LOGO VNBET
27. KINH SA-MÔN QUẢ
 
[107a21] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại La-duyệt-kì, trong vườn Am-bàcủa Kì-bà Đồng tử,1 cùng với Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ, A-xà-thế, con trai bà Vi-đề-hi,2 vào ngày rằm, lúc trăng tròn,3 sai gọi một phu nhân đến, bảo rằng:
“Đêm nay trăng sáng không khác gì ban ngày. Ta nên làm gì?”
Phu nhân tâu:
“Đêm nay rằm trăng tròn, như ban ngày không khác. Nên tắm gội sạch sẽ, cùng các thể nữ hưởng thụ ngũdục.”
Vua lại lệnh gọi Thái tử thứ nhất là Ưu-da-bà-đà4 đến hỏi:
“Đêm nay rằm trăng tròn, không khác gì ban ngày. Ta nên làm gì?”
Thái tử tâu:
“Đêm nay rằm trăng tròn, [107b] như ban ngày không khác. Nên tập họp bốn thứ quân, cùng bàn mưu chinh phạt phản nghịch biên cương, sau đó trở về cùng hưởng thụ dục lạc.”
Vua lại ra lệnh triệu Đại tướng Dũng Kiện5 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên làm gì?”
Đại tướng tâu:
_______________
* 第三分沙門果經第八
1 Kì Cựu đồng tử Am-bà viên 耆舊童子菴婆園. Đoạn sau, Hán dịch là Thọ Mạng Đồng tử; xem cht. 20. sau. T 22: Kì-vực Nại Viên 耆域奈園. D 2: Jīvaka-komārabhaccassa ambavane, trongvườn xoài của Jīvaka-Komārabhacca.
2 A-xà-thế Vi-đề-hi Tử 阿闍世韋提希子. Pl.: Ajātasattu Vedehiputta.
3 T 22: Ngày rằm tháng bảy, qua ngày lạp năm mới.
4 Ưu-da-bà-đà 優耶婆陀. Đoạn sau nói là Ưu-bà-da 優婆耶. Pl.: Udayībhadda (Udayabhadda).
5 Dũng Kiện Đại tướng 勇健大將; có thể là một mỹ từ chứ không phải tên riêng.

* Trang 515 *
device

“Đêm nay trăng sáng, không khác gì ban ngày, nên tập họp bốn thứ quân, đi tra xét thiên hạ để biết có sựthuận hay nghịch.”6
Vua lại sai triệu Bà-la-môn Vũ-xá7 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy Vũ-xá tâu vua:
“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có Bấtlan Ca-diệp,8 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn xa, cũng nhưbiển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường.9 Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, hoặc giả tâm được khai ngộ.”
“Vua lại lệnh gọi em Vũ-xá là Tu-ni-đà10 đến hỏi: “Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gìban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, để có
thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy Tu-ni-đà tâu vua:
“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có Mạt-già-lê Cù-xá-lê,11 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn xa, cũng
như biển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường. Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, hoặc giả tâm được khai ngộ.”
Vua lại sai triệu Điển tác Đại thần12 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy Điển tác Đại thần tâu vua:
_______________
6 Từ đoạn hỏi phu nhân, cho đến đại tướng, không có trong T 22 và trong bản Pl. D2.
7 Vũ-xá 雨舍. Xem T 1(2) kinh Du hành.
8 Bất-lan Ca-diệp 不蘭迦葉. Pl.: Pūraṇa-kassapa.
9 Chúng sở cúng dường 眾所供養; Pl.: sādhusammato bahujanassa, được nhiều người tôn kính.
10 Tu-ni-đà 須尼陀(Tu-ni-đề); Pl.: Sunidha (?). D 2 không nêu tên này.
11 Mạt-già-lê Cù-xá-lị 末伽梨瞿舍利. T 22: Mạc-kha-li-duy Cùlâu莫軻離惟瞿樓; Pl.: Makkhali-Gosāla.
12 Điển tác Đại thần 典作大臣(?). Không tìm thấy Pl. tương đương.

* Trang 516 *
device

“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la,13 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn xa,
cũng như biển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường. Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, hoặc giả tâm được khai ngộ.”
Vua lại sai triệu tướng thủ thành môn là Già-la14 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy tướng thủ thành môn là Già-la tâu vua:
“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có Bà-phù-đà Già-chiên-na,15 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn
xa, cũng như biển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường. Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, [107c] hoặc giả tâm
được khai ngộ.”
Vua lại sai triệu Ưu-đà-di Mạn-đề Tử16 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy Ưu-đà-di tâu vua:
“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có Tán-nhã-di Tì-la-lê-phất,17 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn
xa, cũng như biển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường. Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, hoặc giả tâm được khai ngộ.”
Vua lại sai triệu em là Vô Úy18 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta
___________
13 A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la 阿耆多翅舍欽婆羅, T 22: A-di-chuyên( đoan) Kì-da-kim- li. Pl.: Ajita-Kesakambala.
14 Già-la thủ môn tướng 伽羅守門將. Không tìm thấy Pl. tương đương.
15 Bà-phù-đà Già-chiên-na 婆俯陀伽旃那, T 22: Ba-hưu Ca-chiên 波休迦旃. Pl.: Pakudha- Kaccāyana.
16 Ưu-đà-di Mạn-đề Tử 優陀夷漫提子. D 2 không đề cập.

* Trang 517 *
device

nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Khi ấy Vô Úy tâu vua:
“Đêm nay trăng sáng, không khác ban ngày. Có Nikiền Tử,19 là người lãnh đạo, đứng đầu chúng lớn, được nhiều người biết đến, tiếng tăm đồn xa, cũng như biển cả dung nạp được nhiều, được mọi người cúng dường. Đại vương, nên đến kia thăm viếng. Nếu Đại vương gặp vị ấy, hoặc giả tâm được khai ngộ.”
Vua lại sai triệu Kì-bà Đồng tử20 đến hỏi:
“Nay ngày rằm trăng tròn, đêm sáng trong không khác gì ban ngày. Ta nên đến Sa-môn, Bà-la-môn nào, đểcó thể khai ngộ tâm ta?”
Kì-bà Đồng tử tâu:
“Có Phật, Thế Tôn, nay đang ở trong vườn xoài của tôi. Đại vương nên đến đó thăm hỏi. Nếu Đại vương gặp Phật, tâm tất khai ngộ.”
Vua bèn sắc lệnh Kì-bà:
“Hãy thắng kiệu con voi báu mà ta thường cỡi,21 cùng với năm trăm thớt voi trắng.”
Kì-bà vâng lệnh, cho trang nghiêm con voi của vua cùng với năm trăm thớt voi xong, tâu vua rằng:
“Xa giá đã trang nghiêm. Xin Đại vương biết thời.”
A-xà-thế tự mình cỡi voi báu; cho năm trăm phu nhân cỡi năm trăm voi cái, tay mỗi người đều cầm một bóđuốc, thể hiện uy nghi của vua, ra khỏi La-duyệt-kì,
hướng đến chỗ Phật.
Tiến đi được một đoạn,22 Vua bảo Kì-bà:
“Ngươi nay gạt ta, hãm hại ta, dẫn ta và đại chúng đến cho kẻ thù.”
Kì-bà tâu:
_______________
19 Ni-kiền (Thân) Tử, 尼乾(親)子; T 22: Ni-kiề Tử 尼揵子.Pl.: Nigaṇṭha-Nāta-putta.
20 Thọ Mạng đồng tử 壽命童子, cùng nhân vật trên kia dịch là KìCựu đồng tử. T22: Kì-vực 耆域, chú: Cố Hoạt 固活. Pl.: Jīvaka-Komārabhacca.
21 T 22: con voi tên Nhân Điều 仁調.
22 Cf. D 2: avidure ambavanassa…, “Cách vườn Xoài không xa, A-xà-thế đột nhiên trong lòng kinh sợ, lông tóc dựng đứng…”

* Trang 518 *
device

“Đại vương, thần không dám lừa dối Đại vương. Không dám hãm hại Đại vương, dẫn Đại vương vàđại chúng đến cho kẻ thù. Đại vương cứ tiến về phía trước, tất thu hoạch được phúc khánh.”
Rồi thì, tiến tới một quãng ngắn, vua lại bảo Kì-bà:
“Ngươi nay gạt ta, hãm hại ta, dẫn ta và đại chúng đến cho kẻ thù.”
Vua nói ba lần như vậy.
“Vì sao? Nơi kia có một ngàn hai trăm năm mươi vị, nhưng lại vắng lặng không tiếng động. Hẳn là có âm mưu rồi.”
Kì-bà ba lần tâu:
“Đại vương, thần không dám lừa dối Đại vương. Không dám hãm hại Đại vương, dẫn Đại vương vàđại chúng đến cho kẻ thù. Đại vương cứ tiến về phía trước, tất thu hoạch được phúc khánh. [108a] Vì sao? Sa-môn kia theo pháp thường ưa sự thanh vắng, do đó không có tiếng động. Đại vương cứ tiến tới. Khu vườn đã hiện ra rồi.”
Vua A-xà-thế đi đến cổng vườn, xuống voi, giải kiếm, cất lọng, dẹp bỏ năm thứ uy nghi,23 bước vào cổng vườn, nói với Kì-bà:
“Phật Thế Tôn đang ở đâu?”
Kì-bà trả lời:
“Đại vương, Phật đang ở trên cao đường kia,24 phía trước Ngài có ngọn đèn. Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, mặt hướng về phía Nam. Đại vương đi tới một chút, tự mình gặp Thế Tôn.”
Bấy giờ, A-xà-thế đi đến chỗ giảng đường, rửa chân ở bên ngoài, sau đó mới bước lên giảng đường, im lặng nhìn bốn phía, sinh tâm hoan hỷ, miệng tự phát lên lời:
“Nay các Sa-môn yên tĩnh lặng thinh, hoàn toàn tĩnh lặng.25 Mong sao
____________________
23 Ngũ uy nghi 五威儀, tức 5 nghi trượng của vua. T 22: ngũ sự 五事, và liệt kê. Bản Pl. không có chi tiết này. Cf. Jā. iv. 151: khaggoca chattaṃuṇhīsaṃ pādukā vālabījanī ime kakuddhabaṇḍānibhavanti pañca rājunṃ.
24 Cao đường, tức giảng đường. Trong bản Pl.: ngôi nhà hình tròn, hay viên đường (maṇḍalamāḷa).
 25 Chỉ quán cụ túc止觀具足. D 2: rahadam iva vippasanaṃ, nhưhồ nước tĩnh lặng. Pl.: vippasana (hai chữ p một s): tĩnh lặng, trong suốt, trong bản Hán đọc là vipassanā (một chữ p hai s): quán hay quán chiếu.

* Trang 519 *
device

Thái tử Ưu-bà-da26 của tôi cũng cóđược sự trầm lặng27 như thế này không khác.”
Khi ấy, Phật nói với vua A-xà-thế:
“Đại vương phải chăng đang nghĩ đến con mình, nên từ miệng mình phát ra lời:28 ‘Mong sao Thái tử Ưu-đà-di cũng có được sự trầm lặng như vậy không khác’?
Đại vương hãy ngồi phía trước đó.” A-xà-thế bèn đảnh lễ Phật, rồi ngồi sang một bên, bạch Phật rằng:
“Nay có điều muốn hỏi, nếu Ngài có rảnh, tôi mới dám hỏi.”
Phật nói:
“Đại vương, có điều gì muốn hỏi, xin cứ hỏi.”
A-xà-thế bạch Phật:
“Thế Tôn, như nay người cỡi voi, xe ngựa, tập luyệnđao, mâu, kiếm, cung tên, binh khí, phép chiến đấu; vương tử, lực sĩ, đại lực sĩ, tôi tớ, thợ da, thợ hớt tóc,
thợ bện tóc, thợ đóng xe, thợ gốm, thợ đan, thợ dệt cói; mỗi người đều sinh sống bằng các kỹ thuật khác nhau, tự mình hưởng thụ dục lạc; và cùng với cha, mẹ, vợ con, nô bộc vui hưởng lạc thú. Các nghề nghiệp nhưvậy đều có quả báo trong hiện tại. Nay các Sa-môn hiện tại tu hành, được những quả báo hiện tại29 gì?”
Phật nói với vua A-xà-thế:
“Đại vương đã từng đến các Sa-môn, Bà-la-môn đểhỏi ý nghĩa như vậy chưa?”
Vua bạch Phật:
“Tôi đã từng đi đến các Sa-môn, Bà-la-môn để hỏi ýnghĩa như vậy.
(i.1)“Nhớ lại, một thời tôi đến Bất-lan Ca-diệp, hỏi rằng: ‘Như người
___________________
26 Ưu-bà-da 優婆耶; trên kia nói là Ưu-da-bà-đà 優耶婆陀. Pl.: Udayabhadda. T22: nói đến một đồng tử tên Bạch Hiền 帛賢
(dịch nghĩa từ Udayabbhadda), nhưng không nói rõ là con của Vua.
27 Hán: (...) chỉ quán thành tựu 止觀成就. Cf. D 2: upasamena samannāgato, có đầy đủ sự tĩnh lặng. Xem cht. 25 trên..
28 D 2: agamā kho tvaṃ mahārāja yathā peman ti? Đại vương cũng tràn ngập yêu thương như vậy sao? Ý Phật muốn nhắc vua vềviệc giết cha.
29 D 2 (i. 51): diṭṭh’ eva dhamme sandiṭṭhikam sāmaññaphalam: kết quả thiết thực (thấy được) của Sa-môn trong hiện tại.

* Trang 520 *
device

cỡi voi, xe ngựa, tập luyện binh pháp,…(cho đến), bằng các sự mưu sinh khác nhau, đều có quảbáo trong hiện tại. Nay chúng đây hiện tại tu đạo, cóđược quả báo trong hiện tại không?’ Bất-lan Ca-diệp kia trả lời tôi rằng: ‘Đại vương nếu tự mình làm, hay sai bảo người khác làm, chặt, bửa, tàn hại, nấu, nướng, cắt, xẻ, não loạn chúng sinh, khiến cho chúng sầu ưu, than khóc; sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ, trèo tường cướp bóc, phóng lửa thiêu đốt, chận đường làm chuyện ác. Đại vương, [108b] hành động như vậy không phải là ác. Đại vương, nếu lấy kiếm bén mà lóc thịt chúng sinh, làm thành một đống thịt, ngập tràn cả thế gian; đó không phải là sự ác, cũng không tội báo. Ở bờ Nam sông Hằng, lóc thịt chúng sinh, cũng không có ác báo. Ở phía Bắc sông Hằng, thiết hội bố thí lớn, bố thí tất cả chúng sinh, lợi cho tất cả mọi người, cũng không cóquả báo của tội phước.’”30
Rồi vua bạch Phật:
“Cũng như một người hỏi về dưa thì trả lời về mận; hỏi mận thì trả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quả báo không, nhưng kia trả lời tôi là không
có quả báo của tội phước. Tôi bèn suy nghĩ rằng: ‘Ta là vua Quán Đảnh dòng Sát-lị, há không duyên cớmà lại giết người xuất gia, bắt trói, đuổi đi! ’ Khi ấy,trong lòng tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏmà đi.”
Rồi nhà vua lại bạch Phật:
(i.2) “Nhớ lại, một thời tôi đến Mạt-già-lê Câu-xá-lê, hỏi rằng: ‘Như người cỡi voi, xe ngựa, tập luyện binh pháp, v.v... (cho đến), bằng các sự mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay chúng đây hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trảlời tôi rằng: ‘Đại vương, không có bố thí, không cósự cho,31 không có pháp tế tự.32 Cũng không có thiện ác; không có quả báo của thiện ác. Không có đời này, không có đời sau. Không có cha, không có mẹ, không có chư Thiên,
_____________
30 Pl.: akiriyaṃ vyakāsi (= akiriyavāda), thuyết minh về sự không có hành động, thuyết phi nghiệp, hay vô tác.
31 Hán: vô dữ 無與; Pl.: n’atthi yiṭṭhaṃ, không có sự hiến tế sinh vật; đôi khi cũng dùng theo nghĩa bố thí, cấp dưỡng. Sớ giải: yiṭṭhaṃ:mahāyāgo, đại hiến tế, đại thí.
32 Hán: tế tự pháp 祭祀法. Pl.: huta, phẩm vật cúng tế, vật cúng hy sinh.

* Trang 521 *
device

không có chúng sinh hóa sinh.33 Ở đời không có Sa-môn, Bà-la-môn, không có bậc chính hành,34 và họ cũng không tự mình chứng ngộ đời này hay đời sau, rồi phô diễn cho người hay. Những ai nói có, thảy đều hư dối.’ 35
“Cũng như một người hỏi về dưa thì trả lời về mận; hỏi mận thì trả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quả báo không, nhưng kia trả lời bằng thuyết vô nghĩa.36 Tôi bèn suy nghĩ rằng: ‘Ta làvua Quán đảnh dòng Sát-lị, há không duyên cớ màlại giết người xuất gia, bắt trói, đuổi đi!’ Khi ấy, trong lòng tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏ mà đi.”
Rồi nhà vua lại bạch Phật:
(i.3)  “Một thời, tôi đến A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la, hỏi rằng: ‘Đại đức, như người cỡi voi, ngựa xe, luyện tập binh pháp, cho đến, các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây chúng hội này hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trả lời tôi rằng: ‘Con người lãnh thọ bốn đại, khi mạng chung, đất trở về đất, nước trở về nước, lửa trở về lửa, gió trở về gió; thảy đều hư rã, các căn trở về hư không. Khi người chết, nhàđòn khiêng xác để trong bãi tha ma, lửa
__________________
33 Hán: vô hóa, vô chúng sinh 無化無眾生; Pl.: n’ atthi sattā opapātikā, không có chúng sinh hóa sinh. Bản Hán đọc sattā vā oppātikā thànhhai danh từ độc lập. Hoặc chép dư một chữ vô.
34 Hán: bình đẳng hành giả 平等行者; Pl.: sammāpaṭipannā (chánh hành): những người đang hướng thẳng đến (Thánh quả), bản Hán hiểu là sama-paṭipanna (bình đẳng hành).
35 Trong bản Pl., trên đây là phần đầu học thuyết của Ajita-Kesakambali, được gọi là đoạn diệt luận (Pl.: ucchedavāda); phần sau, xemđoạn tiếp. Ở đây, dẫn phần đầu: D 2: n’ atthi dinnaṃ n’ atthi yiṭṭhaṃn’ atthi hutaṃ n ‘atthi sukaṭadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipako, n’ atthi ayaṃ loko n’ atthi paraṃ loko, n’atthi mātā, n’ atthi pitā, n’atthi sattā opapātikā, n’ atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā
sammāpaṭipaṇṇā ye imañ ca lokaṃ parañ ca lokaṃ sayaṃ abhiññāsacchikatvā pavedenti: “không có bố thí, không có lễ hiến sinh, khôngcó cúng tế, không có kết quả chín muồi của các nghiệp tịnh hay bất tịnh, không có thế gian này, không có thế gian khác, không có cha,không có mẹ, không có hữu tình hóa sinh, trong đời này không có Sa-môn,Bà-la-môn chánh hành chánh hướng, không có những vị đã tựmình chứng nghiệm thế gian này và thế gian khác, sau khi chứng ngộrồi tuyên thuyết điều ấy.”
36 Hán: vô nghĩa đáp 無義答. D.i.ibid.: ucchedaṃ vyākāsi: thuyết minh chủ nghĩa đoạn diệt (ucchedavāda).

* Trang 522 *
device

đốt cháy thành xương như màu bồ câu, hoặc biến thành tro đất. Hoặc ngu, hoặc trí, [108c] đến lúc mạng chung thảy đều hư rã, là pháp đoạn diệt.’37
“Cũng như một người hỏi về dưa thì trả lời về mận; hỏi mận thì trả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quả báo không, nhưng kia trả lời bằng thuyết đoạn diệt.38 Tôi bèn suy nghĩ rằng: ‘Ta là vua Quán Đảnh dòng Sát-lị, há không duyên cớ mà lại giết người xuất gia, bắt trói, đuổi đi!’ Khi ấy, trong long tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏ mà đi.”
Rồi nhà vua lại bạch Phật:
(i.4) “Một thời, tôi đến Ba-phù-đà Già-chiên-diên, hỏi rằng: ‘Đại đức, như người cỡi voi, ngựa xe, luyện tập binh pháp, cho đến, các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây chúng hội này hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trả lời tôi rằng: ‘Không có lực, không có tinh tấn, con người không sức mạnh, không có tinh cần.39 Không nhân, không duyên cho sự nhiễm trước của chúng sinh. Không nhân, không duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Hết thảy chúng sinh, những loài có mạng, thảy đều không sức mạnh,
________________
37 Trong bản Pl., đây là phần hai chủ nghĩa đoạn diệt (ucchedavāda) của Ajita- Kesakambali (phần đầu, xem cht. 35), D 2 (i. 156): cātumahābhūtiko ayaṃ puriso, yadā kālaṃ karoti paṭhavīpaṭhavikāyaṃ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṃ anupetianupagacchati, tejo tejokāyaṃ anupeti anupagacchati, vāyovāykāyaṃ anupeti anupagacchati, ākāsaṃ indriyāni saṃkamanti.āsandipañcamā purisā mataṃ ādāya gacchanti, yāva āḷāhanāpadāni paññāpenti, kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti, bhassantāhutiyo.dattupaññattaṃ yadidaṃ dānaṃ, tesaṃ tucchaṃ musā vilāpo yekeci atthikavādaṃ vadanti. bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti
vinassanti, na honti param maraṇā ti: “Con người vốn là sản phẩm của bốn đại, khi thời gian đến, thân thuộc đất đi theo đất trở về đất, thân thuộc nước đi theo nước trở về với nước, thân thuộc lửa đi theo lửa trở về với lửa, thân thuộc gió đi theo giótrở về với gió; các căn hội nhập hư không. Với người nằm trong quan tài, người ta khiêng xác đến giàn hỏa, đặt ra những vần thơ. Xương trắng sẽ trở thành màu bồ câu, vật cúng tế biến thành tro. Sự bố thí là thuyết cho kẻ ngu độn. Những ai chủ trương chủ nghĩa tồn tại, người ấy hư ngụy, dối trá, hý luận. Kẻ ngu hay người trí, khi thân xác tan rã, sẽ tiêu diệt, không còn tồn tại sau khi chết.”
38 Hán: đoạn diệt 斷滅. Pl.: ucchedaṃ vyākāsi.
39 Nguyên Hán: vô phương tiện. Những từ phương tiện trong bản hán này phần lớn có nghĩa tinh cần. Pl.: natthipurisaparakkamo: không có sự nỗ lực của con người.

* Trang 523 *
device

không có cái gì được gọi là oán là thù,40 ở trong sáu sinh loại41 mà thọ các khổ hay lạc.’42
“Cũng như một người hỏi về dưa thì trả lời về mận; hỏi mận thì trả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quả báo không, nhưng kia trả lời bằng thuyết
vô lực.43 Tôi bèn suy nghĩ rằng: ‘Ta là vua Quán Đảnh dòng Sát-lị, há không duyên cớ mà lại giết người xuất gia, bắt trói, đuổi đi!’ Khi ấy, trong lòng tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏ mà đi.”
Rồi nhà vua lại bạch Phật:
(i.5) “Một thời, tôi đến Tán-nhã Tì-la-lê Tử, hỏi rằng: ‘Đại đức, như người cỡi voi, ngựa, xe, luyện tập binh pháp, cho đến, các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây chúng hội này hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trảlời tôi rằng: ‘Đại vương, đều có quả báo trong hiện tại của Sa-môn. Hỏi như vậy, đáp sự việc ấy như vậy. Sự việc này là thật, sự việc này là khác; sự việc này không phải khác cũng không phải không khác. Đại vương, hiện tại không có quả báo của Sa-môn. Hỏi như vậy, đáp sự việc ấy như vậy; sự
______________________
40 Hán: vô hữu oan thù định tại số trung 無有冤讎定在數中. Pl. (?): niyatisaṅgatibhāvapariṇatā: chúng bị biến chuyển bởi hữu (tồn tại), bởi tụ hội (chủng tộc), bởi quyết định (định mệnh).
41 Hán: lục sinh 六生; Pl.: chass’ abhijāti, chỉ sáu giống người, phân biệt theo màu da: đen, xanh, đỏ, vàng, trắng, thuần trắng.
42 Trong bản Pl., D 2 (i. 50), đây là phần đầu thuyết luân hồi tịnh hóa (saṃsārasuddhi) của Makkhali Gosāla: n’ atthi hetu n’ atthi paccayosattānaṃ saṃkilesāya, ahetu apaccayā sattā saṃkilissanti. n’ atthi hetun’ atthi paccayo sattānaṃ visuddhiyā, ahetuapaccayā sattā visujjhanti. N‘atthi attakāre n’ atthi parakāre, n’ atthi puris-kāre; n’ atthi balaṃ n’ atthiviriyaṃ. n’ atthi purisathāmo n’atthi purisaparakkamo. sabbe sattā sabbepāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā aviriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chass’ evābhijāisu sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedenti: “Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh. Chúng sinh bị nhiễm ôkhông do nhân duyên gì. Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Chúng sinh được thanh tịnh không do bởi nhân
duyên gì. Không có cái tự tác, không có cái tha tác, không có cái nhân tác. Không có lực, không có tinh tấn, không có nghị lực của con người, không có sự nỗ lực của con người. Tất cả chúng sinh, tất cả loài cóhơi thở, tất cả loài có sự sống, tất cả loài có linh hồn, đều không tựdo, bất lực, không tinh tấn, được biến đổi theo định mệnh, kết hợp, tính cách, cảm thọ khổ và lạc trong sáu giống.”
43 Hán: vô lực 無力, tức Pl.: akiriya, mà trong bản Pl., là thuyết của Pūrana-Kassapa tức Bất-lan Ca-diệp.

* Trang 524 *
device

việc này là thật, sự việc này là khác; sự việc này không phải khác cũng không phải không khác. Đại vương, hiện tại vừa cóvừa không có quả báo của Sa-môn. Hỏi như vậy, đáp sự việc ấy như vậy; sự việc này là thật, sự việc này là khác; sự việc này không phải khác cũng không phải không khác. Đại vương, hiện tại không phải có cũng không phải không có quả báo của Sa-môn. Hỏi nhưvậy, đáp sự việc ấy như vậy; sự việc này là thật, sựviệc này là khác; sự việc này không phải khác cũng không phải không khác. Hỏi như vậy, đáp sự việc ấy như vậy; sự việc này là thật, sự việc này là khác; sựviệc này không phải khác cũng không phải không khác.’44 Thế Tôn, cũng như một người hỏi về dưa thìtrả lời về mận; hỏi mận thì trả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quả báo không, nhưng kia trảlời bằng một vấn đề khác.45 Tôi [109a] bèn suy nghĩrằng: ‘Ta là vua Quán Đảnh dòng Sát-lị, há không duyên cớ mà lại giết người xuất gia, bắt trói, đuổi đi!’Khi ấy, trong lòng tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏ mà đi.”
Rồi nhà vua lại bạch Phật:
(i.6)  “Một thời, tôi đến Ni-kiền Tử, hỏi rằng: ‘Đại đức, như người cỡi voi, ngựa xe, luyện tập binh pháp, cho đến, các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây chúng hội này hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trả lời tôi rằng: ‘Đại vương, tôi là bậc Nhất thiết trí, là người thấy tất cả, biết thấu suốt không sót. Hoặc đi, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, bất cứ lúc nào, trí thường hiện tiền.’ Thế Tôn, cũng nhưmột người hỏi về dưa thì trả lời về mận; hỏi mận thìtrả lời dưa. Kia cũng vậy. Tôi hỏi hiện tại có được quảbáo không, nhưng kia trả lời bằng một vấn đề khác.46Tôi bèn suy nghĩ rằng: ‘Ta là vua Quán Đảnh dòngSát-lị, há không duyên cớ mà lại giết
___________________
44 Chủ trương ngụy biện (vikhepaṃ vyākāsi) của Sañjaya Belaṭṭhiputta, Hán và Pl. đại thể tương đồng, tham chiếu, D 2 (i.: atthi paro loko ti iti ce taṃ pucchasi, atthi paro loko ti iti ceme assa, atthi paro loko ti iti te naṃ vyākareyyeṃ. evam pi me
T tathā ti pi me T, aññathā ti pi me T T ti pi me T T T ti pi me T: “Nếu ngươi hỏi Ta, ‘Có thế giới khác hay không’, và nếu tanghĩ rằng ‘Có thế giới khác’, ta sẽ trả lời ngươi rằng ‘Có thế giớikhác.’ Nhưng, ta không nghĩ như vậy. Ta không nghĩ sự thật nhưvậy. Ta không nghĩ một cách khác. Không nghĩ không phải nhưvậy. Không nghĩ không phải không như vậy.”
45 Hán: dị luận 異論.
46 Xem cht. 45 trên. Trong bản Pl. (D.i. 157), Nigaṇṭha Nāṭaputta trả lời bằng bốn phòng hộ (cātuyāmasaṃvarasaṃvutto: phòng hộbằng bốn luật nghi).

* Trang 525 *
device

người xuất gia, bắt trói, đuổi đi!’ Khi ấy, trong lòng tôi phẫn nộ, suy nghĩ như vậy rồi, bèn bỏ mà đi.
(ii) “Thế Tôn, hôm nay tôi đến đây để hỏi ý nghĩa như vầy: Như người cỡi voi, ngựa xe, luyện tập binh pháp,…(cho đến), các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây Sa-môn hiện tại tu đạo, hiện tại có được quả báo không?”
Phật nói với vua A-xà-thế:
“Nay Ta trở lại hỏi Đại vương, xin tùy ý trả lời.
(ii.1) “Thế nào, Đại vương, có đồng bộc của Đại vương, những người đồng bộc, sai sử, làm các công việc trong và ngoài, đều thấy Đại vương vào ngày rằm, lúc trăng tròn, tắm gội sạch sẽ, ở trên điện cao cùng hưởng thụ dục lạc với các thể nữ, bèn suy nghĩ nhưvầy: ‘Lạ thay, quả báo của hành vi47 đến như thế sao? Vua A-xà-thế này vào ngày rằm, lúc trăng tròn, tắm gội sạch sẽ, ở trên điện cao cùng hưởng thụ dục lạc với các thể nữ. Ai có thể biết được đấy lại là quả báo của hành vi?’ Người kia, một thời gian sau, cạo bỏrâu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, tu hành chân chính.48 Thế nào, Đại vương, Đại vương từ xa thấy người ấy đi đến, há có khởi lên ý nghĩ rằng: Đấy là nô bộc của ta?”
Vua bạch Phật:
“Không, bạch Thế Tôn. Nếu thấy người ấy đến, tôi phải đứng dậy nghinh đón, mời ngồi.”
Phật nói:
“Đó không phải là quả báo có được ngay trong hiện tại của Sa-môn49 sao?”
Vua đáp: “Đúng như vậy, Thế Tôn, đó là quả báo cóđược ngay trong hiện tại của Sa-môn vậy.”
(ii.2)  “Lại nữa, Đại vương, có người khách cư ngụ trong cương giới của
____________________
47 Cf. Pl.: puññānaṃ gati puññānaṃ vipāko, thú hướng (hành) của phước, kết quả (dị thục) của phước.
48 Hán: hành bình đẳng pháp 行平等法.
49 Hiện đắc Sa-môn báo 現得沙門報. Pl.: diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ

* Trang 526 *
device

Đại vương, ăn thóc lúa mà Đại vương ban cho.50 Người ấy thấy Đại vương vào ngày rằm trăng tròn, tắm gội sạch sẽ, ở trên điện cao cùng các thể nữ vui thú ngũ dục, bèn nghĩ thầm rằng: ‘Lạ thay, quả báo hành vi của người kia [109b] đến như vậy sao? Ai có thể biết đó là quả báo của hành vi?’ Một thời gian sau, người ấy cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, tu hành chân chính. Thế nào, Đại vương? Nếu Đại vương từ xa thấy người ấy đi đến, cókhởi lên ý nghĩ rằng; ‘Người ấy là khách dân của Ta, ăn thóc lúa mà Ta ban cho’ hay không?”
Vua nói: “Không. Nếu tôi thấy người ấy từ xa đến, tôi sẽ đứng dậy nghinh đón, chào hỏi, mời ngồi.”
“Thế nào, Đại vương, đó không phải quả báo có được ngay trong hiện tại của Sa-môn chăng?”
Vua nói: “Đúng như vậy, hiện tại được quả báo của Sa-môn vậy.”
(iii) “Lại nữa, Đại vương, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác xuất hiện ở đời, (…) vào trong pháp Ta,… (chođến), đắc51 tam minh, diệt trừ các tối tăm, phát sinh ánh sáng đại trí, gọi là lậu tận trí chứng. Vì sao? Ấy làdo tinh cần, chính niệm, chính tri, ưa sống một mình nơi thanh vắng, không buông lung vậy. Thế nào, Đại vương, đó không phải là quả báo có được ngay trong hiện tại của Sa-môn sao?”
Vua đáp: “Thật vậy, Thế Tôn, đó thật là quả báo cóđược ngay trong hiện tại của Sa-môn.”
Bấy giờ, vua A-xà-thế rời chỗ ngồi đứng dậy, đầu mặt lễ chân Phật, bạch Phật rằng:
“Cúi mong Thế Tôn nhận sự hối hận của con. Con vì cuồng, ngu si, tối tăm, không nhận thức. Cha con là Bình-sa vương, vua nước Ma-kiệt-đà, cai trị đúng theo pháp, không có thiên vạy. Nhưng con bị ngũ dục mê hoặc, thật sự đã hại Phụ vương. Cúi mong ThếTôn rũ lòng thương xót, nhận sự sám hối của con.”
Phật bảo vua:
“Ngươi ngu si, không nhận thức. Nhưng đã tự mình hối cải. Ngươi vì mê say ngũ dục mà hại Phụ vương. Nay trong pháp Hiền Thánh mà biết
________________
50 D 2: assa puriso kassako gahapatiko karakāro rāsivaḍḍho, một người kia, là nông phu, là gia chủ, là người tiến nạp (tô thuế), làngười tích tụ (kho lẫm cho vua).
51 Tóm tắt, nội dung chi tiết như trong T 1(20) kinh A-ma-trú.

* Trang 527 *
device

hối cải, tức là tựlàm ích lợi cho mình. Ta vì thương tưởng ngươi, nhận sự sám hối của ngươi.”
Bấy giờ, vua A-xà-thế sau khi lễ Phật, được Phật giảng pháp cho nghe, được khai thị, giáo giới, làm cho ích lợi, hoan hỷ. Sau khi nghe những điều Phật dạy, Vua
liền bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin chấp nhận con là Ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Từnay về sau, suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu. Cúi mong ThếTôn cùng đại chúng sáng ngày mai nhận lời thỉnh của con.”
Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi Vua thấy Phật im lặng nhận lời, liền đứng dậy lễ Phật, đi quanh ba vòng sau đó cáo lui.
Vua đi chưa bao lâu, Phật nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Vua A-xà-thế này, tội lỗi đã vơi bớt, đã nhổ trọng tội. Nếu A-xà-thế không giết cha, thì ngay tại chỗ này đã được con mắt thanh tịnh thấy pháp. Nhưng vua A-xà-thế nay đã hối lỗi, tội lỗi đã vơi bớt, [109c] đã nhổtrọng tội.”
Bấy giờ, A-xà-thế, đang trên đường đi, gọi Kì-bàĐồng tử bảo rằng:
“Lành thay, lành thay! Ngươi nay làm được nhiều điều lợi ích cho ta. Ngươi trước đã tán thán Như Lai, chỉ dẫn, khơi mở, sau đó đưa ta đến gặp Thế Tôn, nhờthế ta được khai ngộ. Ta rất cám ơn ngươi, trọn không bao giờ quên.”
Rồi thì, vua trở về cung sửa soạn các món hào soạn, các loại thức ăn. Sáng hôm sau, khi đã đến giờ, báo đức Thánh biết đã đến giờ.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y cầm bát, cùng với chúng đệ tử một ngàn hai trăm năm mươi vị, đi đến vương cung, ngồi trên chỗ ngồi dọn sẵn. Rồi, vua tự tay châm chước, cúng Phật và Tăng. Ăn xong, cất bát, dung nước rửa xong, vua đảnh lễ Phật, bạch rằng:
“Con nay ba lần xin sám hối. Con vì cuồng dại, ngu si, tối tăm, không nhận thức. Cha con là Bình-sa vương, vua nước Ma-kiệt-đà, cai trị đúng theo pháp, không
có thiên vạy. Nhưng con vì mê say ngũ dục, thật sựđã hại Phụ vương. Cúi mong Thế Tôn rủ lòng thương xót, nhận sự sám hối của con.”
Phật bảo vua:
“Ngươi ngu si, không nhận thức. Ngươi vì mê say ngũdục mà hại Phụ vương. Nay trong pháp Hiền Thánh mà biết hối cải, tức là tự làm ích lợi

* Trang 528 *
device

cho mình. Ta vìthương tưởng ngươi, nhận sự sám hối của ngươi.”
Rồi thì, sau khi đảnh lễ Phật, Vua dọn một chỗ ngồi thấp ngồi trước Phật. Phật giảng pháp cho vua nghe, khai thị, giáo giới, khiến cho được ích lợi, hoan hỷ. Sau khi nghe Phật dạy, Vua lại bạch Phật:
“Con nay ba lần xin quy y Phật, quy y Pháp, quy yTăng. Cúi mong nhận con làm Ưu-bà-tắc trong Chính pháp. Từ nay cho đến trọn đời, không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”Bấy giờ, Thế Tôn sau khi giảng pháp cho vua nghe, khai thị, giáo giới, khiến cho được ích lợi, hoan hỷ, bèn rời chỗ ngồi ra về. Vua A-xà-thế và Kì-bà Đồng tử sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 529 *
device

* Trang 530 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1