LOGO VNBET
4. KINH XÀ-NI-SA
 
[34b5] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành Na-đà,1 trú xứ Kiền-chùy,2cùng với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan ngồi ở tịnh thất, thầm nghĩ:“Kì diệu thay, hy hữu thay, Như Lai ký biệt 3 cho nhiều người, làm lợi ích cho nhiều người. Thứ nhất,4 đại thần Già-già-la mạng chung, Như Lai ghi nhận rằng, người này mạng chung, đoạn trừ năm hạ phần kết, được sinh lên trời mà diệt độ ở đó, không trở lại đời này.
“Thứ hai, Ca-lăng-già; thứ ba, Tỳ-già-đà; thứ tư, Giàlị-thâu; thứ năm, Giá-lâu; thứ sáu, Bà-giá-lâu; thứ bảy,Bà-đầu-lâu; thứ tám, Tẩu-bà-đầu; thứ chín, Tha-lêxa-nậu; thứ mười, Tẩu-đạt-lê-xá-nậu; thứ mười một,Da-thâu; thứ mười hai, Gia- thâu- đa- lâu. Các đạithần này mạng chung, họ cũng được ghi nhận, đoạn trừ năm hạ phần kết, liền sinh lên trời mà diệt độ ở đó, không phải sinh ở đây.
“Lại có năm mươi người khác nữa mạng chung, Phậtcũng đều ký biệt cho, đoạn trừ ba kết, tham dục, sân hận, ngu si mỏng, chứng đắc Tư-đà-hàm, một lần tái sinh vào đời này rồi tận diệt biên tế của khổ.
“Lại có năm trăm người nữa mạng chung, Phật cũng ghi nhận, ba kết đã diệt tận, chứng đắc Tu-đà-hoàn, không đọa ác thú, tối đa bảy lần tái sinh, chắc chắn sẽ diệt tận biên tế của khổ.
“Có đệ tử của Phật mệnh chung ở nơi này nơi kia, Phật đều ký biệt cho, người này sinh ở chỗ này, người kia sinh ở chỗ kia.
“Nước Ương-già, nước Ma-kiệt, nước Ca-thi, nước Cư-tát-la, nước
____________________________
* 佛說長阿含第一分闍尼沙經第四
1 Nguyên Hán: Na-đề 那提; đoạn trên, kinh số 2(ii), phiên âm là Nađà thôn 那陀村. Đây đọc là Na-đà cho thống nhất.T 9: Na-dề-ca 那提迦. Pl.: Nādikā, tên ấp.
2 Kiền-chùy trú xứ 揵椎住處. T 9: Côn-tả-ca tinh xá 崐左迦精舍. Pl.:Ginjakāvasatha, ngôi nhà ngói (Luyện ngõa đường 煉瓦堂).
3 Ký biệt 記別: thọ ký, xác nhận riêng biệt. Pl.: vyākaroti.
4 Danh sách 12 Cư sĩ được thọ ký, xem đoạn trên, kinh số 2 Du hành(T 1, tr. 13a).

* Trang 169 *
device

Bạt-kì, nước Mạt-la, nước Chi-đề, nước Bạt-sa, nước Cư-lâu, nước Ban-xà-la, nước Phả-thấp-ba, nước A-bàn-đề, nước Bà-ta, nước Tôla-sa, nước Càn-đa-la, nước Kiếm-phù-sa.5 Ở mườisáu nước này có người mạng chung Phật đều ký biệt. Nhưng, những người nước Ma-kiệt đều là người dòng họ vua,6 được vua tin dùng;7 có người mạng chung màPhật không ký biệt.”
Rồi thì A-nan rời tịnh thất đi đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ Thế Tôn, rồi ngồi sang một bên, và bạch Phật rằng:
“Vừa rồi ở tịnh thất con thầm nghĩ rằng: ‘Kì diệu thay, hy hữu thay, Phật ký biệt cho nhiều người, làm lợi ích cho nhiều người. Trong mười sáu nước lớn có người mạng chung Phật đều ký biệt cho. Duy người nước Makiệt, những người được vua tin dùng; có người mạng chung, [34c] độc nhất không được ký biệt.’ Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người đó! Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người đó. Vì lợi ích cho tất cả; vì sự an lạc của Chư Thiên và loài người.
“Lại nữa, Phật đắc đạo ở nước Ma-kiệt. Nhưng riêng người nước ấy khi mạng chung không được ký biệt. Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người ấy! Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người ấy.
“Lại nữa, vua Bình-sa, 8 vua nước Ma-kiệt, là ưu-bàtắc dốc lòng thành
________________________
5 Danh sách 16 nước lớn thời Phật: Ương-già 鴦伽, Ma-kiệt 摩竭,Ca-thi 迦尸, Cư-tát-la 居薩羅, Bạt-kì 拔祇, Mạt-la 末羅, Chi-đề 支提, Bạt-sa 拔沙, Cư-lâu 居樓, Ban-xà-la 般闍羅, Phả-thấp (TNM:thấp)-ba 頗(溼)波, A-bàn-đề 阿槃提, Bà-ta 婆蹉, Tô-la-bà 蘇羅婆, Càn-đà-la 乾陀羅, Kiếm-bình (TNM: phù)-sa 劍浮沙. Danhsách theo T 9: Ương-nga 盎誐國, Ma-ca-đà 摩迦陀國, Ca-thi 迦尸國, Kiêu-tát-la 憍薩羅國, Mật-lận-sa 蜜躪沙國, Đại lực sỹ 大力士國, Bôn-noa 奔拏國, Tô-ma 蘇摩國, A-thuyết-ca 阿說迦國,Phật-đế 嚩帝國, Câu-rô 俱嚕國, Bán-tả 半左國, Phạ-ta 嚩蹉國,Thú-ra-tây-na 戍囉西那國, Dạ-phạ-na 夜嚩那國, Cam-mô-nhạ 甘謨惹國. Đối chiếu Pl.: Aṅga, Magadha, Kasi, Kosala, Vajji, Malla,Ceti, Vaṃsa, Kuru, Pañcala, Assaka, Avanti, Maccha, Surasena,Gandhara, Kamboja.
6 Hán: vương chủng 王種. Có lẽ tương đương Pāli: rattaññu: (Phật tử)kỳ cựu; nhưng bản Hán đọc là rājañña: vương tộc.
7 Vương sở thân nhiệm 王所親任. Có lẽ tương đương Pāli: paricārika,người phục vụ, nô tì. Sớ giải Pāli: đây chỉ những người phụng sự Tam bảo (buddhadhammasaṅghānaṃ paricārake).
8 Bình-sa 缾沙. T 9: Tần-bà-sa-la 頻婆娑羅. Pl.: Bimbisāra.

* Trang 170 *
device

tín nơi Phật, đã nhiều lần thiết lễ cúng dường, sau đó mạng chung. Do vua ấy mà có nhiều người tin hiểu, cúng dường Tam Bảo. Nhưng nay Như Lai không thọ ký cho. Cúi mong Thế Tôn hãy thọ ký cho người ấy, vì ích lợi cho chúng sinh khiến cho trời và người đều an lạc.”
A-nan sau khi vì người Ma-kiệt thỉnh cầu Thế Tôn, bèn rời khỏi chỗ ngồi, lễ Phật rồi lui ra.
Bấy giờ, Thế Tôn đắp y ôm bát vào thành Na-đà.9 Sau khi khất thực, Ngài đi đến rừng lớn,10 ngồi dưới một gốc cây, tư duy về chỗ mà người Ma-kiệt tái sinh sau khi mạng chung.
Lúc ấy cách Phật không xa có một vị Quỷ thần 11 tự xưng tên mình, bạch Thế Tôn rằng:
“Con là Xà-ni-sa. Con là Xà-ni-sa” 12
Phật nói:
“Ngươi do sự việc gì mà xưng tên mình là Xà-ni-sa? Ngươi nhân bởi pháp gì mà bằng những lời vi diệu, tự xưng là đã thấy đạo tích?”13
Xà-ni-sa nói:
 “Không phải ở đâu khác mà con vốn là vua ở loài người,14 là ưu-bà-tắc ở trong pháp của Như Lai nhất tâm niệm Phật và mệnh chung, do đó được sinh là Thái tử của Tì-sa-môn Thiên vương. Từ đó đến nay con thường soi sáng các pháp, chứng đắc Tu-đà-hoàn không còn đọa ác đạo, ở trong bảy đời tái sinh, đều có tên là Xà-ni-sa.”
________________________
9 Nguyên Hán: Na-già thành 那伽城. Để bản có lẽ chép nhầm. Đoạn trên, phiên âm là Na-đề. Nơi khác, âm là Na-đà. T 9: “Thế Tôn vào thành Na-đề-ca khất thực.” D. 18 ibid.:… nādikaṃ piṇḍāya pāvisi:“vào Nādika để khất thực.”
10 Đại lâm 大林, không phải khu Đại lâm (Mahāvana) ở Tì-da-li(Vesāli).
11 Pl.: antarahito yakkho, một dạ xoa ẩn mình.
12 Phụ chú trong bản Hán: “Xà-ni-sa 闍尼沙, tiếng nước Tần là Thắng kết sử 勝結使. ” Pl.: Janavasabha, hay Janesabha, “trâu chúa giữa loài người.” T 9: Giữa hư không có tiếng kêu: “Thế Tôn, con là Nhân Tiên 人仙! Thiện Thệ, con là Nhân Tiên!”
13 Kiến đạo tích 見道跡(Pl.: paṭipada-dassana), đã thấy lối đi, chỉvị đã chứng quả Dự lưu.
14 D18 : vị Dạ-xoa này sau đó hiện hình và tự xác nhận: bimbisāroahaṃ bhagavā; bimbisāro ahaṃ sugatā, “Thế Tôn, con làBimbisāra! Thiện Thệ, con là Bimbisāra!”

* Trang 171 *
device

Thế Tôn sau khi tùy nghi nghỉ ở đại lâm lại đi đến trú xứ Kiền-chùy ở Na-đà,15 ngồi lên chỗ dọn sẵn rồi nói với một Tỳ-kheo: “Ngươi mang lời Ta đi gọi A-nan đến đây:”
Tỳ-kheo đáp: “Kính vâng.” Rồi vâng lời Phật dạy đi gọi A-nan. Lát sau A-nan đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên và bạch Phật rằng:
“Nay con xem Như Lai nhan sắc hơn hẳn bình thường, các căn tịch định. Thế Tôn đang an trú tư duy gì mà nhan sắc như vậy?”
Phật bảo A-nan:
“Ngươi vừa rồi vì người nước Ma-kiệt đến chỗ Ta thỉnh cầu ký biệt, sau đó lui đi. Lát sau Ta khoác y ôm bát vào thành Na-đà16 khất thực. Sau khi khất thực, ta đi đến đại lâm kia ngồi dưới một gốc cây, tư duy về chỗ mà người Ma-kiệt tái sinh. Lúc đó cách ta không xa có một vị Quỉ thần tự xưng tên và bạch ta rằng:
[35a] ‘Con là Xà-ni-sa.’ A-nan, ngươi đã từng nghe tên Xà-ni-sa kia chưa?”
A-nan bạch Phật:
“Con chưa từng nghe. Nay nghe tên ấy, con cảm thấy sợ hãi, lông tóc dựng ngược. Thế Tôn, vị Quỷ thần ấy ắt có oai đức lớn nên mới có tên Xà-ni-sa.”
Phật nói:
“Ta hỏi vị ấy trước rằng: ‘Ngươi nhân pháp gì mà bằng lời nói vi diệu tự xưng là đã thấy đạo tích?’ Xàni-sa nói: ‘Con không phải ở nơi khác; không phải tại pháp khác. Xưa con là vua của loài người, là đệ tử của Thế Tôn, với tín tâm chí thành con là một ưu-bà-tắc nhất tâm niệm Phật, sau đó mạng chung làm con trai của Tì-sa-môn Thiên vương, chứng đắc Tu-đà-hoàn, không còn đọa ác thú, tối đa bảy lần tái sinh rồi diệt biên tế của khổ, ở trong bảy đời tái sinh có tên thường là Xà-ni-sa. Một thời Thế Tôn ở tại Đại lâm ngồi ở một gốc cây, khi ấy con cỡi cỗ xe báu có nghìn căm. Do có nhân duyên nhỏ, con muốn đến Tì-lâu-lặc Thiên vương,17 từ xa con thấy Thế Tôn ngồi ở dưới một gốc cây, nhan mạo
__________________________
15 Na-đà 那陀, ở trên đọc là Na-đề 那提.
16 Na-la 那羅, ở trên nói là Na-già, có khi nói là Na-đà, cũng tức là Na-đề. Xem cht. 1, tr. 147.
17 T 9: Tăng Trưởng Thiên vương ở phương Nam 南方增長天王.

* Trang 172 *
device

đoan chính, các căn tịch định, ví như ao sâu trong veo, tĩnh lặng, trong sáng. Sau khi thấy, con tự nghĩ: Ta nên đến hỏi thăm Thế Tôn rằng người nước Makiệt có người mạng chung sẽ tái sinh ở chỗ nào.
“Lại nữa, một thời Tì-sa-môn Thiên vương tự mình ở trong đại chúng mà nói kệ rằng:
Chúng ta không tự nhớ,
Việc trải qua quá khứ
Nay may gặp Thế Tôn
Thọ mạng được tăng thêm.
“Lại nữa, một thời Chư Thiên Đao-lị do chút nhân duyên, tập họp tại một chỗ. Khi ấy Tứ Thiên vương mỗi người ngồi đúng trên chỗ ngồi của mình. Đề-đầulại-tra ngồi ở phương Đông xoay mặt phía Tây; Đế Thích ở phía trước. Tì-lâu-lặc Thiên vương ngồi ở phía Nam xoay mặt hướng Bắc, Đế Thích phía trước. Tì-lâu-bác-xoa Thiên vương ngồi phía tây xoay mặt hướng đông; Đế Thích ở phía trước. Tì-sa-môn Thiên vương ngồi ở phía Bắc, xoay mặt hướng Nam; Đế Thích ở phía trước.
“Sau khi bốn Thiên vương ngồi xong con mới ngồi. Lại còn có các đại thiên thần khác đã từng theo Phật tịnh tu phạm hạnh, chết ở đây mà sinh lên trời Đao-lị, làm tăng thêm Chư Thiên, hưởng thọ năm phước báo nhà trời: 1. Tuổi thọ trời. 2. Nhan sắc trời. 3. Danh tiếng trời. 4. Phước lạc trời. 5. Oai đức trời. Khi ấy Chư Thiên Đao-lị vui mừng phấn khởi nói: Tăng thêm chúng Chư Thiên, giảm thiểu chúng [35b] A-tu-la.
“Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân, biết Chư Thiên Đaolị có tâm hoan hỷ, liền nói kệ rằng:
Chúng Chư Thiên Đao-lị,
Cùng Đế Thích hoan lạc,
Cung kính lễ Như Lai,
Đấng Pháp vương tối thượng.
Chư Thiên thọ phước báo,
Thọ, sắc, danh, lạc, uy.
Theo Phật tu phạm hạnh,
Nên sinh vào nơi đây.
Lại có các Thiên nhân,
Ánh màu sáng chói lọi.
Đệ tử trí tuệ Phật,
Sinh đây càng trổi vượt.
Đao-lị và Nhân Đề,

* Trang 173 *
device

Nghĩ thế mà sung sướng.
Cung kính lễ Như Lai,
Ðấng Pháp vương tối thượng.”
Thần Xà-ni-sa-lại nói:
“Sở dĩ Chư Thiên Đao-lị tập hợp ở Pháp đường ấy là để cùng thương nghị, tư duy, quan sát, thương lượng, giáo lệnh được ban hành, rồi sau đó trao cho bốn Thiên vương. Bốn Thiên vương sau khi nhận giáo lệnh, mỗi người tự ngồi vào vị trí của mình.
 “Họ ngồi chưa bao lâu, có ánh sáng dị thường to lớn chiếu khắp cả bốn phương. Khi Chư Thiên Đao-lị thấy ánh sáng dị thường này, thảy đều hết sức kinh ngạc: ‘Nay ánh sáng dị thường này chắc có sự quái lạ gì chăng?’ Các thiên thần lớn có oai đức khác cũng đều kinh ngạc: ‘Nay ánh sáng dị thường này chắc có sự quái lạ gì chăng?’ Rồi thì Đại Phạm Vương bèn hóa làm đồng tử, đầu có năm chõm đứng trong hư không bên trên thiên chúng, nhan sắc đoan chính siêu tuyệt mọi người, thân màu vàng tía che mờ ánh sáng Chư Thiên. Khi ấy, Chư Thiên Đao-lị không đứng dậy nghinh đón cũng không cung kính lại cũng không mời ngồi. Lúc bấy giờ, Phạm Đồng tử ngồi qua chỗ ngồi của vị trời nào thì vị ấy hoan hỷ. Ví như vua Quán Đảnh dòng Sát-lị khi làm lễ đăng quang thì hoan hỷ phấn khởi. Đồng tử ngồi chưa lâu, lại tự mình biến thân làm hình tượng Đồng tử đầu có năm chỏm ngồi trên hư không, bên trên đại chúng. Ví như lực sĩ ngồi trên chỗ ngồi vững vàng, vòi vọi bất động,18 và nói bài tụng rằng:
Đấng Chí Tôn, điều phục,
Dạy đời sinh chỗ sáng,
Sáng bừng, diễn pháp sáng,
Chứng phạm hạnh tuyệt luân,
Khiến chúng sinh thanh tịnh,
Sinh lên trời Tịnh diệu.
“Phạm Đồng tử sau khi nói bài kệ này, bảo Chư Thiên Đao-lị rằng: ‘Những âm thanh nào có năm thứ thanh tịnh thì được gọi là Phạm thanh.19 Những gì là năm? Một là, âm ấy chính trực. [35c] Hai là âm ấy hòa nhã. Ba là, âm ấy trong suốt. Bốn là, âm ấy đầy sâu. Năm là nghe xa khắp nơi. Đủ năm âm ấy mới được gọi là Phạm âm. Nay ta lại nói, vậy
______________________________
18 Xem kinh số 3. Đại Điển Tôn ở trên.
19 T 9, năm loại tiếng của Phạm thiên: tiếng chim ca-lăng-tần-già,tiếng trống lớn, tiếng sấm lớn, tiếng ái lạc. D18 (ii 211): 8 loại tiếng.

* Trang 174 *
device

các ngươi hãy lắng nghe. Đệ tử của Như Lai, ưu-bà-tắc Ma-kiệt, mạng chung có người chứng đắc A-na-hàm, có người chứng đắc Tư-đà-hàm, có người chứng đắc Tu-đà-hoàn, có người sinh lên trời Tha hóa tự tại, có người sinh lên trời Hóa tự tại, trời Đâu-suất, trời Diệm-ma, trời Đao-lị, Tứ thiên vương. Có người sinh vào gia đình lớn của Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sỹ, ngũ dục tự nhiên.
“Rồi Phạm Đồng tử đọc bài kệ:
Ưu-bà-tắc Ma Kiệt,
Có những ai mạng chung,
Tám vạn bốn ngàn người,
Ta nghe đều đắc đạo.
Thành tựu Tu-đà-hoàn,
Không còn đọa ác thú.
Đều đi đường bình chính,
Đắc đạo, hay cứu tế.
Những đám quần sinh này,
Phù trì bởi công đức,
Trí tuệ xả ân ái,
Tàm quí, lìa dối trá.
Đại chúng Chư Thiên kia,
Phạm Đồng ghi nhận thế,
Rằng đắc Tu-đà-hoàn,
Chư Thiên đều hoan hỷ.
“Tì-sa-môn Thiên vương sau khi nghe bài kệ này thì hoan hỷ và nói: ‘Thế Tôn ra đời nói pháp chân thật, kì diệu thay, hy hữu thay, chưa từng có vậy! Ta trước không biết Như Lai ra đời nói pháp như vậy. Trong đời vị lai lại sẽ có Phật nói pháp như vậy có thể khiến Chư Thiên Đao-lị sinh tâm hoan hỷ.’
“Bấy giờ Phạm Đồng tử nói với Tì-sa-môn thiên vương: ‘Vì sao ngươi nói lời này: Như Lai ra đời nói pháp như vậy, kì diệu thay, hy hữu thay, chưa từng có vậy! Như Lai bằng năng lực phương tiện nói thiện và bất thiện, nói pháp một cách đầy đủ mà vô sở đắc. Nói pháp không tịch mà hữu sở đắc. Pháp ấy vi diệu như đề hồ.’
“Rồi Phạm Đồng tử nói với Chư Thiên Đao-lị rằng:‘Các ngươi hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ kĩ, ta sẽ nói cho các ngươi nghe! Như Lai, Chí

* Trang 175 *
device

Chân khéo léo phân biệt nói bốn niệm xứ. Những gì là bốn? Quán thân trên nội thân,20 tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Quán thân trên ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Quán nội ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán tâm, quán pháp cũng [36a] vậy, tinh cần không biếng nhác, chính niệm, chính tri, trừ tham ưu ở đời. Sau khi quán nội thân, phát sinh trí về thân khác. 21 Sau khi quán thọ bên trong, phát sinh trí về thọ khác. 22 Sau khi quán tâm ở bên trong phát sinh trí về tâm khác. 23 Sau khi quán pháp ở bên trong, phát sinh trí về pháp khác. 24 Ấy là Như Lai khéo léo phân biệt thuyết bốn niệm xứ.
“ ‘Lại nữa, Chư Thiên, các người hãy lắng nghe, ta sẽ nói thêm nữa! Như Lai khéo léo phân biệt nói bảy định cụ. 25 Những gì là bảy? Chính kiến, chính tư
duy , 26 chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, 27 chính niệm. Ấy là Như Lai khéo léo phân biệt nói bảy định cụ.
“ ‘Lại nữa, Chư Thiên, Như Lai khéo léo phân biệt nói bốn thần túc. Những gì là bốn? Một, tu tập dục định đoạn hành thành tựu thần túc. 28 Hai, tinh tấn định
đoạn hành thành tựu thần túc. Ba, tâm định đoạn hành
_______________________
20 Để bản: Nội thân quán 內身觀, sót một chữ thân; TNM: nội thân thân quán 內身身觀. Pāli, thành cú: ajjhattaṃ kāye kāyānupassīviharati.
21 Cf. D18 (ii 216): bahiddhā parakāye ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti,sinh khởi tri kiến về thân (người) khác ở bên ngoài. Sớgiải: attano kāyato parassa kāyābhimukhaṃ ñāṇaṃ peseti, từ thân của chính mình dẫn sinh nhận thức hướng đến thân của người khác.
22 Tha thọ trí 他受智. paravedanāsu ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti.
23 Tha ý trí 他意智. Pl. paracitte ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti.
24 Tha pháp trí 他法智. Pl. paradhammesu ñāṇadassanaṃ abhinibbatteti.
25 Định cụ 定具. Pl.: samādhi-parikkhara, bảy tư cụ, hỗ trợ định.
26 Nguyên Hán: chánh chí 正志.
27 Nguyên Hán: chánh phương tiện 正方便.
28 Nguyên Hán: dục định diệt hành thành tựu tu tập thần túc 欲定滅行成就修習神足. Pāli, định cú: chanda(vīriya, citta, vīmaṃsa)samādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti: tu tập thần túc màđược thành tựu bởi hành tinh cần do chính định trên dục (tinh tấn, tâm,tư duy). Cf. Tập dị 5 (tr. 391c26): dục (cần, tâm, quán) tam-ma-địa đoạnhành thành tựu thần túc.

* Trang 176 *
device

thành tựu thần túc. Ba, tâm định đoạn hành thành tựu thần túc. Bốn, tư duy định đoạn hành thành tựu thần túc.29 Ấy là Như Lai khéo léo phân biệt giảng thuyết bốn thần túc.”
“ Lại bảo Chư Thiên: ‘Quá khứ các Sa-môn, Bà-lamôn, bằng vô số phương tiện, hiện vô lượng thần túc, đều khởi lên từ bốn thần túc này. Giả sử tương lai các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện hiện vô lượng thần túc, cũng từ do bốn thần túc này mà khởi lên. Hiện tại các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện hiện vô lượng thần túc, cũng từ do bốn thần túc này mà khởi lên.’
“Rồi Phạm Ðồng tử bèn tự biến hóa hình thành ba mươi ba thân cùng với ba mươi ba vị thiên thần từng cặp cùng ngồi và bảo rằng: ‘Ngươi nay có thấy năng lực thần biến của ta không?’ Đáp: ‘Thưa vâng, đã thấy.’ Phạm Đồng tử nói: ‘Ta cũng do tu bốn thần túc cho nên có thể biến hóa vô số như thế.’ Rồi ba mươiba vị thiên mỗi người riêng nghĩ: ‘Nay Phạm Đồng tử ngồi riêng với ta mà nói lời nói như vậy.’ Nhưng khi một hóa thân của Phạm Đồng tử kia nói thì các hóa thân khác cũng nói; một hóa thân im lặng các hóa thân khác cũng im lặng.
 “Bấy giờ, Phạm Đồng tử ấy thâu lại thần túc rồi ngồi trên chỗ ngồi của Đế Thích, nói với Chư Thiên Đao-lị rằng: Ta nay sẽ nói. Các ngươi hãy lắng nghe! Như Lai, Chí Chân tự mình bằng năng lực của mình đã mở ra ba lối đi30 và tự mình đã đi đến Chính giác. Những gì là ba? Hoặc có chúng sinh thân cận tham dục, tập nhiễm hành vi bất thiện. Người ấy về sau gặp thiện tri thức, được nghe nói pháp, thành tựu pháp tùy pháp.
Rồi thì người ấy ly dục, dứt bỏ hành vi bất thiện, được tâm hoan hỷ, điềm nhiên khoái lạc. Lại ở trong lạc màphát sinh đại hỷ.31 Như người bỏ đồ ăn thô mà ăn thức ăn có trăm vị, [36b] sau khi đã no, lại còn muốn hơn nữa. Hành giả cũng vậy. Lìa pháp bất thiện được hoan hỷ lạc. Lại ở trong lạc mà phát sinh đại hỷ. Ấy là NhưLai tự mình bằng năng lực của mình đã mở ra lối đi thứ nhất mà thành Chính giác.32
“Lại có chúng sinh phần nhiều hay sân hận, không dứt bỏ ác nghiệp của
___________________________
29 Bốn thần túc, tham chiếu Tập dị môn luận 6, (tr. 391c): 1. Dục tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc 欲三摩地斷行成就神足. 2. Cần tam ma địa 勤三摩地. 3. Tâm tam ma địa 心三摩地. 4. Quán tam ma địa 觀三摩地. Xem cht. trên.
30 Kính lộ 徑路, Pl.: okāsadhigama, khai thị (= chứng đắc) con đường tắt.
31 Pl.: sukhā bhiyyo somanassaṃ, lại phát sinh hoan hỷ thù thắng hơnlạc.
32 Sớ giải Pāli: chứng đắc sơ thiền, sau khi trấn áp năm triền cái.

* Trang 177 *
device

thân, của khẩu và ý.33 Người ấy về sau gặp thiện tri thức, được nghe nói pháp, thành tựu pháp tùy pháp, xa lìa ác hành của thân, ác hành của khẩu và ý, sinh tâm hoan hỷ, điềm nhiên khoái lạc. Lại ở trong lạc mà sinh đại hỷ. Như người xả bỏ thức ăn thô mà ăn thức ăn trăm vị, sau khi đã no đủ rồi còn cầu cái ngon hơn nữa. Hành giả cũng vậy. Lìa pháp bất thiện, được hoan hỷ lạc. Lại ở trong lạc mà phát sinh đại hỷ. Ấy là Như Lai mở ra lối đi thứ hai.34
‘Lại có chúng sinh ngu tối, vô trí, không biết thiện ác, không thể biết như thật về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Người ấy về sau gặp thiện tri thức, được nghe nói pháp, thành tựu pháp tùy pháp, biết rõ thiện và bất thiện, có thể biết như thật Khổ Tập Diệt Đạo, dứt bỏ hành vi bất thiện, sinh tâm hoan hỷ, điềm nhiên khoái lạc. Lại ở trong lạc mà sinh đại hỷ. Như người xả bỏ thức ăn thô mà ăn thức ăn trăm vị, sau khi đã no đủ rồi còn cầu cái ngon hơn nữa. Hành giả cũng vậy. Lìa pháp bất thiện, được hoan hỷ lạc. Lại ở trong lạc mà phát sinh đại hỷ. Ấy là Như Lai mở ra lối đi thứ ba.”35
Sau khi Phạm Đồng tử giảng nói Chính pháp này cho Chư Thiên Đao-lị; Tì-sa-môn Thiên vương lại nói Chính pháp ấy cho thuộc hạ của mình. Thần Xà-nisa lại ở trước Phật nói Chính pháp ấy. Thế Tôn lại nói Chính pháp ấy cho A nan. A-nan lại nói Chính pháp ấy cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.
___________________________
31 Pl.: sukhā bhiyyo somanassaṃ, lại phát sinh hoan hỷ thù thắng hơnlạc.
32 Sớ giải Pāli: chứng đắc sơ thiền, sau khi trấn áp năm triền cái.
33 Pāli: thân hành, khẩu hành, ý hành thô trược chưa được an tĩnh(oḷārikākāyasaṃkhārā,vacīsaṃkhārā, cittasaṃkhārā appaṭippassaddhā).Sớ giải: thân hành hành được đoạn trừ bởi đệ tứ thiền; khẩu hành bởiđệ nhị thiền; tâm hành bởi diệt định.
34 Sớ giải Pāli: kính lộ thứ hai là đệ tứ thiền, sau khi trấn áp khổ lạc.
35 Sớ giải Pāli: kính lộ thứ ba, A-la-hán đạo (arahattamagga), sau khi trấn áp tất cả phiền não.

* Trang 178 *
device

Bấy giờ A-nan, sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành.36
_____________________
36 Bản Hán, hết quyển 5.

* Trang 179 *
device

* Trang 180 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1