LOGO VNBET
TRƯỜNG A HÀM
PHẦN II


5. KINH TIỂU DUYÊN
 
[36b29] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại Xá-vệ, trong vườn Thanh Tín, giảng đường Lộc Mẫu,1 cùng đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị.
Lúc ấy, có hai người Bà-la-môn với lòng tin kiên cố tìm đến chỗ Phật xin xuất gia học đạo, một tên là Bàtất- tra2 một tên là Bà-la-đọa.3
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn rời khỏi tịnh thất, đang kinh hành thong thả trên giảng đường. Bà-tất-tra vừa trông thấy Phật liền vội vàng đến bảo Bà-la-đọa:
“Anh biết không, Như Lai hiện đang rời khỏi tịnh thất, kinh hành tại giảng đường. Chúng ta nên đến đó, hoặc có nghe Ngài dạy bảo điều gì chăng?”
Bà-la-đọa nghe nói thế liền cùng đi đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ chân Phật, rồi đi theo sau Phật.
Phật nói với Bà-tất-tra:
 “Hai người vốn sinh trong dòng Bà-la-môn, với lòng tin kiên cố, muốn xuất gia tu hành ở trong giáo pháp Ta phải không?”
Hai người đáp:
_____________________________
* 第二分初小緣經第一
1 Thanh Tín viên lâm Lộc Mẫu giảng đường 清信園林鹿母講堂. T10: Giảng đường Lộc Mẫu trong khu rừng hoang phế 廢園林鹿母堂. T 26 (154): Đông viên Lộc Tử Mẫu đương東園鹿子母堂. D 27: Pubbārama Migāramātupāsāda.
2 Bà-tất-tra 婆悉吒. T 10: Bạch Y 白衣. T 26(154): Bà-tư-tra 婆私吒. D 28: Vāseṭṭha..
3 Bà-la-đọa 婆羅墮, T 10: Kim Tràng 金幢. T 26(154): Bà-la-bà 婆羅婆. D 28: Bhāradvāja.

* Trang 183 *
device

“Thưa phải.”
Phật nói:
“Này Bà-la-môn, nay các ngươi xuất gia tu hành ở trong giáo pháp Ta, các người Bà-la-môn khác há không hiềm trách các ngươi?”
Hai người đáp:
“Thưa có. Mong nhờ ơn lớn của Phật được xuất gia tu đạo, thật sự chúng con không khỏi bị các người Bàla-môn hiềm trách.”
Phật dạy:
“Họ lấy lẽ gì mà hiềm trách các ngươi?”
Hai người đáp:
“Họ nói rằng: ‘Dòng Bà-la-môn ta tối cao bậc nhất, các dòng khác thấp hèn. Dòng ta trắng trẻo, các dòng khác đen điu. Dòng Bà-la-môn ta xuất xứ từ Phạm Thiên, từ miệng Phạm Thiên sinh ra, hiện tại thanh tịnh,4 về sau cũng thanh tịnh. Cớ gì các ngươi lại bỏ dòng thanh tịnh của mình mà vào trong dị pháp của Cù-đàm kia?’ Bạch Thế Tôn, thấy chúng con ở trong Phật pháp mà xuất gia tu đạo nên họ lấy lời lẽ như thế chê trách chúng con.”
Phật bảo Bà-tất-tra:
“Này Bà-tất-tra, ngươi hãy xem, những kẻ ngu si vô thức như cầm thú ấy dối trá tự xưng rằng: ‘Dòng Bà-la-môn là tối cao bậc nhất, còn ngoài ra là hèn hạ. Dòng ta trắng trẻo, các dòng khác đen điu. Dòng Bà-la-môn ta xuất xứ từ Phạm Thiên, từ miệng Phạm Thiên sinh, ở ngay trong hiện tại mà được thanh tịnh giải, về sau cũng thanh tịnh.’ Này Bà-tất-tra, nay trong Đạo vô thượng chân chính của Ta không cần kể dòng dõi, không ỷ vào tâm kiêu mạn ngô ngã. Pháp thế tục cần thứ đó. Pháp của Ta không phải vậy. Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào tự thị chủng tộc, ôm lòng kiêu mạn thì ở trong giáo pháp Ta trọn không chứng đắc vô thượng. Nếu ai có thể khước từ chủng tính, trừ bỏ tâm kiêu mạn, người ấy mới có thể chứng được đạo quả trong giáo pháp Ta,
________________________
4 Ư hiện pháp trung đắc thanh tinh giải 得清淨解: ngay trong đời hiện tại mà được sự giải thoát thanh tịnh. Nhưng đoạn dưới: hiện đắc thanh tịnh hậu diệc thanh tịnh 現得清淨後亦清淨. Ý nghĩa: dòng họ thuần chủng, đời này cho đến đời sau. Bản Hán ở đây có thể đọc khác đi so với định cú thường gặp: “được hóa sinh bởi Phạm Thiên, là thừa tự của Phạm Thiên.” Pāli, định cú:brahmanimmitā brahmadāyādā.

* Trang 184 *
device

mới kham lãnh thọ được Chính pháp. Người đời gớm ghét kẻ hạ lưu, [37a] còngiáo pháp Ta không thế.”
“Này Bà-tất-tra, có bốn chủng tính, trong đó có cả người thiện lẫn người ác; có kẻ được người trí khen, cũng có kể bị người trí chê. Bốn chủng tính ấy là: Sát-lị,
Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la.
“Này Bà-tất-tra, ngươi có từng nghe trong dòng Sátlị có kẻ sát sinh, có kẻ trộm cắp, có kẻ dâm loạn, kẻ dối trá, kẻ nói hai lưỡi, kẻ nói ác độc, có kẻ ỷ ngữ, có kẻ xan tham, có kẻ tật đố, có kẻ tà kiến, thì trong dòng Bà-la-môn, Cư-sĩ, Thủ-đà-la cũng có lẫn lộn đủ hạng người làm mười ác hành đó? Này Bà-tất-tra, phàm làm điều bất thiện thì có quả báo bất thiện, làm điều hắc ám thì có quả báo hắc ám. Nếu nói rằng quả báo đó chỉ có với dòng Sát-lị, Cư-sỹ, Thủ-đà-la chứ không có với dòng Bà-la-môn, khi ấy người Bà-la-môn mới nên tự cho dòng Bà-la-môn ta là tối cao bậc nhất, còn các dòng khác thấp hèn, dòng ta trắng trẻo, các dòng khác đen điu; dòng Bà-la-môn ta xuất hiện từ Phạm Thiên, từ miệng Phạm Thiên sinh ra, hiện tại thanh tịnh, về sau cũng thanh tịnh. Trái lại nếu nói rằng làm điều bất thiện thì có quả báo bất thiện, làm điều hắc ám thì có quả báo hắc ám, quả báo đó bất cứ Bà-la-môn, Sát-lị, hay Thủ- đà-la đều có như nhau, thời người Bà-la-môn không thể tự xưng chỉ dòng ta là thanh tịnh tối cao bậc nhất.
 “Này Bà-tất-tra, nếu trong dòng Sát-lị có kẻ không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không hai lưỡi, không ác khẩu, không ỷ ngữ, không xan tham, không tật đố, không tà kiến, thời trong dòng Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la cũng đều có hạng người tu mười điều thiện như thế. Phàm làm điều thiện, tất có quả báo thiện, làm điều thanh bạch tất có quả báo thanh bạch. Nếu nói rằng quả báo đó chỉ có với dòng Bà-la-môn mà không có với dòng Sát-lị, Cư sỹ, Thủ- đà-la khi ấy người dòng Bà-la-môn mới nên tự xưng dòng mình thanh tịnh tối cao bậc nhất. Trái lại, nếu cả bốn chủng tính đều có quả báo đó, thời người Bà-lamôn không thể tự xưng chỉ dòng ta là thanh tịnh tối cao bậc nhất.
“Này Bà-tất tra, nay hiện thấy dòng Bà-la-môn có gả cưới, có sinh sản không khác người đời, thế mà lại dối xưng ta là dòng Phạm Thiên, từ miệng Phạm Thiên sinh ra, hiện tại được thanh tịnh, về sau cũng thanh tịnh.
“Này Bà-tất-tra, ngươi nên biết, hiện nay trong chúng đệ tử của Ta dòng dõi không đồng, xuất xứ khác nhau, xuất gia tu hành ở trong giáo pháp Ta. Nếu có ai hỏi:
‘Người thuộc dòng nào?’ thì nên trả lời [37b] rằng:

* Trang 185 *
device

‘Tôi là Sa-môn, con dòng họ Thích.5Hoặc có thểtự xưng: ‘Tôi dòng Bà-la-môn,6 tôi đích thực sinh ra từ miệng Phật, hóa sinh từ Pháp, hiện tại được thanh tịnh, về sau cũng thanh tịnh.7 Tại sao thế? Vì các danh xưng Đại Phạm tức là đức hiệu Như Lai. NhưLai là con mắt của thế gian, là trí tuệ của thế gian, làpháp của thế gian, là Phạm của thế gian, là Pháp luân của thế gian, là Cam lồ của thế gian, là Pháp chủ của thế gian vậy.8
“Này Bà-tất-tra, nếu trong dòng Sát-lị có người thành tín Phật, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chính Giác,mười hiệu đầy đủ. Người ấy thành tín Pháp, tin pháp của Như Lai, là thanh tịnh vi diệu, có thể tu hành ngay hiện tại, được nói ra không hạn cuộc thời tiết, là pháp đưa đến Niết-bàn, duy người trí mới thấu rõ, chẳng phải kẻ phàm phu ngu si thấu rõ được. Người ấy thành tín Tăng, tính thiện chất trực, đạo quả thành tựu, quyến thuộc thành tựu, là đệ tử chân chính của Phật, thành tựu pháp tùy pháp. Nói đó là Chúng, tức là nói Chúng thành tựu giới, Chúng thành tựu định, Chúng thành tựu tuệ, Chúng giải thoát, Chúng giải thoát tri kiến. Đó là Chúng Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn quả; Chúng Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm quả; Chúng A-na-hàm hướng, A-na-hàm quả; Chúng A-la-hán hướng; Chúng A-la-hán quả; gồm bốn đôi tám bậc. Đó là Chúng đệ tử của Như Lai, rất đáng kính, đáng tôn trọng, làm ruộng phước của thế gian; xứng đáng lãnh thọ sự cúng dường của người. Người ấy thành tín giới, là giới luật Thánh Hiền đầy đủ, không khuyết lậu, không tỳ vết, cũng không dính nhơ, được người trí ngợi khen, đầy đủ thiện tịch. Này Bà-tất-tra, người dòng Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la cũng có thểnhư thế, là thành tín Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin thánh
___________________________-
5 Sa-môn Thích chủng tử 沙門釋種子. Pl.: samaṇā sakyaputti yāmhā:Chúng tôi là Sa-môn, con trai nhà họ Sakya.
6 Ngã thị Bà-la-môn chủng 我是婆羅門種, TNM: … Sa-môn chủng 沙門種. D 27, ibid.: bhagavatomhi putto oraso mukhato jātodhammajāto dhammanimitto dhammadāyādo’ti: “Tôi là con đích thực của Thế Tôn, sinh ra từ miệng, được sinh bởi pháp, hóa sinh bởi pháp, thừa tự của pháp.”
7 Định cú thường gặp trong các Hán dịch khác, Tạp A-hàm (T 125), Đại Bát-nhã (T 220), Pháp hoa (T 262), …: tùng pháp hóa sinh, đắc Phật pháp phần 從法化生,得佛法分, “được hóa sinh bởi pháp; là
kẻ thừa tự pháp.” Pāli, định cú: dhammanimitto dhammadāyādo’ti.
8 D 27 (iii 84): Những từ sau đây đồng nghĩa với từ Như Lai (tathāgata): dhammakāya (Pháp thân), brahmakāya (Phạm thân), dhammabhūta (Pháp thể), brahmabhūta (Phạm thể).

* Trang 186 *
device

giới thành tựu.
“Này Bà-tất-tra, trong dòng Sát-lị cũng có người cúng dường, cung kính, lễ bái A-la-hán. Dòng Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la cũng đều có người cúng dường,cung kính, lễ bái A-la-hán như thế.
‘Này Bà-tất-tra, nay thân tộc Ta, dòng họ Thích, cũng tôn phụng vua Ba-tư-nặc, tôn thờ lễ kính. Nhưng vua Ba-tư-nặc9 cũng lại đến cúng dường, kính lễ Ta. Vua không nghĩ rằng: ‘Vì Sa-môn Cù-đàm sinh từ dòng hào quí còn ta sinh dòng hạ tiện. Sa-môn Cù-đàm sinh trong nhà đại tài phú, đại oai đức còn ta sinh nhà hạ cùng bỉ lậu ty tiện. Cho nên ta phải đến cúng dường Như Lai.’ Nhưng Ba-tư-nặc căn cứ trên pháp, quán sát pháp, biết rõ chân ngụy, cho nên mới sinh lòng tịnh tín đến kính lễ cúng dường Như Lai.
“Này Bà-tất-tra, nay Ta sẽ vì ngươi nói rõ nhân duyên của bốn chủng tính ấy.
“Trời đất thủy chung, khi kiếp tận băng hoại, chúng sinh mệnh chung đều sinh lên cõi trời Quang âm;10 tự nhiên hóa sinh, [37c] ăn bằng niệm, mình phát ánh sáng và có thần túc bay trong hư không.11
“Về sau, cõi đất này thảy biến thành nước trùm ngập tất cả. Vào lúc ấy không có mặt trời, mặt trăng, các sao, cũng không có kể ngày đêm, năm, tháng, số tuổi. Duy có một vùng tối tăm bao la. Sau dần dần biển nước đó lại biến thành cõi đất. Các vị trời Quang âm đến lúc hết phước, mệnh chung, sinh xuống nơi này. Tuy sinh xuống đó, song vẫn ăn bằng niệm, còn có thần túc bay đi, thân còn tỏa sáng. Chúng sống như thế một thời gian lâu và ai cũng gọi nhau là ‘chúng sinh! chúng sinh!’12
“Về sau nữa, từ trong cõi đất nầy có suối ngọt chảy ra giống như mật
______________________
9 T 10: Kiêu-tát-la chủ Thắng Quân Đại vương 憍薩羅主勝軍大王.T 26(154): Ba-tư-nặc Câu-sa-la vương 波斯匿拘娑羅王. Pāli: rājāPasenadi Kosalo.
10 Quang âm thiên 光音天. T 26(154): Hoảng dục thiên 晃昱天.Huyền Tráng: Cực quang tịnh thiên 極光淨天. Cũng có chỗ dịch là Thủy âm thiên水音天. Pl.: Ābhassara.
11 D 27 (iii 84): manomayā pītibhakkhā sayaṃpabhā antalikkhacarā,được sinh bởi ý (= ý thành thân), ăn bằng hỷ, tự mình phát ánhsáng, phi hành trong hư không.
12 Pāli, ibid. 85: na itthipumā paññāyanti, sattā sattātveva saṅkhyaṃgacchanti, (lúc bấy giờ) không có ý niệm nam nữ, mà chỉ gọi là“chúng sinh.”

* Trang 187 *
device

bơ.13 Chúng khi mới đến, thiên tính còn nông nổi,14 thấy vậy nghĩ thầm: ‘Đó là vật gì, ta hãy nếm thử?’ Liền nhúng ngón tay vào suối để nếm thử, nếm tới ba lần, cảm thấy ngon, chúng mới lấy tay bụm ăn không chút e ngại, và cứ mê say ăn như thế chẳng biết nhàm. Các chúng sinh khác nhìn thấy, bắt chước làm theo, nếm đến ba lần, cảm thấy ngon rồi cũng tiếp tục ăn mãi, do đó, thân chúng trở nên thô kệch, da thịt cứng rắn, mất cả màu sắc đẹp đẽ nhà trời, thần túc không còn, phải đi trên đất, ánh sáng nơi thân cũng mất, cả trời đất tối tăm.
“Này Bà-tất-tra, nên biết pháp thường của trời đất: sau thời gian tối tăm thì có thiên tượng: mặt trời, trăng, sao, xuất hiện ở không trung, rồi từ đó bắt đầu có ngày đêm, tối sáng, năm tháng, số tuổi. Chúng sinh lúc này chỉ nhờ ăn vị đất mà sống lâu trong thế gian. Người nào ham ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người nào ăn ít thì nhan sắc còn tươi nhuận, do đó mới bắt đầu có sự tốt xấu, xinh đẹp. Người xinh đẹp thì sinh tâm kiêu mạn khinh người xấu xí. Người xấu xí thì sinh tâm tật đố ghét người xinh đẹp. Chúng sinh do đó thù nghịch với nhau.
“Bấy giờ suối ngọt tự nhiên cạn khô. Về sau, cõi đất tự nhiên lại sinh ra chất béo của đất15 có đủ mùi vị thơm tho ăn được. Chúng sinh lại lấy vị đất ấy mà ăn, sống lâu trong thế gian. Người nào ham ăn nhiều thì nhan sắc trở nên xấu, người nào ăn ít thì nhan sắc còn tươi nhuận. Người đẹp đẽ sinh tâm kiêu mạn khinh người xấu xí; người xấu xí sinh tâm tật đố ghét người đẹp đẽ. Chúng sinh vì thế cùng nhau tranh tụng mãi. Rồi thì, chất béo của đất không còn sinh như trước. Về sau, đất này lại sinh thứ chất béo của đất dày mà thô,16 tuy cũng thơm ngon ăn được nhưng
____________________________
13 Hán: tô mật 酥蜜. T 10: như sắc như sữa bơ 酥乳, vị như mía 甘蔗hoặc như mật 蜜. T 26(164): như sữa đặc đun chín 熟酪. D 27(iii 85): … seyyathāpi nāma payaso takkassa nibbāyamānassa upari sanānakaṃ hoti… seyyathāpi nāma sampannaṃ vā sappi sampannaṃvā navanītaṃ… seyyathāpi nāma khuddamadhuṃ aneḷakaṃ: nhưbọt nổi lên trên mặt cháo sữa đun sôi đang nguội dần… như đề hồ
hay thuần túy như tô… như mật ong thuần tịnh.
14 Thiên tính khinh dị 天性輕易. T 26(154): xan tham bất liêm 貪餮不廉. D 27 ibid.: aññataro satto lolajātiko, một chúng sinh nọ có tínhháu tham.
15 Hán: địa phì 地肥. T. 10: địa bính 地餅, bánh bằng đất, màu như tư-na-ca 飡那迦, vị như mía. Pl.; (bhūmipa)ppaṭaka, loại bánh làm từ sữa và gạo: bánh (sữa gạo) đất? Cf. Skt. parpaṭaka: bánh, cao (Wogihara).
16 Thô hậu địa phì 麤厚地肥. T 10: sinh loại dây leo rừng 林藤, giống như cành ca-lung-phạ-ca 迦籠嚩迦枝có bốn màu. T 26(154): sinh bà-la婆羅, màu như hoa

* Trang 188 *
device

không bằng trước. Chúng sinh bấy giờ lại lấy vị đất này ăn mà sống lâu ở thế gian. Người ham ăn nhiều thì nhan sắc trở nên xấu, người ăn ít thì nhan sắc còn tươi nhuận. Người xinh đẹp, kẻ xấu xí cứ thị phi nhau rồi sinh điều tranh tụng mãi. Từ đó chất đất tốt không sinh lại nữa. [38a] Về sau, đất này lại sinh ra thứ lúa tự nhiên không có trấu,17 sắc vị đầy đủ, thơm tho ăn được. Chúng sinh lại lấy lúa gạo ăn, sống lâu ở thế gian. Con trai con gái nhìn nhau, dần dần móng tâm tình dục,18 rồi trở thành gần gũi nhau. Nhưng chúng sinh khác thấy thế nói: ‘Ngươi làm bậy! Ngươi làm bậy!’
Và kẻ làm quấy bị tẩn xuất khỏi nhóm người, sau ba tháng mới cho trở lại.
“Này Bà-tất-tra, những điều trước kia người ta cho là quấy, thì bây giờ người ta cho là phải. Rồi chúng sinh kia tập hành phi pháp, mặc tình buông thả theo tình dục, không kể gì thời tiết. Rồi vì sự hổ thẹn chúng mới tạo lập phòng xá và từ đó thế gian khởi đầu có phòng xá. Quen thói tập hành phi pháp, dâm dục ngày càng tăng, mới có bào thai sinh ra từ bất tịnh, và thế gian mới bắt đầu có bào thai vậy.
 “Chúng sinh lúc ấy ăn loại lúa gạo tự nhiên; thu hoạch xong nó lại sinh ra, vô cùng vô tận. Mãi về sau, trong chúng sinh đó có kẻ lười nhác thầm nghĩ rằng: ‘Cứ sáng ăn sáng lấy, chiều ăn chiều lấy, thế thì nhọc nhằn. Chi bằng lấy gộp để cất đủ ăn một ngày.’ Nó liền lấy gộp đủ ăn một ngày. Sau đó có bạn gọi nó đi lấy lúa, nó đáp: ‘Tôi đã lấy gộp đủ để ăn một ngày rồi. Bạn muốn lấy thì cứ tùy ý.’ Người ấy bèn suy nghĩ: ‘Anh này khôn ngoan, biết chứa lương thực trước. Ta nay cũng muốn tích trữ lương thực đủ cho ba ngày.’ Nó bèn trữ lương thực dư cho ba
______________________________
gia-đàm 加曇華. D 27 ibid.: Pl.: badālatā…seyyathāpi nāma kalambukā evameva pātủahosi, xuất hiện một loạidây leo, giống như loại cỏ ống (một loại tre?). Sớ giải: kalambukā tināḷikā, một loại cỏ ống hay tre. Có lẽ tương đương Skt.. kadambaka,hoa của cây kadamba; Phiên Phạn ngữ 9 (T 2130) nói: cây hoa cađàm-ba 迦曇波花樹, dịch là bạch hoa 白花. Wogihara: hoa màu dacam, tên khoa học Nauclea Cadamba. Chưa rõ cây gì.
17 Tự nhiên canh mễ, vô hữu khang khoái 自然粳米無有糠糩. T. 10:hương đạo 香稻, lúa thơm. D 27: akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇoathuso, xuất hiện thứ lúa chín tự nhiên không do canh tác, không cám, không vỏ.
18 Pāli: tesaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyataṃ sārāgo udapādi,pariḷāho kāyasmiṃ okkami; te pariḷāhapaccayā methunaṃ dhammaṃpaμiseviṃsu, Chúng quan sát lẫn nhau rất lâu, rồi luyến ái khởi lên,thân thể chúng nóng bức. Do nóng bức mà chúng hành pháp dâm dục.

* Trang 189 *
device

ngày. Khi có chúng sinh khác đến rủ đi lấy gạo, nó đáp: ‘Tôi đã cất trước đủ ăn ba ngày rồi. Bạn muốn lấy cứ tự ý đi mà lấy tùy ý.’ Người đó lại nghĩ rằng: ‘Gã kia khôn ngoan, đã biết cất lương thực trước đủ ăn ba ngày. Vậy ta hãy bắt chước nó, cất đủ năm ngày.’ Nó đi lấy cất ăn đủ năm ngày.
“Chúng sinh sau khi cạnh tranh nhau tích trữ, thóc lúa trở nên hoang dại, bắt đầu có vỏ trấu. Cắt rồi, nó không tự nhiên sinh lại như trước nữa. Chúng sinh thấy thế, trong lòng không vui, mới có sự ưu lo suy nghĩ: ‘Chúng ta lúc đầu mới sinh ra, chỉ sống bằng niệm hỷ, thân chúng ta có ánh sáng, và có thần túc để bay đi. Sau đó đất này tuôn ra suối ngọt, chảy ra giống như mật bơ, thơm ngon ăn được. Chúng ta cùng ăn, tiếp tục ăn mãi. Ai ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người ăn ít thì sắc còn tươi nhuận. Do thức ăn này mà nhan sắc chúng ta trở nên khác nhau. Chúng ta do vậy ai nấy ôm lòng thị phi, ganh ghét lẫn nhau. Bấy giờ suối ngọt tự nhiên cạn khô. Về sau, cõi đất tự nhiên lại sinh ra chất béo của đất có mùi vị thơm tho ăn được. Khi ấy, [38b] chúng ta lại lấy đất ấy mà ăn. Ai ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người ăn ít thì sắc còn tươi nhuận. Chúng ta do vậy ai nấy ôm lòng thị phi, ganh ghét lẫn nhau. Rồi thì, chất béo của đất không còn sinh như trước mà lại sinh thứ chất thô dày, tuy cũng thơm ngon ăn được. Chúng ta lại lấy mà ăn. Ai ăn nhiều thì nhan sắc thô xấu, người ăn ít thì sắc còn tươi vui. Chúng sinh do vậy ai nấy ôm lòng thị phi, ganh ghét lẫn nhau. Rồi thì, chất béo của đất không còn sinh như trước, mà lại sinh ra thứ lúa tự nhiên không có trấu. Chúng ta lại lấy mà ăn để sống lâu ở đời. Rồi những kẻ biếng nhác tranh nhau tích trữ, nên lúa gạo trở nên hoang dại, bắt đầu có vỏ trấu, cắt rồi nó không sinh trở lại. Bây giờ phải làm sao đây?’
 “Rồi chúng bảo nhau: ‘Chúng ta hãy phân chia đất và cắm mốc.’ Chúng chia đất và cắm mốc. Này Bàtất-tra, do nhân duyên ấy mới phát sinh danh từ ‘đấtruộng.’19
“Bấy giờ chúng sinh đó phân chia ruộng đất, ai lập bờ cõi nấy, nên dần dần sinh ra tâm lén lút cắp trộm thóc lúa của nhau. Những chúng sinh khác trông thấy bảo: ‘Ngươi làm bậy! Ngươi làm bậy! Ngươi đã córuộng đất mà còn lấy trộm của người ta. Từ nay về sau không được làm thế nữa.’ Nhưng chúng sinh kia vẫn lấy cắp mãi. Các chúng sinh khác
______________________
19 Điền địa 田地; từ nguyên không được đề cập trong bản Pāli.

* Trang 190 *
device

vẫn tiêp tục khiển trách, nhưng nó không thôi. Chúng bèn lấy tay đánh nó, và tố cáo với mọi người rằng: ‘Người nầy đã córuộng lúa mà còn lấy trộm của người khác.’ Gã này lại bảo: ‘Người này đánh tôi.’ Mọi người thấy hai bên cãi nhau mãi, thì ưu sầu không vui, nói với nhau một cách áo não: ‘Chúng sinh càng trở nên xấu ác, nên thếgian mới có xảy ra sự bất thiện đó, sinh ra điều uế ác, bất tịnh. Đó chính là nguyên nhân của sinh, già, bệnh, chết, phiền não khổ báo, đọa trong ba đường dữ. Bởi có ruộng đất riêng nên mới sinh kiện cáo. Vậy tốt hơn chúng ta nên lập lên một người làm chủ để xử trị. Hễ ai đáng bảo hộ thì bảo hộ, ai đáng khiển trách thì khiển trách. Mỗi người chúng ta đều giảm phần gạo mà cung cấp cho người ấy để lo việc xét xử kiện cáo.’Chúng mới lựa chọn trong đại chúng mà tôn lên một người có hình vóc to lớn, nhan mạo đoan chính, có oai đức, và bảo rằng: ‘Ông nay hãy vì bọn ta mà lên làm Bình đẳng chủ.20 Hễ thấy ai đáng bảo hộ thì bảo hộ, ai đáng khiển trách thì khiển trách, ai đáng đuổi thì đuổi.
Bọn ta sẽ góp gạo cung cấp cho.’
“Người kia nhận lời lên làm chủ, trông coi xử đoán kiện cáo. Mọi người cùng góp gạo cung cấp.
“Người kia thường lấy lời hay đẹp ủy lạo mọi người, vàmọi người đều hoan hỷ tôn xưng rằng: “Lành thay Đạivương! Lành thay Đại [38c] vương!” Từ đó thế gian mớibắt đầu có danh từ Vua.21 Đúng theo pháp mà trị dân, nên gọi là Sát-lị,22 và thế gian bắt đầu có tên “Sát-lị.”
________________________
20 Hán: bình đẳng chủ平等主. T 10, T 26(154): lập làm Điền chủ 田主. D 27.: mahāsammato, người được bầu lên từ đại chúng. Địnhnghĩa của Pāli không có trong bản Hán: mahājanasammatoti … mahāsammato, người ấy được lựa chọn (sammata: sammannati) bởi đại chúng (mahājana) nên được gọi là Mahāsammato (đạituyển xuất).
21 Hán: vương 王. T 10: Do khéo nói ra lời an ủi đối với mọi người,gọi là “người an ủi 慰安.” Người an ủi ấy tức là vua 王. Đó là nguồn gốc của từ “vua”. T 26(154): Khiến cho chúng sinh được an lạc đúng như pháp, bảo vệ và thi hành kỹ luật, đó là vua. “Vua” có nghĩa là “làm vua” 王謂之王. D 27: dhammena pare rañjetīti rājā rājā,“đúng theo pháp, làm người khác hài lòng, đó gọi là vua”. Theo đây,rāja, vua, do gốc động từ rañjeti, làm cho vui, làm cho hài lòng.
22 Hán: Sát-lị 剎利. T 10: “Làm chủ và bảo hộ địa giới, nên được gọi là Sát-đế-lị.” D 27 ibid.: khettānaṃ adhipati… khattiyo khattiyo,ông chủ của các ruộng đất (khetta) được người ta gọi: Khaatiyo !Khattiyo! (= điền chủ).

* Trang 191 *
device

“Thời gian sau, trong quần chúng độc nhất có một người23 suy nghĩ như vầy: ‘Nhà là đại hoạn, nhà là gai độc. Ta nên bỏ cư gia này mà sống một mình trên rừng núi nhàn tịnh để tu đạo.’ Người ấy liền bỏ cư gia mà vào rừng, trầm lặng tư duy, đến giờ ăn thì cầm bát vào xóm khất thực. Mọi người trông thấy, thảy đều vui vẻ cúng dường, tán thán: ‘Lành thay, người này đã lìa bỏ cư gia, một mình sống trong núi rừng, trầm lặng tu đạo, xa lìa mọi điều xấu ác.’ Từ đó trong thế gian mới bắt đầu có tên Bà-la-môn.24
“Nhưng trong đám Bà-la-môn có kẻ không ưa ở chỗ nhàn tịnh tọa thiền tư duy, mà chỉ ưa vào nhân gian chuyên nghề tụng đọc, và tự nói: ‘Ta là người không tọa thiền.’ Người đời nhân đó gọi là ‘Bất thiền Bà-lamôn25 và cũng vì hay đi vào nhân gian nên lại có tên là ‘Nhân gian Bà-la-môn.26 Bắt đầu từ đó trong thếgian có dòng Bà-la-môn hiện ra.
“Lại trong đám chúng sinh kia, có người ưa kinh doanh sự nghiệp,27 chất chứa tài bảo, nhân đó người ta kêu hạng này là hạng Cư sỹ.28 Trong đám chúng sinh kia có người có nhiều cơ xảo, làm được nhiều thứ kiến
__________________________
23 So Pāli: sattānaṃ yeva ekaccānaṃ, một số (nhiều) chúng sinh.
24 D 27 (iii 94): pāpake akusale dhamme vāhentī ti… brāhmaṇābrāhmaṇā: do loại bỏ các pháp ác, bất thiện mà được gọi Brāhmaṇā! Brāhmaṇā. Ở đây, từ brāhmaṇa có gốc từ động từ vāhenti: loạibỏ. Vāheti là dạng hỗn chủng của động từ căn Skt. √bṛh, cũng đọclà vṛh: nhổ bỏ, nhổ sạch gốc.
25 Bất thiền bà-la-môn 不禪婆羅門. D 27 ibid.: na dānime jhāyantītikho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā ajjhāyakā’, “những người tụng đọc, vìnhững người này không thiền tứ.” Từ nguyên của ajjhāyaka (Skt;ādhyāyika: ādhy-āya: i: tụng đọc) chỉ Bà-la-môn thông hiểu kinhvăn Vệ đà. Ở đây nó được coi có gốc động từ jhāyati (Skt. √dhyai:dhyāyati): thiền tịnh hay tư duy: a-jjhāyaka: người không thiền tứ= người tụng đọc. T 10: : “Những người ấy không còn được gọi lànhững kẻ tu thiền, mà được gọi là giáo thọ giả 教授者.”
26 Nhân gian bà-la-môn 人間婆羅門. Pāli: jana-brāhmaṇa?
27 Doanh cư nghiệp 營居業.
28 T 26(154): “Vì mỗi người đi về các phương khác nhau để làm ruộng,nên gọi là ‘Tì-xá’.” D 27 ibid.: methunaṃ dhammaṃ samādāya visukammantepayojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’, “sau khi thọ trì pháp dâm dục, chúng theo đuổi nhiều loại chức nghiệp, cho nên chúng được gọi là vessā. Ngữ nguyên của từ vessā, giai cấp thứ ba, được giải thích là do từ “visu(ṃ): mỗi mỗi riêng biệttrong từ visukammanta: nhiều chức nghiệp khác nhau.

* Trang 192 *
device

tạo, nên thế gian mới có thêm một hạng nữa gọi là công xảo Thủ-đà-la.29
“Này Bà-tất-tra, nay thế gian có tên gọi bốn chủng tính và thêm hạng thứ năm là chúng Sa-môn. Như thế là vì có khi trong chúng Sát-lị có người tự thấy nhàm chán pháp của mình, bèn cắt bỏ râu tóc, mặc pháp y tu đạo. Do đó, tên gọi Sa-môn bắt đầu có từ đó. Trong chúng Bà-la-môn, Cư sỹ, Thủ-đà-la, có khi có người tự thấy nhàm chán pháp của mình, bèn cắt bỏ râu tóc, mặc pháp y tu đạo. Do đó, tên Sa-môn bắt đầu có từ đó.
“Này Bà-tất-tra, người dòng Sát-lị mà thân làm bất thiện, miệng nói bất thiện, ý nghĩ bất thiện, khi thân hoại mạng chung phải thọ ác báo. Dòng người Bàla-môn, dòng Cư sỹ, dòng Thủ-đà-la mà thân làm bất thiện, miệng nói bất thiện, ý nghĩ bất thiện, khi thân hoại mệnh chung họ cũng phải thọ ác báo như thế.
“Này Bà-tất-tra, nếu người dòng Sát-lị mà thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, khi thân hoại mệnh chung được hưởng thiện báo, thì người dòng Bà-lamôn, dòng Cư-sỹ dòng Thủ-đà-la mà thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, khi thân hoại mệnh chung cũng được hưởng thiện báo như thế.
“Này Bà-tất-tra, nếu người dòng Sát-lị mà làm cả hai điều vừa thiện vừa ác nơi thân, miệng, ý, khi thân hoại mệnh chung phải gặt lấy quả báo vừa khổ vừa vui, thì người dòng Bà-la-môn, dòng Cư sỹ, dòng Thủ-đà-la mà làm cả hai điều thiện ác về nơi thân, miệng, ý, đến khi thân [39a] hoại mệnh chung, cũng phải thọ lấy quả báo vừa khổ vừa vui như thế.
“Này Bà-tất-tra, trong dòng Sát-lị có kẻ cắt tóc cạo râu, mặc y tu đạo, tu bảy pháp giác chi, không bao lâu là được thành Đạo. Vì sao? Con nhà tộc tính ấy mặc pháp y xuất gia, tu các phạm hạnh cao thượng, thì chính ngay trong hiện tại tự thân tác chứng, sự sinh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh. Trong dòng Bà-la-môn, dòng Cư sỹ, dòng Thủ-đà-la mà có kẻ cắt bỏ râu tóc, mặc pháp y tu đạo, tu bảy pháp giác chi, không bao lâu cũng sẽ được thành Đạo như thế. Vì sao? Con nhà tộc tính ấy xuất gia, mặc pháp y, tu các
_______________________
29 Thủ-đà-la công xảo 首陀羅工巧. D 27 ibid.: luddācārā khuddācārāti kho, vāseṭṭha,‘suddā, suddā“Những người hànhnghề hung ác (nghề săn bắt), hành nghề vụn vặt, chúng được gọilà sudda.”
 

* Trang 193 *
device

phạm hạnh vô thượng, chính ngay trong hiện tại tự thân tác chứng, sinh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh.
“Này Bà-tất-tra, cả bốn chủng tính đó, đều có thể xuất sinh bậc La-hán thành tựu viên mãn minh và hành, là bậc đứng nhất ở trong năm chủng tính ấy.
“Này Bà-tất-tra, Phạm Thiên có bài kệ rằng:
Trong đời, Sát-lị nhất.
Với ai y chủng tính.30
Minh Hành thành đầy đủ,
Bậc nhất trong Trời-Người.
“Này Bà-tất-tra, Phạm Thiên nói như thế là đúng chớ không phải không đúng, khéo thọ31 chứ không phải không khéo thọ. Lúc đó Ta liền ấn khả lời nói ấy của Phạm Thiên. Vì nay Ta, Như Lai, Chí Chân, cũng nói nghĩa như thế đó:
Trong đời, Sát-lị nhất,
Với ai y chủng tính.
Minh Hành thành đầy đủ,
Bậc nhất trong Trời-Người.”
________________________
30 Nguyên Hán: sinh trung Sát-lị thắng, năng xả chủng tính khứ 生中剎利勝 能捨種姓去: trong đời Sát-lị là nhất; ai hay rời bỏ chủng tính.Pāli: khattiyo seṭṭho janetasmiṃ, ye gottapaṭisārino, với những ai ychỉ chủng tính (giai cấp), sát-lị là bậc nhất trong loài thọ sinh. Bảnhán hình như đọc là gottanissārino: những ai rời bỏ chủng tính. Cáchhiểu này không phù hợp với nội dung, cần sửa lại. Xem đoạn dịchHán bài kệ tương tự trong kinh A-ma-trú ở sau, T 1(20).
31 Hán: thiện thọ 善受.Pl.: sugīta (được hát rất hay), có lẽ trong bản Hán đọc là sugahitā (nắm giữ kỹ). T 26 (154): thiện ca 善歌.

* Trang 194 *
device

Bấy giờ, sau khi đức Thế Tôn nói pháp này, Bà-tấttra, Bà-la-đọa liền được tâm giải thoát vô lậu; sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

* Trang 195 *
device

* Trang 196 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1