu mươi hai kiến. Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, do duyên gì, y vào bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, mà tùy ý lập thuyết với vô số trường hợp khác nhau; tất cả được tóm thâu vào trong sáu mươi hai kiến; chỉ chừng ấy, không hơn?
(i) “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, với vôsố trường hợp khác nhau, mỗi người tùy ý lập thuyết; tất cả được thâu tóm [90a] trong mười tám trườnghợp.22 Các Sa-môn, Bà-la-môn ấy do duyên gì, y bản kiếp bản kiến, với vô số trường hợp khác nhau, tùyý lập thuyết, tất cả được thâu tóm trong mười tám trường hợp; chừng ấy không hơn?
(i.1) “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào y bản kiến khởi thường luận,23 nói rằng: ‘Bản ngã và thế giới thường tồn.’ Tất cả thuyết này được thâu tóm vào trong bốn
trường hợp. Y bản kiếp bản kiến mà nói: ‘Bản ngã vàthế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm vào trong bốn trường hợp; chừng ấy không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên gì, y bản kiếp bản kiến, khởi thường trú luận, nói rằng, ‘bản ngã vàthế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm trong bốn
trường hợp, chừng ấy không hơn?
(i.1.a) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp. Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô số phương tiện tinh cần mà nhập tâm định. Với tâm định tĩnh ấy, tôi nhớ lại hai mươi thành kiếp vàhoại kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không
_____________________
20 Bản kiếp bản kiến 本劫本見, quan điểm về khởi nguyên của thế giới dựa kiếp quá khứ, nguyên thủy sáng thế luận. D1.: pubbantakappikā pubbantādiṭṭhino.
21 Mạt kiếp mạt kiến 末劫末見, thế mạt luận. D1.: aparanta-kappikāaparanta-diṭṭhiṃ.
22 Hán: kiến 見. Pl.: vatthu, sự vật, cơ sở.
23 Hán: thường luận 常論. Pl.: sassata-vādā, thuyết thường hằng, vĩnh cửu.

* Trang 433 *
device

giảm, thường tụ hội, không tán.24 Tôi vì thế mà biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểmthứ nhất. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bảnkiến chủ trương bản ngã và thế giới thường tồn, thuộc trong bốn quan điểm, chừng ấy không hơn.
(i.1.b) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp. Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vôsố phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, tôi nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không giảm, thường tụ, không tán. Tôi vì thế mà biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là trường hợp điểm thứ hai. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủtrương bản ngã và thế giới thường tồn, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
(i.1.c) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại kiếp.25Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vôsố phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, tôi nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không giảm, thường tụ, không tán. Tôi [90b] vì thế mà biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ ba. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủtrương bản ngã và thế giới thường trú, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
(i.1.d) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệnhạy bén, có năng lực quán sát khéo, và bằng trí tuệnhạy bén ấy, phương tiện quán sát, nghĩa là suy xét
kỹ, rồi bằng những điều mà mình đã thấy, và bằng tài biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thếgian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ tư. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó đối với bản kiếp bản
_________________
24 Cf. D1 (i 14): so evaṃ āha: sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito, te ca sattā sandhāvanti saṃsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisamaṃ... Vị ấy nói: “Bản ngã và thếgiới là vĩnh hằng, không sinh sản (như thạch nữ), đứng thẳng, bấtđộng như trụ đá. Các chúng sinh trong đó lưu chuyển, luân hồi,chết rồi tái sinh, tuy nhiên chúng vẫn thường tồn.”
25 Trong bản Pl., ba trình độ nhớ thành ba quan điểm thường tồn: 1. Nhớ từ một đời cho đến trăm nghìn đời. 2. Nhớ từ một cho đến mười thành kiếp hoại kiếp. 3. Nhớ cho đến bốn mươi thành kiếp hoại kiếp.

* Trang 434 *
device

kiếp bản kiến chủtrương ‘bản ngã và thế gian thường tồn’, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này26được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy, và cũngbiết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng không chấp trước. Do không chấp trước nên được tịch diệt.27 Biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sựxuất yếu của thọ, bằng chính quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
“Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thểtán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng.28
(i.2)“Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể tán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
“Một số Sa-môn, Bà-la-môn y bản kiếp bản kiến đềlên luận thuyết rằng ‘Bản ngã và thế gian, một nửa thường hằng và một nửa không thường hằng.’29Các Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó đối với bản kiếp bản kiến chủ trương bản ngã và thế gian một nửa thườnghằng và một nửa không thường hằng, đều thuộc trong bốn trường hợp này; chừng ấy không hơn.
(i.1.a)“Hoặc có một thời gian, kiếp này bắt đầu chuyển thành.30 Một số chúng sinh khác phước hết, mạng dứt, hành dứt, từ trời Quang âm31 mạng chúng sinh vào Phạm thiên trống không,32 tức thì ở nơi ấy nó sinh
__________________
26 Hán: kiến xứ 見處; Pl.: diṭṭhiṭṭhānā.
27 Pl.: aparāmasato c’ assa paccattaṃ yeva nibbuti viditā, do không thủ trước nên nội tâm tịch tĩnh.
28 Pl.: yathābhuccaṃ… sammā.
29 Hán: bán thường bán vô thường 半常半無常. Pl.: ekaccaṃsassataṃ ekaccaṃ asassataṃ.
30 Trong bản Pl., trước đoạn này có một đoạn nói về thế giới chuyển hoại (ayaṃ loko saṃvaṭṭati).
31 Quang âm thiên 光音天(Cực quang thiên). Pl.: Ābhassara. T 21: A-vệ-hóa-la thiên 阿衛貨羅天.
32 Không Phạm thiên 空梵天. Pl.: suññaṃ brahmaṇavimānaṃ, cung điện Phạm thiên trống không.

* Trang 435 *
device

tâm yêu thích,33 lại ước nguyện có các chúng sinh khác cùng sinh đến chỗ này. Chúng sinh này sau khi sinh tâm yêu thích và có ước nguyện như vậy rồi, lại có các chúng sinh khác mà mạng, hành và phước đều hết, chết ở trời Quang âm sinh đến Phạm thiên trống không. Chúng sinh này bèn nghĩ: ‘Ở đây, Ta là Phạm, Đại phạm. Ta tự nhiên hiện hữu, không có ai tạo ra ta. Ta biết hết thảy nghĩa thú.34 Ta tự tại trong một nghìn thế giới, là tôn quý bậc nhất, cókhả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là tổ phụ của chúngsinh, độc nhất mình ta hiện hữu trước nhất. Chúng sinh khác [90c] đến sau. Chúng sinh đến sau này đều do ta hóa thành.’ Chúng sinh sinh đến sau kia lại có ý nghĩ như vầy: ‘Vị kia là Đại Phạm. Vị kia có khả năng tự tạo, không cóai là người sáng tạo ra vị ấy. Ngài biết rõ hết nghĩa thú; tự tại trong một nghìn thế giới, tôn quý bậc nhất, có khảnăng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sinh, riêng vị ấy hiện hữu trước nhất. Chúng ta hiện hữu sau. Chúng sinh chúng ta đều do vị ấy hóa thành.’
“Chúng sinh ở Phạm thiên kia khi mạng và hành đãhết bèn sinh đến thế gian này. Rồi trưởng thành dần, và rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, cho đến nhập tâm định. Do tâm định tĩnh, người ấy tựmình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Đại Phạm kia có khả năng tự tạo; không do ai tạo ra. Ngài biết hết nghĩa thú, tự tại trong một nghìn thế giới, là tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sinh, thường hằng bất biến. Nhưng các chúng sinh do Phạm Thiên kia sáng tạo như chúng ta, chúng ta thì vô thường biến dịch, không tồn tại lâu dài. Vì vậy biết rằng bản ngã và thế gian nửa thường hằn và nửa không thường hằng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề khởi luận thuyết nửa thường hằng nửa không thường hằng, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
________________
33 Sinh ái trước tâm 生愛著心. Pl.: (…) anabhirati paritassanā upapajjati, nó buồn chán (không vui), khởi lên ước nguyện. Trong bảnHán, hình như đọc abhirati (hoan hỷ) thay vì ananbhirati.
34 Để bản: nghĩa điển 義典, nên sửa lại nghĩa thú 義趣. Xem cht. 41, kinh A-nậu-di, T 1(15). Pāli: aññadatthudaso; Pl.: aññadat thudaso; đấng thấy khắp tất cả (biến nhẫn), theo phân tích hợp từ: aññad-atthu-dasa; nhưng Hán phân tích khác: añña-da(dā)-attha-dasa. T 21: giải nghĩa 解義, cũng phân tích từ như bản
Hán này.

* Trang 436 *
device

(1.2.b) “Hoặc có chúng sinh thích vui đùa, biếng nhác,35thường36 vui đùa lấy làm thỏa thích. Các chúng sinh ấy khi vui đùa thỏa thích, thân thể mệt mỏi, bèn thất ý.37 Do thất ý mà mạng chung, sinh đến thế gian; tuổi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-muội, do với tâm định tĩnh, tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Các chúng sinh còn lại kia do không vui đùa thỏa thích nhiều nên thường trú ở chỗ kia. Ta do vui đùa thỏa thích nhiều nên phải chịu vô thường, là pháp biến dịch. Vì vậy, ta biết rằng: bản ngã và thế gian nửa thường hằng nửa không thường hằng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’Đó là trường hợp thứ hai; Sa-môn Bà-la-môn nhân đó đối với bản kiếp bản kiến đề khởi luận thuyết rằng bản ngã và thế giới nửa thường nửa vô thường; thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.2.c) “Hoặc có chúng sinh sau khi dòm ngó nhau, liền thất ý.38 Do thất ý mà mạng chung, sinh đến thế gian; tuổi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-muội, tùy với tâm định tĩnh, tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Các chúng sinh còn lại kia do không dòm ngó nhau nên không thất ý.
Vì vậy, chúng thường trú bất biến. Chúng ta vì thường xuyên [91a] dòm ngó nhau; sau khi dòm ngó nhau thường xuyên liền thất ý, khiến cho phải vô thường, là pháp biến dịch. Ta vì vậy biết rằng bản ngã và thếgian nửa thường hằng nửa không thường hằng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ ba, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đềxuất luận thuyết rằng bản ngã và thế giới nửa thường nửa vô thường; thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.2.d)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệnhạy bén, có năng lực quán sát khéo, và bằng trí tuệquán sát nhạy bén ấy, và bằng trí biện
__________________
35 Pl.: khiḍḍapadosikā devā, có hạng Chư Thiên được gọi là Đam mêHỷ tiếu. Cf. Câu-xá 5 (26c15): Hý vong niệm thiên 戲忘念天, một hạng Chư Thiên ở Dục giới. Xem thêm T 1(15) kinh A-nậu-di cht. 44. T 21: Có hạng trời gọi là Kỉ-đà-ba-đồ 幾陀波屠.
36 Hán: sác sác 數數; Pl.: ativelaṃ, quá lâu dài.
37 Thất ý 失意. Pl.: sati sammussati, thất niệm, mất chánh niệm, quên lãng.
38 Pl.: Có một hạng Chư Thiên gọi là manopadosikā (ý phẫn), trong một thời gian dài chúng đố kỵ lẫn nhau, do đó tâm của chúng bị ô nhiễm (te ativelaṃ aññamaññaṃ upanijhāynti … cittāni nappadūsenti). Cf. Câu-xá 5 (tr.26c15): Ý phẫn nhuế thiên 意憤恚天, một hạng ChưThiên ở Dục giới. T 21: Có hạng Chư Thiên gọi là Tán-đề 散提. Nhìn nhau mà sân hận bèn rời khỏi bản tòa.

* Trang 437 *
device

thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế gian nửa thường nửa không thường.’ Đó là quan điểm thứ tư, Sa-môn, Bà-la- môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủ trương ‘bản ngã và thế gian thường tồn’, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy, vàcũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng không bị chấp trước. Do không bị chấp trước nên được tịch diệt. Biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọ, do chính quán mà được vô dưgiải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
“Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thểtán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng.
(3) “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể tán thán NhưLai một cách chân thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
“Một số Sa-môn, Bà-la-môn y bản kiếp bản kiến đềlên luận thuyết rằng ‘Bản ngã và thế gian là hữu biên và vô biên.’39 Các Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó y bản kiếp bản kiến chủ trương bản ngã và thế gian hữu biên và vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.3.a) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy quán sát thế gian và khởi lên biên tưởng,40 nói rằng: ‘Thế gian là hữu biên.41 Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tâm định tĩnh, tôi quán sát thấy rằng thế gian có biên tế.
_______________
39 Hán: Ngã cập thế gian hữu biên vô biên 我及世間有邊無邊. Các bản Hán đều có chữ ngã. Theo văn mạch tiếp theo, chữ ngã này cóthể dư. Cf. T 21: ngã dữ thế gian hữu hạn vô hạn 我與世間有限無限. Cf. D.i. : antānantikā antānantaṃ lokassa paññapenti, những nhà biên/ vô biên luận chủ trương thế giới hữu biên/ vô biên.
40 Hán: khởi biên tưởng 起邊想. D.i. 22 ibid. yathā samāhite cite antasaññī lokasmiṃ viharati, “với tâm định tĩnh như vậy, vị ấy antrú trong thế giới với tưởng hữu biên (hữu hạn).”
41 D.i.. ibid.: antavā ayaṃ loko parivaṭumo, thế giới này có biên tế, có giới hạn (có đường viền chung quanh). Sớ giải: nhận thức thếgiới với hình ảnh phản chiếu là đường biên của vòng thiết luân (paṭibhāganimittaṃ cakkavāḷapariyantaṃ); không làm cho đường biên ấy lớn thêm, vị ấy an trú với ấn tượng hữu hạn.

* Trang 438 *
device

Vì vậy biết rằng thế gian làhữu biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thếgiới hữu biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.3.b) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy quán sát thế gian [91b] và khởi lên vô biên tưởng, nói rằng: ‘Thế gian là vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tâm định tĩnh, quán sát thấy rằng thế gian không có biên tế. Vì vậy biết rằng thế gian là hữu biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đólà trường hợp thứ hai, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đóy bản kiếp bản kiến đề xướng luận thuyết rằng bảnngã và thế giới vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.3.c)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy quán sát thế gian, thấy rằng phương trên
có biên, bốn phương không có biên,42 vị ấy nói rằng: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tâm định tĩnh, quán sát thấy phương trên có biên còn bốn phương không cóbiên. Vì vậy biết rằng thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ ba, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.3.d)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệnhạy bén, có năng lực quán sát khéo, rồi bằng trítuệ quán sát nhạy bén, và bằng trí biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế gian không phải hữu biên, không phải vô biên.’ Đó là trường hợp thứ tư, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủ trương ‘bản ngã và thế gian hữu biên hay vô biên’, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy, vàcũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng không bị chấp
________________
42 D.i.. ibid.: uddhamaddho antasaññī lokasmiṃ viharati, tiriyaṃanantasaññī, vị ấy sống trong thế gian với ý tưởng phía trên vàphía dưới hữu biên; chiều ngang vô biên.

* Trang 439 *
device

trước. Do không bị chấp trước nên được tịch diệt; biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọ, do chính quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
“Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thểtán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng.
(i.4)  “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể tán thán NhưLai một cách chân thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
“Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, được hỏi khác nhưng trả lời khác.43 Những vị ấy mỗi khi có người hỏi điều này hay điều khác, được hỏi khác, trả lời khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản [91c] kiến, hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.4.a)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết nhưvầy, quan điểm như vầy: ‘Tôi không thấy, không biết rằng thiện ác có quả báo chăng? Không có quả báo
chăng?’ Vì tôi không thấy, không biết nên nói nhưvầy: ‘Thiện ác có quả báo chăng? Không có quả báochăng? Thế gian có những Sa-môn, Bà-la-môn quảng
bác, đa văn, thông minh, trí tuệ, thường ưa nhàn tĩnh, cơ biện tinh vi, được người đời tôn trọng, có thể bằng trí tuệ phân tích khéo léo các quan điểm. Giả sử họhỏi tôi những nghĩa lý sâu sắc, tôi không thể đáp. Vìthẹn với vị ấy; vì sợ vị ấy, tôi phải dựa vào sự trả lời ấy làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà, làm cứu cánh đạo. Giả sử kia có hỏi, tôi sẽ đáp như vầy: ‘Việc này như thế. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này không khác. Việc này không phải khác, không phải không khác.’ Đó là trường hợp thứ nhất, Sa-môn, Bà-la- môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.4.b)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết nhưvầy, quan điểm như vầy: ‘Tôi không thấy, không biết có thế giới khác chăng? không có thế giới khác chăng? Trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng thiên nhãn trí, tha tâm trí, có thể thấy những việc xa xôi. Những việc ấy tuy gần người khác nhưng người khác không thấy. Những người như vậy
_________________
43 Hán: dị vấn dị đáp異問異答. Pl.: amarāvikkhepika, nhà ngụy biện (uốn lượn trườn lươn).

* Trang 440 *
device

có thể biết cóthế giới khác hay không có thế giới khác. Tôi không biết, không thấy có thế giới khác hay không có thếgiới khác. Nếu tôi nói, thì đó là nói dối. Vì ghét nói dối, sợ nói dối. Vì vậy, để làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà, làm cứu cánh đạo, giả sử kia có hỏi, tôi sẽ đáp như vầy: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này không khác. Việc này không phải khác, không phải không phải không khác.’ Đó làtrường hợp thứ hai, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.4.c)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có quan điểm nhưvầy, có luận thuyết như vầy: ‘Tôi không thấy, không biết thiện là gì, bất thiện là gì. Nếu tôi không thấy,
không biết mà nói như vầy: đây là thiện, đây là bất thiện, thì do đây tôi sinh ái, từ ái sinh sân nhuế. Có ái, có nhuế, thì có thủ44 sinh. Tôi vì muốn diệt trừ thủ nên xuất gia tu hành.’ Kia do ghét thủ, kinh sợ thủ, để làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà, làm cứu cánh đạo, nên giả sử kia có hỏi, tôi sẽ trả lời như vầy: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này không khác. Việc này không phải khác, không phải không khác.’ [92a] Đó là trường hợp thứ ba, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
(i.4.d) “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn ngu si ám độn, khi cóngười hỏi, thì tùy theo người hỏi mà trả lời rằng: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này không khác. Việc này không phải khác, không phải không khác.’ Đó là trường hợp thứ tư, Sa-môn, Bà-la- môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, hỏi khác đáp khác, tất cả thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt nhưvậy, và cũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng không chấp trước. Do không chấp trước nên được tịch diệt. Biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sựtai hại và sự xuất yếu của thọ, do chính quán
_______________
44 Nguyên Hán: thọ 受. Pl.: upādāna. Cf. D.i. 25: tattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā, (…), taṃ mamassa upādānaṃ … vighāto, “như vậy tôi sẽ có dục, có ái, có sân, cónhuế, … do đó có thủ, … do đó có tổn hại.”

* Trang 441 *
device

mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
“Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thểtán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng
(1.5)“Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể tán than Như Lai một cách chân thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
“Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, chủtrương rằng không có nguyên nhân mà xuất hiện cóthế gian này. Chủ trương ấy thuộc hai trường hợp. Y
bản kiếp bản kiến, chủ trương vô nhân mà xuất hiện có thế gian này,43 thuộc trong hai trường hợp. Chừng ấy không hơn.
“Sa-môn, Bà-la-môn kia nhân sự kiện gì, y bản kiếp bản kiến, chủ trương vô nhân mà có, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy không hơn?
(i.5.a)“Có hạng chúng sinh vô tưởng, vô tri.46 Khi chúng sinh kia sinh khởi tưởng, tức thì mạng chung, sinh đến thế gian này; rồi dần dần khôn lớn, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, cho đến chứng nhập tâm định. Bằng với tâm định tĩnh mà biết được gốc đời trước của mình, vị ấy bèn nói như vầy: ‘Tôi vốn không có. Nay bỗng nhiên có. Thế gian này vốn không, nay có. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó làtrường hợp thứ nhất, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y bản kiếp bản kiến, chủ trương không nhân mà có, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy không hơn.
(i.5.b)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có trí tuệ nhạy bén, có khả năng quán sát khéo léo. Vị ấy bằng trí tuệ quán sát nhạy bén, bằng trí tuệ biện luận của mình, nói nhưvầy: ‘Thế gian này hiện hữu không do nhân. Đây làthật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ hai, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y bản kiếp bản kiến, chủ trương không nhân mà [92b] hiện hữu, mà có thếgian này, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy không hơn.
______________
45 Hán: vô nhân nhi xuất hữu thử thế gian 無因而出有此世間: vônhân sinh khởi luận, vô nhân luận. Pl.: adhiccasamuppannavāda; Sớ giải: adhiccasamuppannan’ti akāraṇasamuppannaṃ. D.i.28: adhiccasamuppannaṃ attānañ ca lokañ ca paññāpenti, chủtrương bản ngã và thế gian xuất hiện không do nguyên nhân nào.
46 D.i. ibid.: asaññasattā nāma devā, có Chư Thiên được gọi là vôtưởng hữu tình.

* Trang 442 *
device

“Duy chỉ Phật mới có thể biết… (như trên).
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, với vôsố trường hợp khác nhau, mỗi người tùy ý lập thuyết; tất cả được thâu tóm trong mười tám trường hợp. Bản kiếp bản kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, thuộc trong mười tám trường hợp, chừng ấy không hơn. Duy chỉ Phật mới có thể biết… (như trên).
(ii)“Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, thâm sâu. Đó là pháp gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, gồm bốn mươi bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy lý lập thuyết, thuộc trong bốn mươi bốn trường hợp, chừng ấy
không hơn?
(ii.1)“Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sinh hữu tưởng luận, nói rằng thế gian có tưởng, tất cả thuộc trong mười sáu trường hợp. Y mạt kiếp mạt
kiến, sinh hữu tưởng luận, nói rằng thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, sinh tưởng luận, nói rằng thế gian cótưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy không hơn?
(ii.1.a) “Có các Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết nhưvầy, có quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này,47sinh có tưởng có sắc.48 Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó làtrường hợp thứ nhất, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sinh hữu tưởng luận, nói thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu luận chấp, chừng ấy không hơn.
(ii.1.b)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không sắc, cótưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.c) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có sắc vừa không sắc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.d)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải có sắc không
______________
47 Hán: thử chung hậu 此終後, sau khi chung cuộc, tức sau khi chết. Pl.: paraṃ maraṇā.
48 Pl., định cú: rūpī attā hoti arogo paraṃ maraṇā saññī, sau khi chết, tự ngã không bệnh, có sắc, có tưởng.

* Trang 443 *
device

phải không sắc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.e) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có biên,49 cótưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.f)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không biên, cótưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.g)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có biên vừa không biên, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.h)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải có biên cũng không phải không biên, có tưởng. Đây làthật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.1)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh mà thuần có[92c] lạc, có tưởng.50 Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.j) “Có người nói: ‘Bản ngã, sau đời này, sinh màthuần có khổ, có tưởng.51 Đây là thật, ngoài ra làdối.’
(ii.1.k) “Có người nói: ‘Bản ngã, sau đời này, sinh vừa có khổ vừa có lạc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra làdối.’
(ii.1.l)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải khổ, không phải lạc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.m) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có một tưởng.52 Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.n) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có đa biệt tưởng.53 Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.o) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có ít tưởng.54Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.1.p)  “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có vô lượng tưởng.55 Đây là thật, ngoài ra là dối.’
_________
49 Hán: hữu biên hữu tưởng 有邊有想. Pl.: antavā hoti... saññī, ngãlà hữu biên (hữu hạn).
50 Hán: nhất hướng lạc hữu tưởng 一向樂有想. Pl.: ekantasukhī…saññī.
51 Nhất hướng hữu khổ 一向有苦. Pl.: ekantadukkhī.
52 Hán: hữu nhất tưởng 有一想. Pl.: ekattasaññī attā hoti, ngã chỉ cómột tưởng.
53 Hán: hữu nhược can tưởng 有若干想. Pl.: nānattasaññī attā hotit.
54 Hán: hữu thiểu tưởng 有少想. Pl.: parittāsaññī..
55 Hán: hữu vô lượng tưởng 有無量想. Pl.: appamāṇāsaññī.

* Trang 444 *
device

“Đó là mười sáu trường hợp, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sinh hữu tưởng luận, nói thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng như vậy… (như trên).
(ii.2)“Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, thâm sâu. Đó là pháp gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sinh vô tưởng luận,56 nói thế gian không có tưởng. Tất cả thuộc vào trong tám trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, sinh vô tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp này, chừng ấy không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, sinh vô tưởng luận, nói thế gian không có tưởng, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn?
(ii.2.a) “Có các Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh có sắc, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.b) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không có sắc, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.c)  “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có sắc vừa không sắc, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.d)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, không phải có sắc cũng không phải không có sắc, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.e)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có biên, khôngcó tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.f)“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không có biên, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.g) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có biên vừa không có biên, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.2.h) “Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải cóbiên không phải không có biên, không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Đó là tám trường hợp. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sinh vô tưởng luận, nói thế gian không có tưởng; tất cả thuộc
_____________
56 Vô tưởng luận 無想論. Pl.: uddhamāghatanikā asaññīvādā, chủtrương sau khi chết không có tưởng.

* Trang 445 *
device

trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy… (nhưtrên).
(ii.3)“Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, sâu xa. Đó là pháp gì? Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sinh phi tưởng phi phi tưởng
luận,57 nói thế gian không phải có tưởng không phảikhông có tưởng. [93a] Tất cả thuộc trong tám trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, chủ trương phi tưởng phi phi tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn. “Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, chủ trương phi tưởng phi phi tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn?
(i.3.a) “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh có sắc, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây làthật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.b)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh không có sắc, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.c)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có sắc vừa không sắc, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.d)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải có sắc không phải không có sắc, không phải có tưởng khôngphải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.e)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh có biên, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây là
thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.f)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh không có biên, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.g)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có biên vừa không có biên, không phải
__________
57 Pl.: n’evasaṇṇīnāsaññīvādā.

* Trang 446 *
device

có tưởng không phải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
(ii.3.h)“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải cóbiên không phải không có biên, không phải có tưởng không phải không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra làdối.’
“Đó là tám trường hợp. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sinh phi hữu tưởng phi vô tưởng, nói thế gian không phải có tưởng không phải không có tưởng, thảy đều thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy… (nhưtrên).
“Lại có pháp khác, là ánh sáng của pháp vi diệu, sâu xa. Pháp đó là gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, khởi lên đoạn diệt luận,58 nói rằng chúng sinh hoàn toàn đoạn diệt; tất cả thuộc trong bảy trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, khởi đoạn diệt luận,nói rằng chúng sinh hoàn toàn đoạn diệt, thuộc trongbảy trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, khởi đoạn diệt luận, nói chúng sinh hoàn toàn đoạn diệt, thuộc trong bảy trường hợp, chừng ấy
không hơn?
(ii.4.a) “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, với thân bốn đại, sáu xứ, do cha mẹ sinh, được nuôi nấng bằng sữa; trưởng thành nhờ áo cơm, nhờ vuốt ve, bồng ẳm; nhưng là vô thường, chắc chắn đi đến chỗ hủy diệt.’59 Cho đến mức ấy, được gọi là đoạn diệt. Đó là trường hợp thứ nhất.
(ii.4.b)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Cái ta đây không thể gọi là đoạn diệt. Cái ta [93b] dục giới thiên60 mới đoạn diệt hoàn toàn; cho đến mức ấy mới là đoạn diệt.’ Đó là trường hợp thứ hai.
________
58 Đoạn diệt luận 斷滅論. Pl.: ucchedavādā, sattassa ucchedaṃvināsaṃ vibhavaṃ, đoạn diệt luận, chúng sinh đoạn diệt, tiêudiệt, không tồn tại (sau khi chết).
59 D.i. 34: ayaṃ attā rūpī cātummahābhutiko mātāpettikasambhavo; kayassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti param maraṇā, tự ngãnày, có sắc, do 4 đại tạo thành, do cha mẹ sinh, khi bản thân bị rã,sau khi chết, thì nó bị đoạn diệt, tiêu diệt.
60 Hán: ngã dục giới thiên 我欲界天. D.i.. ibid.: añño attā dibbo rūpīkāmāvacaro kabaliṅkārāhārabhakkho, có tự ngã khác, thuộc thiên giới, ở dục giới, có sắc, ăn bằng đoàn thực. Tức chỉ tự ngã của ChưThiên thuộc Dục giới.

* Trang 447 *
device

(ii.4.c)“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đấy không phải là đoạn diệt. Ta sắc giới, có thân hóa sinh, các căn đầy đủ,61 đoạn diệt hoàn toàn không còn gì; chừng mức ấy mới gọi là đoạn diệt.’
(ii.4.d)“Hoặc có người nói: ‘Đấy không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc giới, ở không vô biên xứ xứ mới đoạn diệt.’
(ii.4.e)“Hoặc có người nói: ‘Đấy không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc, thuộc thức vô biên xứ mới đoạn diệt.’
(ii.4.f) “ Hoặc có người nói: ‘Đấy không phải đoạn diệt. Ta vô sắc, thuộc vô sở hữu xứ mới đoạn diệt.’
(ii.4.g) “Hoặc có người nói: ‘Đấy không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc, ở phi tưởng phi tưởng xứ mới đoạn diệt.’Đó là đoạn diệt thứ bảy.
“Đó là bảy trường hợp, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, nói các loại chúng sinh đoạn diệt hoàn toàn, thuộc trong bảy trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy…(nhưtrên).
(ii.5)  “Lại có pháp, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, sâu xa. Đó là pháp gì? Có Sa-môn, Bà-la-môn, y mạtkiếp mạt kiến, đề xuất hiện tại Niết-bàn luận,62 nóirằng chúng sinh trong hiện tại có Niết-bàn; thảy đều thuộc trong năm trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, chủtrương hiện tại Niết-bàn luận, thuộc trong năm kiến, chừng ấy không hơn.
“Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, nói rằng chúng sinh trong hiện tại có Niết-bàn, thuộc trong năm trường hợp, chừng ấy không hơn?
(ii.5.a)“Có Sa-môn, Bà-la-môn có quan điểm như vầy, luận thuyết như vầy: ‘Ta trong hiện tại phóng túng theo năm dục, ấy là ta đạt Niết-bàn trong hiện tại.’ Đó
là trường hợp thứ nhất.
(ii.5.b)“Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ không phải là không đúng. Nhưng còn có Niết-bàn vi
_________________
61 Hán: ngã sắc giới hóa thân, chư căn cụ túc 我色界化身諸根具足. Tham chiếu Pl.: añño attā dibbo rūpī manomayo sabbaṅga-paccaṅgīahīndriyo, có tự ngã khác, thuộc thiên giới, có sắc, do ý sinh, có đầy đủ tay chân chi tiết.
62 Nguyên Hán: hiện tại Nê-hoàn luận 現在泥洹論. Pl.: diṭṭhadha mmanibbānavādā.

* Trang 448 *
device

diệu bậc nhất mà ngươi không biết; chỉ ta biết mà thôi.63 Như ta ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc do định sinh, nhập sơ thiền. ’ Đây mới là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ hai.
(ii.5.c) “Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ không phải là không đúng. Nhưng có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ngươi không biết;64 chỉ mình ta biết mà thôi. Như ta diệt tầm tứ, nội tâm tịch tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, hỷ lạc do định sinh, nhập đệ nhịthiền. Chừng ấy mới gọi là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ ba.
(ii.5.d)“Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ không phải là không đúng. Nhưng có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ngươi không biết; chỉ mình ta biết mà thôi. Như ta lìa hỷ, an trú [93c] xả và niệm, nhất tâm, thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh nói, an trú lạc và xả, nhập đệ tam thiền. Chừng ấy mới là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ tư.
(ii.5.e) “Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó làhiện tại Niết-bàn, không phải là không đúng. Nhưng còn hiện tại Niết-bàn vi diệu bậc nhất mà ngươi không biết. Chỉ mình ta biết thôi. Như ta lạc diệt, khổdiệt, ưu hỷ đã diệt trừ trước, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền. Ấy mới gọi là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ năm. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hiện tại Niết-bàn luận, thuộc trong năm trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy Phật mới có thể biết, cũng vậy… (như trên).
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, thuộc trong bốn mươibốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy Phật mới có thể biết các cơ sở quan điểm này, cũng như vậy… (như trên).
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, với
______________
63 Cf. D.i..ibid.: no ca kho bho ayaṃ attā ettavā paramadiṭṭhadh ammanibbānapatto hoti. Taṃ kissa hetu ? Kāmā hi bho aniccā dukkhā vipariṇāma-dhammā, (...). Đó chưa phải là hiện tại tốithượng Niết-bàn. Vì sao ? Dục là vô thường, khổ là pháp hoạidiệt.
64 Cf. D.i.. ibid.: taṃ kissa hetu? yadeva tattha vitakkitaṃ vicāritaṃetenetaṃ oḷārikaṃ akkhāyati: Vì sao? Vì có tầm, có tứ, được nói thô.

* Trang 449 *
device

vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, tất cả thuộc trong sáu mươi hai trường hợp. Y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, tất cả thuộc trong sáu mươi hai trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Như Lai mới biết các cơ sở quan điểm ấy, cũng vậy… (như trên).
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, chủtrương thường luận, nói: ‘Bản ngã và thế giới là thường.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia ở nơi đó mà phát sinh trí. Nghĩa là, do tín dị biệt, dục dị biệt, văn dịbiệt, duyên dị biệt, giác dị biệt, kiến dị biệt, định dịbiệt, nhẫn dị biệt; họ nhân bởi đó mà phát sinh trí. Các vị đó vì có dao động, sợ hãi,65 ấy là do bởi ái,66 ... (chođến), hiện tại Niết-bàn, cũng lại như vậy.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thường trú luận, nói: ‘Thế gian là thường’, các vị ấy nhân bởi duyên là thọ mà khởi ái, sinh khởi ái, mà tự mình không hay
biết, bị nhiễm trước bởi ái, bị khuất phục bởi ái,67... (cho đến) hiện tại Niết-bàn; cũng lại như vậy.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, chủtrương thường trú luận, nói ‘Thế gian là thường’, các vị ấy do bởi duyên là xúc. Nếu lìa xúc duyên thì không
thể lập luận,... (cho đến), hiện tại Niết-bàn, cũng lại như vậy.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, mỗi người tùy theo sở kiến mà nói; tất cả đều gồm trong sáu mươi hai kiến. Mỗi người tùy ý thuyết; thảy đều y trên đó, ở trong đó, chừng ấy không hơn. Cũng như người chài khéo, bằng tấm lưới dày mắc giăng trên ao nhỏ, nên biết, hết thảy các loài thủy tộc trong ao [94a] đều lọt vào lưới, không chỗ tránh thoát, chừng ấy không hơn. Cũng vậy, các Sa-môn,
______________
65 Để bản: hy hiện 希現, TNM: bố hiện 布現. Đề nghị đọc: bố hiện 怖現: sợ hãi hiện; nhưng chính xác hơn, nên hiểu là “sợ hãi và dao động.” Từ tương đương Pāli: paritassitavipphandita. Xem thêm cht. 66 tiếp theo.
66 Nguyên bản: thọ 受, đề nghị đọc là ái 愛. Cf. D.i. : tesaṃ… taṇhāgatānaṃ paritassita- vipphanditameva, “đó là sự kinh sợ,dao động, của những vị bị ái chi phối.”
67 Pl.: tadapi tesaṃ bhavataṃ samaṇa-brāhmaṇānaṃ ajānataṃapassataṃ vedayitaṃ taṇhāgatānaṃ paritasitavipphanditam eva, chủ trương ấy là cái không biết, không thấy, của các Sa-môn,Bà-la-môn; ấy là cái được cảm thọ, tức là cái dao động, kinh sợbị chi phối bởi khát ái.

* Trang 450 *
device

Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, với nhiều thuyết khác nhau, tất cả thuộc vào sáu mươi hai kiến, chừng ấy không hơn.
“Nếu Tỳ-kheo, đối với sự tập khởi của sáu xúc, sựdiệt tận, vị ngọt, tai họa và sự xuất ly, mà biết rõ như thật, Tỳ-kheo ấy là người tối thắng, vượt ngoài các kiến ấy. Như Lai tự biết, sự sinh đã dứt, sở dĩ có thân là để phước độ Chư Thiên, nhân loại.68 Nếu Như Lai không có thân, người đời không chỗ nương cậy. Cũng như cây đa-la bị chặt ngọn không còn sống trở lại nữa. Phật cũng vậy, đã đoạn sinh tử, vĩnh viễn không còn tái sinh.”
Khi Phật nói pháp này, đại thiên thế giới ba lần chuyển mình với sáu cách rung động. Lúc ấy, A-nan69 đứng sau Phật đang cầm quạt hầu Phật, liền trịch áo bày vai
phải, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:
“Pháp này rất sâu xa, nên gọi tên là gì? Nên phụng trì như thế nào?’
Phật bảo A-nan:
_________________
68 Cf. D.i. 46: ucchinnabhavanettiko tathāgatassa kāyo tiṭṭhati. yāvassa kāyo ṭhassati, tāva naṃ dakkhanti devamanussā. ThânNhư Lai tồn tại, đó là sự dẫn đạo của hữu đã bị cắt đứt. Chừngnào thân ấy còn tồn tại, khi ấy Chư Thiên và loài người còn nhìnthấy Như Lai.
69 T 21: Tỳ-kheo Na-da-hòa-lưu 那耶和留(?).

* Trang 451 *
device

“Nên đặt kinh này là Nghĩa động, Pháp động, Kiến động, Ma động, Phạm động.” 70
Bấy giờ A-nan sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.71
________________
70 Nghĩa động 義動, Pl.: Atthajāla: Nghĩa võng, cái lưới thâu tóm các ý nghĩa; Pháp động 法動, Pl.: Dhammajāla: Pháp võng, lưới của Pháp; Kiến động 見動, Pl.: Diṭṭhijāla: Kiến võng, lưới quan điểm; Ma động 魔動, không có từ này, nhưng tương đương: Anuttaro saṅgāmavijayo: Vô thượng chiến thắng. Về từ Phạm động 梵動. Hình như trong bản Hán, các từ jāla: võng, lưới, đều được đọc là cāla: dao động. T 21: Khi Phật Câu-lâu-tần nói kinh này, gọi là “Pháp võng” 法網(Pl. Dhammajāla): Khi Phật Cadiếp nói kinh này, gọi là “Kiến võng” 見網(Pl.: diṭṭhijāla). Nay Ta nói kinh này, gọi là “Phạm võng” 梵網(Brahmajāla). Xem
thêm cht. 1.
71 Bản Hán, hết quyển 14.

* Trang 452 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1