LOGO VNBET
22. KINH CHỦNG ĐỨC
 
[94a19] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại Ương-già,1 cùng với đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, du hành trong nhân gian, nghỉ đêm tại thành Chiêm-bà bên bờhồ Già-già.
Lúc ấy có Bà-la-môn tên Chủng Đức2 sống ở Chiêm-bà. Thành ấy nhân dân đông đúc, sầm uất, sung túc. Vua Ba-tư-nặc phong thành này cho Bà-la-môn ấy làm phạm phần.3
Người Bà-la-môn này, bảy đời cha mẹ trở lại đều chân chính không bị người khác khi dễ,4 đọc tụng thong suốt ba bộ sách của dị học,5 có thể phân tích các thứkinh thư; chỗ sâu xa của thế điển không thứ nào không nghiền ngẫm; lại giỏi xem tướng đại nhân, xem thời tiết tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ông có năm trăm đệ tử, dạy dỗ không bỏ phế.
Bấy giờ, trong thành Chiêm-bà các Bà-la-môn, trưởng giả, Cư sỹ, nghe tin Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, [94b] đến thành Chiêm-bà, ở bên bờhồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chân, Đẳng Chính Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người,6 pháp được thuyết thiện xảo khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chân nhân như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta cũng nên đến thăm Ngài.’ Nói như vậy xong, bèn rủ nhau ra khỏi thành Chiêm-bà, từng đoàn lũ lượt nối nhau, muốn đến chỗ Phật.
_______________
* 第三分[04]種德經第三
1 Ương-già 鴦伽, Pl.: Aṅga. Chiêm-bà 瞻婆, Pl.: Campā. Giàgiàtrì 伽伽池, Pl.: Gaggarā pokkharaṇī. Xem kinh 10 “Thập thượng”.
2 Chủng Đức. Pl.: Soṇadaṇḍa.
3 Xem cht. 7, T 1(20) kinh A-ma-trú.
4 Xem cht. 8, T 1(20) kinh A-ma-trú.
5 Hán: dị học tam bộ 異學三部. Xem cht. 9 T 1(20) kinh Á-matrú..
6 Xem cht. 12, T 1(20) kinh A-ma-trú.

* Trang 453 *
device

Lúc ấy, Bà-la-môn Chủng Đức đang ngồi trên đài cao, từ xa trông thấy đoàn người lũ lượt nối nhau, bèn quay hỏi người hầu:
“Những người ấy vì nhân duyên gì mà lũ lượt nốinhau, muốn đi đâu vậy?”
Người hầu thưa:
“Tôi nghe nói Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích,xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chân, Đẳng Chính Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, pháp ấy thiện xảo khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanhtịnh. Các Bà-la-môn, trưởng giả, Cư sỹ trong thành Chiêm-bà này tụ họp, nối nhau để đến thăm viếng Sa-môn Cù-đàm vậy.”
Rồi Bà-la-môn Chủng Đức liền ra lệnh cho người hầu rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng mang lời ta đến với các người ấy rằng: ‘Các khanh hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia.’”
Người hầu tức thì mang lời của Chủng Đức đến nói với các người ấy rằng: “Các người hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia.”
Lúc ấy, mọi người trả lời rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng trở về thưa với Bà-la-môn rằng, nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Người hầu trở về thưa:
“Những người ấy đã dừng rồi. Họ nói: nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Bà-la-môn liền xuống đài, đến đứng cửa giữa. Bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn khác, có chút duyên sự, trước đó đã tụ tập dưới cửa. Thấy Bà-la-môn Chủng Đức đến, thảy đều đứng dậy nghinh đón, hỏi rằng:
“Đại Bà-la-môn, ngài muốn đi đâu đây?”
Chủng Đức đáp:
“Có Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia vàthành Đạo, từ

* Trang 454 *
device

Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa ChưThiên, người đời, Ma hoặc [94c] Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, pháp ấy thiện xảo khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chân nhân như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta muốn đến thăm Ngài.”
Năm trăm người Bà-la-môn liền thưa với Chủng Đức:
“Ngài chớ đi thăm. Vì sao? Kia nên đến đây chứ đây không nên đến kia. Nay Đại Bà-la-môn, bảy đời cha mẹ đều chân chính không bị người khác khinh chê. Nếu ngài đã có đủ điều kiện như vậy, thì đàng kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia. Lại nữa, Đại Bà-la-môn tụng đọc thông suốt ba bộ sách dị học, cóthể phân tích các loại kinh thư, những chỗ sâu xa của thế điển, không chỗ nào không nghiền ngẫm. Lại giỏi xem tướng đại nhân, xem tướng tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ngài đã thành tựu những pháp ấy, thì đàng kia nênđến đây, chứ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn dung mạo đoan chính, códáng vẻ của Phạm Thiên.7 Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có giới đức tăng thượng,8 trítuệ thành tựu. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có lời nói nhu hòa, biện tài đầy đủ, nghĩa và vị thanh tịnh. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn là đại tôn sư, có đông đệ tử. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn thường dạy dỗ năm tram Bà-la-môn. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có học giả bốn phương đến xin thọ giáo; ai hỏi các kỹ thuật, các pháp tế tự, ngài thảy đều trả lời được cả. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
________________
7 Hán: Phạm Thiên sắc tượng 梵天色像. Pl.: brahmavaṇṇībrahmavaccasī: có dung sắc như Phạm thiên, uy nghi như Phạmthiên.
8 Giới đức tăng thượng 戒德增上; Pl.: vuddhasīlā, đạo đức được trọng vọng.

* Trang 455 *
device

“Lại nữa, Đại Bà-la-môn được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa cung kính cúng dường. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên
đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn trí tuệ sáng suốt, nói năng thong lợi, không hề khiếp nhược. Ngài đã thành tựu pháp ấy thìđàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.”
Chủng Đức nói với các Bà-la-môn:
“Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như điều các ông nói. Tôi có đủ các đức ấy, chớ không phải không [95a] có. Nhưng các ông hãy nghe tôi nói. Sa-môn Cù-đàm có
công đức mà chúng ta nên đến kia chớ đàng kia không nên đến đây. Sa-môn Cù-đàm từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chân chính, không bị người khác khinh chê.
Vị ấy đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có dung mạo đoan chính, xuất thân từ giai cấp Sát-lị. Đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sinh chỗ tôn quý, nhưng đãxuất gia hành đạo. Thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sắc sáng đầy đủ, chủng tính chân chính, nhưng đã xuất gia tu đạo. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sinh vào gia đình giàu có, cóuy lực lớn, nhưng đã xuất gia hành đạo. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có đủ giới Hiền Thánh,thành tựu trí tuệ. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khéo léo nơi ngôn ngữ, dịu dàng hòa nhã. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm là bậc Đạo Sư của đại chúng, có đông đệ tử. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm vĩnh viễn diệt trừ dục ái, không có sơ suất

* Trang 456 *
device

thô tháo,9 ưu tư và sợ hãi đã trừ, lông tóc không dựng đứng,10 hoan hỷ, hòa vui; được mọi người khen ngợi, khéo nói quả báo của hành vi,11không chê bai đạo khác. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm thường được vua Ba-tưnặc và vua Bình-sa lễ kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Bà-la-môn Phất-giàla- sa-la12 lễ kính cúng dường; cũng được Bà-la-môn Phạm,13 Bà-la-môn Đa-lị-già,14 Bà-la-môn Cứ Xỉ,15Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử16 thăm gặp cúng dường. Đãthành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Thanh-văn đệ tửsùng phụng, lễ kính cúng dường; cũng được chư thiên và các chúng quỷ thần khác cung kính. Các dòng họThích-ca, Câu-lị, Minh-ninh, Bạt-kì, Mạt-la, Tô-ma,17 thảy đều tôn phụng. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao cho vua Ba-tư- nặc và vua Bình-sa ba quy và năm giới. Đã thành tựu [95b] pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao ba quy năm giới cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la vân vân. Đãthành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên
đến đây.
__________________
9 Hán: vĩnh diệt dục ái, vô hữu thốt bạo 永滅欲愛無有卒暴. D 4 (i. 114): khīṇakāmarāgo vigatacāpallo, đã diệt ái dục, không phùphiếm.
10 Hán: y mao bất thụ 衣毛不豎.
11 Hán: thiện thuyết hành báo 善說行報. Pl.: kammavādī kiriyavādī, làngười chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành vi.
12 Phất-gìa-la-sa-la, Pl.: Pokkharasādi, xem kinh số 20 “A-ma-trú”, tr. 55 tt.
13 Phạm Bà-la-môn 梵婆羅門(?).
14 Đa-lợi-giá 多利遮, Pl.: Tārukkha.
15 Cứ Xỉ 鋸齒tức Cứu-la-đàn-đầu 究羅檀頭, xem T 1(23) kinh Cứu-la-đàn-đầu. Pl.: Kuṭadanta.
16 Thủ-ca-ma-nạp Đô-da tử 首迦摩納都耶子, Pl.: Sukhamāṇava-Toddeyaputta.
17 Một số nước lớn thời Phật: Thích chủng 釋種, dòng họ Thích, Pl.: Sakka; Câu-lị 俱利, Pl.: Koḷiyā; Minh-ninh 冥寧, Pl.: Mithilā; Bạt-kì跋祇, Pl.: Vajji; Mạt-la 末羅, Pl.: Mallā; Tô-ma 酥摩, Pl.: Soma.

* Trang 457 *
device

“Lại nữa, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thọ ba quy năm giới; chư thiên, dòng họ Thích, Câu-lị, vân vân, thảy đều thọ ba quy năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta
nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi du hành được hết thảy mọi người cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những thành quách, tụ lạc mà Sa-môn Cù-đàm đã đến, đều được mọi người cúng dường. Đãthành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, các loài phi nhân, quỷ thần không dám xúc nhiễu. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, nhân dân ở đó đều thấy ánh sáng, nghe âm nhạc trời. Đãthành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không
nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi muốn rời khỏi chỗđã đến, mọi người đều luyến mộ, khóc lóc mà tiễn đưa. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Sa-môn Cù-đàm khi mới xuất gia, cha mẹ khóc lóc, thương nhớ tiếc nuối. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Sa-môn Cù-đàm xuất gia khi còn trai trẻ, dẹp bỏ các thứ trang sức, voi, ngựa, xe báu, ngũ dục, anh lạc. Đãthành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không
nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khước từ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia hành đạo. Nếu Ngài tại gia, sẽ trịvì bốn thiên hạ, thống lãnh dân vật, thì chúng ta đều
là thần thuộc. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm hiểu rõ Phạm pháp,18 cóthể nói cho người khác, và cũng nói chuyện trao đổi với Phạm Thiên. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến
kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba mươi hai tướng. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớkia không nên đến đây.
__________________
18 Phạm pháp 梵法, pháp tế tự Phạm thiên. Pl.: Brahmadhamma

* Trang 458 *
device

“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ [95c] thông suốt, không có khiếp nhược. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Cù-đàm kia nay đến thành Chiêm-bà này, ở bên bờhồ Già-già, đối với ta là tôn quý, vả lại là khách. Ta nên thân hành đến thăm viếng.”
Năm trăm Bà-la-môn khi ấy thưa với Chủng Đức rằng:
“Kì diệu thay, hy hữu thay, công đức của vị kia đến như vậy chăng? Trong các đức, vị kia chỉ cần có một đức là đã không nên đến đây rồi, huống hồ nay gồm
đủ cả. Vậy ta hãy kéo hết đi thăm hỏi.”
Chủng Đức đáp:
“Các người muốn đi thì nên biết thời.”
Rồi Chủng Đức cho thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm Bà-la-môn và các trưởng giả trong thành Chiêmbàtrước sau vây quanh, đi đến hồ Già-già. Cách hồkhông xa, ông thầm nghĩ rằng: ‘Giả sử ta hỏi Cù-đàm, mà hoặc giả không vừa ý Ngài, thì vị Sa-môn ấy sẽchê trách ta, bảo rằng: ‘Nên hỏi như vầy. Không nên hỏi như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử Samôn Cù-đàm hỏi ta về nghĩa, mà ta đáp hoặc không vừa ý Ngài, vị Sa-môn ấy sẽ khiển trách ta, bảo rằng: ‘Nên trả lời như vầy. Không nên trả lời như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử ở đây ta im lặng rồi trở về, mọi người sẽ nói: ‘Ông này chẳng biết gì. Cuối cùng, không thể đến chỗ Sa-môn Cù Đàm.’ Thế thì cũng tổn hại thanh danh của ta. Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi ta vềpháp của Bà-la-môn, ta sẽ trả lời Cù-đàm đầy đủ, hiệp ý Ngài.”
Khi ấy, Chủng Đức ở bên bờ hồ suy nghĩ như vậy rồi, liền xuống xe đi bộ dẫn đầu đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Bấy giờ các Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sỹ thành Chiêm-bà, có người lễ Phật xong rồi ngồi; có người chào hỏi xong rồi ngồi; hoặc có người xưng tên rồi ngồi; hoặc có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi; hoặc có người im lặng màngồi xuống. Khi mọi người đã ngồi yên, Phật biết ýnghĩ trong lòng của Chủng Đức, bèn bảo rằng:
“Điều mà ông suy nghĩ, hãy theo ước nguyện của ông.”
Rồi Phật hỏi Chủng Đức:
“Bà-la-môn của ông, có mấy pháp để thành tựu?”
Bấy giờ Chủng Đức nghĩ thầm rằng:

* Trang 459 *
device

“Kì diệu thay, hy hữu thay, Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực mới thấy được tâm của người, đúng theo ýnghĩ của ta mà hỏi.”
Bà-la-môn Chủng Đức bèn ngồi thẳng người lên, nhìn bốn phía đại chúng, tươi cười hớn hở, rồi mới trả lờiPhật rằng:
“Bà-la-môn của tôi [96a] có năm pháp cần thành tựu, để cho lời nói mới chân thành, không có hưdối. Những gì là năm? 1. Bà-la-môn có bảy đời cha mẹ chân chính không bị người dèm pha.192. Đọc tụng thông lợi ba bộ dị học, có thể phân tích các thứ kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không chỗ nào không tổng luyện, lại có thể giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, nghi lễtế tự.20 3. Dung mạo đoan chính.21 4. Trì giới đầy đủ.22 5. Trí tuệ thông suốt.23 Đó là năm. Thưa Cù-đàm, Bà-la-môn thành tựu năm pháp này, thì lời nói mới chí thành, không có hư dối.”
Phật nói:
“Lành thay, Chủng Đức, vả có Bà-la-môn nào, trong năm pháp, bỏ một, thành tựu bốn, mà lời nói chí thành, không có hư dối chăng?”
Chủng Đức bạch Phật:
“Có. Vì sao? Thưa Cù-đàm, cần gì dòng họ?24 Nếu Bà-la-môn đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, phân tích các loại kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không đâu là không tổng luyện, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, tế tự nghi lễ, dung mạo đoan chính, trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt; có bốn pháp thì lời nói thành thật, không có hư dối.”
Phật nói với Chủng Đức:
“Lành thay, lành thay, nếu trong bốn pháp này, bỏmột, thành tựu ba, mà lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, vẫn được gọi là Bà-la-môn chăng?”
________________
19 Pl.: ubhato sujāto hoti…
20 Pl.: ajhāyako hoti…
21 Pl.: abhirūpo hoti …
22 Pl.: sīlavā hoti …
23 Pl.: paṇḍito hoti …
24 Hán: hà dụng sinh 何用生, (huyết thống) thọ sinh mà làm gì ? Pl.: Kiṃ hi vaṇṇo karissati: dung sắc mà làm gì ? Trong bản Hán, dung sắc được loại trừ ở cấp thứ ba, ngược với Pl., huyết thống thọ sinh được loại bỏ ở cấp thứ ba.

* Trang 460 *
device

Chủng Đức trả lời:
“Có. Cần gì dòng dõi. Cần gì đọc tụng. Nếu Bà-lamôn có dung mạo đoan chính, trì giới đầy đủ, trí tuệthông suốt; thành tựu ba pháp này, thì lời nói chân thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay. Thế nào, nếu trong ba pháp, bỏ một pháp, thành hai, mà kia lời nói vẫn chí thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp: “Có. Cần gì dòng dõi, đọc tụng và đoan chính?””
Lúc bấy giờ năm trăm Bà-la-môn ai nấy đều lớn tiếng,nói với Bà-la-môn Chủng Đức:
“Sao lại chê bỏ dòng dõi, đọc tụng và đoan chính, cho là không cần?”
Thế Tôn nói với năm trăm Bà-la-môn rằng:
“Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo xấu xí, không có dòng dõi, đọc tụng không thông suốt, không có biện tài, trí tuệ, khéo trả lời, không đủ khả năng nói
chuyện với Ta, thì các ngươi nên nói. Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo đoan chính, chủng tính đầy đủ, đọc tụng thông suốt, trí tuệ biện tài, giỏi vấn đáp,
[96b] đủ khả năng cùng Ta luận nghị, thì các ngươi hãy im lặng, nghe người này nói.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Chủng Đức bạch Phật:
“Xin Cù-đàm tạm ngừng giây lát. Tôi sẽ tự mình đúng theo pháp đi khuyên bảo những người này.”
Chủng Đức ngay sau đó nói với năm trăm Bà-la-môn:
“Ương-già Ma-nạp25 nay đang ở trong chúng này. Đólà cháu của ta. Các ngươi có thấy không? Nay các đại chúng cùng tụ hội hết ở đây. Duy trừ Cù-đàm códung mạo đoan chính, kì dư có ai bằng Ma-nạp này? Nhưng nếu Ma-nạp này sát sinh, trộm cướp, dâm dật, vô lễ, dối trá, lừa gạt, lấy lửa đốt người, chặn đường làm chuyện ác. Này các Bà-la-môn, nếu Ương-giàMa-nạp này làm đủ chuyện ác, thế thì đọc tụng, xinh đẹp, để làm gì?”
Năm trăm Bà-la-môn lúc ấy im lặng không trả lời. Chủng Đức bạch
_______________
25 Ương-gia-ma-nạp 鴦伽摩納. Pl.: Aṅgako nāma māṇavako.

* Trang 461 *
device

Phật:
“Nếu trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt, thế thì lời nói chí thành, không hư dối, được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Thế nào, Chủng Đức, trong hai pháp ấy, nếu bỏ một mà thành tựu một, thì lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp:
“Không thể được. Vì sao? Giới tức trí tuệ. Trí tuệ tức giới. Có giới, có trí, sau đó lời nói mới thành thật, không có hư dối, tôi gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Đúng như ông nói. Có giới thìcó tuệ. Có tuệ thì có giới. Giới làm thanh tịnh tuệ. Tuệlàm thanh tịnh giới. Chủng Đức, như người rửa tay,
tay trái và tay phải cần cho nhau. Tay trái rửa sạch tay phải, tay phải rửa sạch tay trái. Cũng vậy, có tuệthì có giới. Có giới thì có tuệ. Giới làm sạch tuệ. Tuệlàm sạch giới. Bà-la-môn, ai đầy đủ giới và tuệ, ta gọi người đó là Tỳ-kheo.”26
Bấy giờ, Chủng Đức bạch Phật:
“Thế nào là giới?”
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe! Hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ phân biệt từng điều một cho ông nghe.”
Đáp rằng: “Kính vâng. Vui lòng muốn nghe.”
Bấy giờ, Phật nói với Chủng Đức:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, là vị Ứng cúng, Chính biến tri,27 Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn, ở giữa Chư Thiên, người đời, Sa-môn,
__________________
26 Pl.: sīlapaññānañ ca pana lokasmiṃ aggam akkhāyatīti: giới vàtuệ được nói là bậc nhất trong thế gian.
27 Ứng cúng, Chánh biến tri 應供正遍知, trong các đoạn khác, bản Hán cũng nói là Chí chân, Đẳng chánh giác. Pl.: arahaṃsammāsambuddho.

* Trang 462 *
device

Bà-la-môn, màtự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết cho người; pháp ấy thiện xảo khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Nếu có trưởng giả, hay con trai trưởng giả, sau khi nghe pháp này, tín tâm thanh tịnh. Do tín tâm thanh tịnh, người ấy suy xét nhưvầy: ‘Tại gia [96c] thật khó, ví như gông cùm; muốn tu hành phạm hạnh mà không thể tự tại. Ta nay hãy cạo bỏrâu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo.’ Người ấy, sau đó, từ bỏ gia đình, bỏ sản nghiệp, từ giã thân tộc, bận ba pháp y, dẹp các trang sức, đọc tụng tì-ni, đầy đủ giới luật, từ bỏ không sát sinh,... (cho đến),28 tâm pháp tứ thiền,29 đạt được an lạc ngay trong hiện tại. Vì sao? Ấy là do tinh tấn, chính niệm, chính tri, ưa sống một mình chỗthanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó gọi là giới.”
Lại hỏi:
“Sao gọi là tuệ?” Phật nói:
“Nếu Tỳ-kheo, bằng với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, mềm mại, dễ điều phục, an trú trạng thái bất động,… (cho đến), chứng đắc ba minh, trừkhử vô minh, phát sinh trí tuệ, diệt trừ tối tăm, phát sinh ánh sáng đại pháp, xuất trí lậu tận. Vì sao? Ấy làdo tinh cần, chính niệm, chính tri, ưa sống một mình nơi thanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó là đầy đủtrí tuệ.”
Khi ấy, Chủng Đức liền bạch Phật rằng:
“Nay con quy y Phật, Pháp, Thánh Chúng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Từnay về sau, suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”
Bấy giờ, Chủng Đức Bà-la-môn sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
________________
28 Xem T 1(20) kinh A-ma-trú, T 1(21) kinh Phạm võng trên.
29 Trong bản Pl., từ chứng đắc tứ thiền trở đi, thuộc phần tuệ.

* Trang 463 *
device

* Trang 464 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1