LOGO VNBET
TRƯỜNG A - HÀM
PHẦN I


1. KINH ĐẠI BẢN
 
[1b12] Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở động Hoa lâm 1 vườn cây Kì-đà, nước Xá-vệ, cùng với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi khất thực, tụ họp ở Hoa lâm đường,2 cùng nhau bàn luận rằng:
“Các Hiền giả Tỳ-kheo, thật là kì diệu, hy hữu, đấng Vô Thượng Tôn, có thần thông thấu đến chỗ xa, có oai lực lớn lao, nên biết rõ quá khứ vô số đức Phật; các Ngài đã nhập Niết-bàn, dứt sạch các kết sử,3 tiêu diệt các hý luận. Và cũng biết rõ kiếp số các đức Phật ấy dài hay ngắn; cho đến danh hiệu, dòng họ thác sinh, sự ăn uống, thọ mệnh dài ngắn, cảm thọ lạc và cảm thọ khổ như thế nào;4 lại biết rõ các đức Phật ấy có giới như vậy, có pháp như vậy, có tuệ như vậy, có giải thoát như vậy, an trụ
_______________________
* 第一分初大本經第一
1 Hán: Hoa lâm quật 花林窟. Trong các tài liệu Pāli, không thấy ở đâu nói đến một hang động hay hang đá trong vườn Jetavana (Kì viên) hay tai Sāvatthi (Xá-vệ). Hán quật 窟có thể dịch từ Phạn guha: hang động mà D.14 đọc là kuṭikā: am cốc. D. 14 : Karerikuṭikā, am cốc Kareri, ở trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). T 2, 3, Không đề cập. T 4: Phật cùng 500 Tỳ kheo thọ thực tại nhà Bà Vô-diên Mẫu 無延母(Pl. Migāramātu), mẹ của ông Vô-diên 無延(Pl. Migāra).
2 Hán: Hoa lâm đường 花林堂. T 2: Ca-lí-lê đạo tràng 迦里梨道場. T 4: Ngồi trên điện, trong nhà Bà Vô-diên Mẫu (Pl.Migāramātupāsāda). D. 14: Karerimaṇḍalamāle: trong sảnhđường hình tròn Kareri, viên đường Kareri.
3 Kết sử 結使; đây chỉ các kết (Pl. saṃỵojana), các phiền não hệ phược, thúc phược, trói buộc, dẫn đến tái sinh.
4 Hán: sở canh khổ lạc 所更苦樂. Pl. sukhadukkhapaṭisaṃvedī.

* Trang 15 *
device

như vậy5. Thế nào, này ChưHiền, đó là do đức Như Lai thông rõ các pháp tính màbiết được, hay do Chư Thiên kể lại?”Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ở chỗ thanh vắng6, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe rõ các Tỳ-kheo luận bàn như thế, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa lâm đường, ngồi vào chỗ ngồi dọn sẵn. Bấy giờ, Thế Tôn tuy đã biết nhưng vẫn hỏi:
“Này chư Tỳ-kheo, các ngươi tụ tập nơi đây bàn luận chuyện gì?”
Các Tỳ-kheo bèn đem hết mọi việc bạch lại với Phật. Rồi thì, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Lành thay, lành thay! Các ngươi đã với tâm chính tín7 xuất gia học đạo, nên làm hai việc: một là nói năng theo pháp Hiền Thánh, hai là im lặng theo pháp Hiền Thánh8. Những điều các ngươi luận bàn phải nên như thế. Thần thông và oai lực của Như Lai vôcùng lớn lao; Ngài biết khắp mọi việc từ vô số kiếp quá khứ, như thế là do [1c] thông rõ các pháp tính, đồng thời cũng do Chư Thiên nói lại.”
Bấy giờ Phật nói bài tụng:
Tỳ-kheo họp pháp đường
Giảng luận pháp Hiền Thánh.
Như Lai từ am vắng
Nghe rõ bằng thiên nhĩ.
Mặt trời Phật rọi khắp,
Phân tích nghĩa pháp giới.
Cũng biết việc quá khứ,
Chư Phật9bát-niết-bàn,
Tên, dòng họ, chủng tộc.
Cũng biết thọ sinh phần10
 _________________________
5 Pāli, định cú (D. 14. ii. 9; 15, ii. 80): evaṃsīlo bhagavā iti pi, evaṃ dhammo evaṃpañño evaṃvihārī evaṃ vimutto bhagavā iti pī ti.
6 Hán: nhàn tĩnh xứ 閑靜處; Pl. paṭisallāna, độc cư thiền tọa; sự ngồi một mình tại chỗ thanh vắng tĩnh tọa, tư duy.
7 Nguyên Hán: bình đẳng tín 平等信.
8 Pāli, định cú (A. i. 161): sannipatitānaṃ vo, bhikkhave, dvayaṃ karaṇīyaṃ, dhammī vā kathā, ariyo vā tuṇhībāvo, “Này các Tỳ- kheo, khi các ngươi tụ hội, có hai việc cần làm: luận bàn như pháp, hoặc im lặng như bậc Thánh.”
9 Nguyên Hán: tam-phật 三佛, tức tam-phật-đà 三佛陀(Pl./Skt. sambuddha): Chánh giác 正覺.

* Trang 16 *
device

Vị ấy ở nơi nào,
Ghi nhận bằng tịnh nhãn.
Chư Thiên uy lực lớn,
Dung mạo rất đoan nghiêm,
Cũng đến bẩm báo Ta
Chư Phật bát-niết-bàn,
Chỗ sinh, tên, chủng tộc
Âm thanh vi diệu tỏ.11
Đấng Chí Tôn trời người
Biết rõ Phật quá khứ.
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi có muốn nghe chăng nhân duyên của chư Phật quá khứ mà Như Lai biết bằng trí túc mạng?”
Các Tỳ-kheo liền bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc. Chúng con muốn nghe. Lành thay, Thế Tôn! Lúc này thích hợp để giảng thuyết. Chúng con sẽ phụng hành.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe, hãy suy gẫm kỹ! Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các ngươi nghe.”
Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời, lắng nghe.
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo, quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Tì-bà-thi12, Như Lai, Chí Chân13, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong quá khứ cách đây ba mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Thi-khí14, Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở thế gian.
_______________________
10 Thọ sinh phần: đây chỉ huyết thống. Pāli (D. ii. 10): evaṃjaccā te bhagavanto ahesuṃ.
11 Nguyên Hán: ai loan âm tận tri 哀鸞音盡知; ai loan âm 哀鸞音, tức ca-lăng-tần-già âm 迦菱頻伽音tiếng chim Skt. kalaviṅka/ Pl. karavīka, một loại chim sáo sống trên Tuyết sơn.
12 Tì-bà-thi 毗婆尸; T2, 3: đồng. T 4: Duy-vệ 維衛. Pl.: Vipassin.
13 Chí Chân, một dịch nghĩa của từ a-la-hán, arahant/ arhant.
14 Thi-khí 尸棄. T 2: đồng. T 4: Thức 式. Pl.: Sikkhin.

* Trang 17 *
device

“Lại nữa, Tỳ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp đó có đức Phật hiệu là Tì-xá-bà 15 Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong Hiền kiếp16 này có Phật hiệu là Câu-lưu-tôn,17 Câu-na-hàm,18  Ca-diếp.19Ta nay cũng ở trong Hiền kiếp này mà thành Tối Chính Giác.”
Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Qua chín mươi mốt kiếp
Có Phật Tì-bà-thi.
Ba mươi mốt kiếp kế
Có Phật hiệu Thi-khí.
Cũng ở trong kiếp này,
Xuất hiện Phật Tỳ-xá.
[2a] Nay trong Hiền kiếp này,
Vô số na-duy20tuổi,
Có bốn Đại Tiên Nhân,
Xuất hiện vì thương đời:
Câu-lưu-tôn, Na-hàm,
Ca-diếp, Thích-ca-văn.
2. “Các ngươi nên biết, thời đức Phật Tì-bà-thi, nhânloại sống đến tám vạn tuổi. Thời đức Phật Thi-khí, nhân loại sống đến bảy vạn tuổi. Thời đức Phật Tìxá-bà, nhân loại sống đến sáu vạn tuổi. Thời đức Phật Câu-lưu-tôn, nhân loại sống đến bốn vạn tuổi. Thời đức Phật Câu-na-hàm, nhân loại sống đến ba vạn tuổi. Thời đức Phật Ca-diếp, nhân loại sống đến hai vạn tuổi. Và nay Ta ra đời, nhân loại sống đến một trăm tuổi, hoặc hơn kém một chút.21
Rồi Phật nói bài tụng:
________________________
15 Tỳ-xá-bà 毗舍婆. T 2: Tỳ-xá-phù 毗舍浮. T 4: Tùy-diệp 隨葉. Pl.Vessabhū.
16 Hiền kiếp 賢劫. T 4: Phi-địa-la kiếp 披地羅劫. Pl.: Bhaddakappa.
17 Câu-lâu-tôn hay 拘樓孫. T 2: Câu-lưu-tôn 俱留孫. T 4: Câu-lâu-tần 拘樓秦. Pl.: Kakusandha.
18 Câu-na-hàm 拘那含. T 2: Câu-na-hàm Mâu-ni 俱那含牟尼. T 4: Câuna- hàm Mâu-ni 拘那含牟尼. Pl. Konāgamana.
19 Ca-diếp 迦葉. T 4: đồng. T 2: Ca-diệp-ba 迦葉波. Pl.: Kassapa.
20 Na-duy 那維. Skt. nayuta; Pl.: nahuta; số đếm.
21 Nguyên Hán: thiểu xuất đa giảm少出多減. Cf. Pāli: yo ciraṃ jīvati, so vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo, “những ai sống lâu, chỉ sống trên dưới một
trăm tuổi.”

* Trang 18 *
device

Người thời Tì-bà-thi
Thọ tám vạn bốn nghìn.
Người thời Phật Thi-khí
Thọ mạng bảy vạn tuổi.
Người thời Tì-xá-bà
Thọ mạng sáu vạn tuổi.
Người thời Câu-lưu-tôn
Thọ mạng bốn vạn tuổi.
Người thời Câu-na-hàm
Thọ mạng ba vạn tuổi.
Người thời Phật Ca-diếp
Thọ mạng hai vạn tuổi.
Người thời Ta hiện nay
Tuổi thọ không quá trăm.
“Đức Phật Tì-bà-thi sinh về dòng Sát-lị, họ Câulị-nhã.22 Phật Thi-khí và Phật Tì-xá-bà, dòng họ cũng vậy. Phật Câu-lưu-tôn sinh trong dòng Bà-la-môn, họ
Ca-diếp.23 Phật Câu-na-hàm, Phật Ca-diếp, dòng họ cũng vậy. Còn nay Ta, Như Lai, Chí Chân, sinh trong dòng Sát-lị, họ Cù-đàm.”24
Phật lại nói bài tụng:
Tì-bà-thi Như Lai,
Thi-khí, Tì-xá-bà;
Ba vị Đẳng Chính Giác,
Sinh họ Câu-lị-nhã.
Ba đức Như Lai kia,
Sinh vào họ Ca-diếp.
Ta nay, bậc Vô thượng,
Dẫn dắt các chúng sinh,
Bậc nhất trong trời người,
Họ Cù-đàm dũng mãnh.
Ba đức Chính giác đầu,
Sinh vào dòng Sát-lị.
_________________________
22 Câu-lị-nhã 拘利若; TNM: Kiều-trần-nhã 憍陳若. T 2: Câu-lân 拘隣. Pl.: Koṇḍañña.
23 Ca-diếp 迦葉. Pl.: Kassapa.
24 Cù-đàm 瞿曇; Pl.: Gotama.

* Trang 19 *
device

Ba đức Như Lai sau
Thuộc dòng Bà-la-môn.
Ta nay đấng Tối Tôn,
Dòng Sát-lị dũng mãnh.
“Đức Phật Tì-bà-thi ngồi dưới cây ba-ba-la25 chứng thành bậc Tối Chính Giác. Phật Thi-khí ngồi dưới cây phân-đà-lị,26 thành bậc Tối Chính Giác. Phật Tì-xá-bà[2b] ngồi dưới cây sa-la27 thành bậc Tối Chính Giác. Phật Câu-lâu-tôn ngồi dưới cây thi-lị-sa28 thành bậc chính giác. Phật Câu-na-hàm ngồi dưới cây ô-tạm-bàla29thành bậc chính giác. Phật Ca-diếp ngồi dưới cây ni-câu-luật30 thành bậc chính giác. Ta nay, Như Lai, Chí Chân, ngồi dưới cây bát-đa31 thành bậc Chính giác.”
Rồi Phật nói bài tụng:
Tì-bà-thi Như Lai
Đi đến cây ba-la
Và ngay tại chỗ ấy
Đắc thành Tối Chính Giác;
Thành đạo, dứt nguồn hữu.
Tì-xá-bà Như Lai
Ngồi dưới gốc sa-la32
Đắc giải thoát tri kiến.
Thần túc không chướng ngại.
Câu-lưu-tôn Như Lai
Ngồi gốc thi-lị-sa
Vô nhiễm, vô sở trước.
Câu-na-hàm Mâu-ni33
Ngồi dưới gốc ô-tạm
_______________________
25 Ba-ba-la 波波羅; TNM: ba-bà-la 波婆羅. T 4: ba-đà-la 波陀羅. D14: Pāṭali.
26 Phân-đà-lị 分阤利. T 4: phân-đồ-lị 分塗利. D14: puṇḍarīka.
27 Sa-la 娑羅; TNM: bác-lạc-xoa 博洛叉. T 4: tát-la thọ 薩羅樹. D14: sāla.
28 Thi-lị-sa 尸利沙. T 4: tư-lị thọ 斯利樹. D14: sirīsa.
29 Để bản: Ô-tạm-bà-la 烏暫婆羅; TNM: ưu-đàm-ba-la 優曇婆羅. T 4: ô-tạm thọ 烏暫樹. D14: udumbara.
30 Ni-câu-luật 尼拘律; TNM: ni-câu-loại 尼拘類. T 4: đồng. D14: nigrodha.
31 Bát-đa 缽多. T 4: a-phái-đa 阿沛多. D14: assattha, Skt. aśvattha.
32 TNM: bác-xoa 博洛叉.
33 Để bản: vô-ni 無尼. TNM: mâu-ni 牟尼.

* Trang 20 *
device

Và ngay tại chỗ ấy
Diệt các tham, ưu não.
Đức Ca-diếp Như Lai
Ngồi dưới ni-câu-lâu,34
Và ngay tại chỗ ấy
Trừ diệt gốc rễ hữu.
Ta nay, Thích-ca Văn
Ngồi dưới cây bát-đa.
Đấng Như Lai, mười lực,
Đoạn diệt các kết sử,
Hàng phục đám ma oán,
Diễn ánh sáng giữa chúng.
Bảy Phật, sức tinh tấn,
Phóng quang, diệt tăm tối;
Mỗi vị ngồi gốc cây,
Ở đó thành Chánh giác.
“Đức Phật Tì-bà-thi có ba hội thuyết pháp. Hội đầucó mười sáu vạn tám ngàn đệ tử. Hội hai có mười vạnđệ tử. Hội ba có tám vạn đệ tử. Phật Thi-khí cũngcó ba hội thuyết pháp: Hội đầu có mười vạn đệ tử.Hội hai có tám vạn đệ tử. Hội ba có bảy vạn đệ tử.Phật Tì-xá-bà có hai hội thuyết pháp. Hội đầu có bảyvạn đệ tử. Hội hai có sáu vạn đệ tử. Đức Câu-lưu-tôn
Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử bốn vạn người. Đức Câu-na-hàm Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử ba vạn người. Đức Ca-diếp Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử hai vạn [2c] người. Ta nay một hội thuyết pháp, đệ tử một nghìn hai trăm năm mươi vị.”
Bấy giờ Phật nói bài tụng rằng:
Tì-bà-thi tên Quán,35
Trí tuệ không thể lường,
Thấy khắp,36 không sợ hãi,
Ba hội chúng đệ tử.
_______________________
34 Ni-câu-lâu 尼拘樓; TNM: ni-câu-loại 尼拘類.
35 Quán 觀; dịch nghĩa của âm Tì-bà-thi, do động từ Skt. Vipaśyati (Pl. vipassati): nhìn rõ.
36 Hán: biến kiến 遍見, thấy khắp; do hiệu Phật Vipassin (Pl.) hay Vipaśyin (Skt.), cũng được dịch: quán 觀, kiến 見, thắng quán 勝觀, diệu quán sát 妙觀察, chủng chủng quán覺種種觀.

* Trang 21 *
device

Thi-khí, sáng,37 bất động,
Diệt trừ các kết sử,
Vô lượng đại oai đức,
Không thể trắc lượng được,
Ngài cũng có ba hội,
Tụ hội các đệ tử.
Tì-xá-bà đoạn kết,
Đấng Đại Tiên tụ hội,
Tiếng tăm khắp các phương,
Pháp mầu được tán thán;
Chúng đệ tử hai hội,
Diễn rộng nghĩa thâm áo.
Câu-lưu-tôn một hội,
Thương xót, trị các khổ,
Đạo sư dạy chúng sinh,
Chúng đệ tử một hội.
Câu-na-hàm Như Lai,
Bậc Vô Thượng cũng vậy,
Thân sắc vàng ròng tía,38
Dung mạo thảy toàn hảo,
Chúng đệ tử một hội,
Rộng diễn pháp nhiệm mầu.
Ca-diếp, mỗi sợi lông,39
Nhất tâm không loạn tưởng,
Không một lời rườm rà,40
Chúng đệ tử một hội.
Năng nhân Ý Tịch Diệt,41
Ta, Sa-môn họ Thích,
Chí Tôn, Trời trên Trời,
 ____________________________
37 Quang 光; từ nguyên của Thi-khí, Skt. śikhin/ Pl. sikhin <śikhā: tia sáng; chóp đỉnh.
38 Tử ma kim sắc thân 紫磨金色身; từ nguyên của Phật hiệu < Skt. kanaka: vàng tía.
39 Hán: nhất nhất mao 一一毛, không rõ nghĩa. Có lẽ liên hệ từ nguyên Skt. keśa thay vì kaśati: chiếu sáng.
40 Nhất ngữ bất phiền trọng一語不煩重. M: nhị ngữ…二語…
41 Năng nhân ý tịch diệt 能仁意寂滅, dịch nghĩa của Skt. Śākya-muni/Pl.: Sakya-muni hay Sakka-muni.

* Trang 22 *
device

Có một hội đệ tử;
Hội ấy, Ta hiện nghĩa,
Quảng diễn giáo thanh tịnh.
Trong tâm thường hoan hỷ,
Lậu tận, không tái sinh,
Tỳ Bà, Thi-khí, ba;
Phật Tì-xá-bà, hai;
Bốn Phật mỗi vị một
Hội Tiên Nhân diễn thuyết.
“Đức Phật Tì-bà-thi có hai đệ tử là Khiên-trà vàĐề-xá,42 là bậc nhất trong các đệ tử. Đức Phật Thi-khícó hai đệ tử là A-tì-phù và Tam-bà-bà,43 là bậc nhấttrong các đệ tử. Phật Tì-xá-bà có hai đệ tử là Phò-duvà Uất-đa-ma,44 là bậc nhất trong các đệ tử. Phật Câulưu-tôn có hai đệ tử là Tát-ni và Tì-lâu,45 là bậc nhấttrong các đệ tử. [3a] Đức Phật Câu-na-hàm có hai đệtử là Thư-bàn-na và Uất-đa-lâu,46 là bậc nhất trong các đệ tử. Đức Phật Ca-diếp có hai đệ tử là Đề-xá và Bà-la-bà, 47 là bậc nhất trong các đệ tử. Còn nay Tacó hai đệ tử là Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên,48 là bậcnhất trong các đệ tử.”
_______________________
42 Để bản: Khiên-trà 騫茶; TNM: Khiên-đồ 騫荼. Đề-xá 提舍; TNM: Chất-sa 躓沙; T 2: đệ tử đại trí là Khiếm-Ta Để-tả 欠拏底寫. T 4: Phật Duy-vệ có đệ tử số một là Tắc 塞, số hai là Chất-xá 質舍. D14: Khaṇḍa và Tissa.
43 A-tì-phù 阿毗浮, Tam-bà-bà 三婆婆. T 2: Bộ, Tam-bà-phạ 部三婆嚩. T 4: đệ tử số một là A-tỉ-vụ 阿比務, số hai là Tam-tham三參. D14.: Abhibhū và Sambhava.
44 Phò (phù)-Du 扶遊và Uất-đa-ma 鬱多摩(Pl.: Uttama?). T 2: đại đệ tử Dã-thâu-đa-la 野輸多囉(Pl: Yasodhara?). T 4: Phật-đề 佛提(Pl: Cakkavattī?) và Uất-đa 欝多; hình như có sự nhầm lẫn với đệ tử của Phật Câu-na-hàm, xem cht. 39. D14.: Soṇa.- Uttara.
45 Tát-ni 薩尼và Tì-lâu 毗樓. T 2: Tán-lận-phạ 散躪嚩. T 4: Tăngkì 僧耆và Duy-lưu 維留. D14: Sañjīva-Vidhūra.
46 Thư-bàn-na 舒盤那(TNM: Ưu-ba-tư-đa 優波斯多) và Uất-đalâu 鬱多樓(TNM: Uất-đa-la 鬱多). T 2: Tô-rô Nỗ-đa-la 穌嚕 [04]努多囉. T 4: Chuyển luân 轉輪(Pl.: Cakkavattī ?) và Uất-đa;
xem cht. 38..D14: Bhiyyosa và Uttara.
47 Đề-xá 提舍và Bà-la-bà 婆羅婆. T 2: Bà-la-đặc-phạ-nhạ 婆囉特嚩惹(Một người). T 4: Chất-da-luân 質耶輪và Ba-đạt-hòa 波達和. D14l.: Tissa và Bhāradvāja.
48 Xá- lị-phất 舍利弗và Mục-kiền-liên 目犍連. T 2: chỉ kể Xá-lị- phất. T 4: Xá-lị-phất-la 舍利弗羅và Ma-mục-kiền-liên 摩目乾連. D14: Sāriputta và Moggallāna.

* Trang 23 *
device

Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Khiên-trà và Đề-xá:
Đệ tử Tì-bà-thi.
A-tì-phù, Tam-bà:
Đệ tử Phật Thi-khí.
Phò-du, Uất-đa-ma,
Bậc nhất hàng đệ tử;
Cả hai hàng ma oán:
Đệ tử Tì-xá-bà.
Tát-ni và Tì-lâu:
Đệ tử Câu-lưu-tôn.
Thư-bàn, Uất-đa-lâu:
Đệ tử Câu-na-hàm.
Đề-xá, Bà-la-bà:
Đệ tử Phật Ca-diếp.
Xá-lợi-phất, Mục-liên:
Bậc nhất đệ tử Ta.
“Đức Phật Tì-bà-thi có vị đệ tử chấp sự49 là VôƯu.50 Phật Thi-khí có vị đệ tử chấp sự là Nhẫn Hành.51Phật Tì-xá-bà có vị đệ tử chấp sự là Tịch Diệt.52 PhậtCâu-lưu-tôn có vị đệ tử chấp sự là Thiện Giác.53 PhậtCâu-na-hàm có vị đệ tử chấp sự là An Hòa.54 Phật Cadiếpcó vị đệ tử chấp sự là Thiện Hữu.55 Còn Ta có vịđệ tử chấp sự là A-nan.”56
Vô Ưu và Nhẫn Hành,
Tịch Diệt và Thiện Giác
An Hòa và Thiện Hữu
 ___________________________
49 Chấp sự đệ tử 執事弟子, tức đệ tử thị giả. Pl.: upaṭṭhāka.
50 Vô Ưu 無優. T 2: A-thâu-ca 阿輸迦. T 4: A-luân 阿輪(thâu 輸?). D14: Asoka.
51 Nhẫn Hành 忍行T 2: Sát-ma-ca-rô 殺摩迦嚕. T 4: Sai-ma-kiệt差摩竭. D14: Khemaṃkara.
52 Tịch diệt 寂滅T 2: Ô-ba-phiến-đổ烏波扇睹. T 4: Phục Chi Diệp 復枝葉(?). D14: Upasanta.
53 Thiện Giác 善覺. T 2: Một-đề-dũ 沒提逾. T 4: Phù-đề 浮提.D14: Buddhija.
54 An Hòa 安和T 2: Tô-rô-đế-lí-dã 蘇嚕帝里野. T 4: Tát-chất 薩質. D14: Sotthija.
55 Thiện Hữu 善友T 2: Tát-lí-phạ-mật-đát-ra 薩里縳瞇怛囉. T4: Tát-ba-mật 薩波[11]蜜. D14: Sabbamitta.
56 A-nan 阿難T 2: A-nan-đà 阿難陀. T 4: A-nan. D14 Ānanda.

* Trang 24 *
device

Thứ bảy là A-nan.
Ấy là thị giả Phật
Thấu rõ mọi nghĩa lý,
Ngày đêm không buông lung,
Lợi mình và lợi người.
Bảy Thánh đệ tử ấy
Hầu tả hữu bảy Phật
Hoan hỷ mà phụng sự,
Tịch nhiên vào diệt độ.57
“Đức Phật Tì-bà-thi có con tên Phương Ưng. Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng. Tì-xá-bà có con tên Diệu Giác. Câu-lưu-tôn có con tên Thượng Thắng.
Câu-na-hàm có con tên [3b] Đạo Sư. Ca-diếp có con tên Tập Quân. Ta nay có con tên là La-hầu-la.”58
Phật lại nói bài tụng:
Phương Ưng, và Vô Luợng,
Diệu Giác và Thượng Thắng,
Đạo Sư và Tập Quân,
Thứ bảy La-hầu-la.
Các con hào quý ấy
Nối dõi hạt giống Phật;
Yêu Pháp, ưa bố thí,
Trong Thánh Pháp, vô úy.
“Đức Phật Tì-bà-thi có cha tên Bàn-đầu,59 dòng vuaSát-lị; mẹ tên Bàn-đầu-bà-đề.60 Quốc thành vua trị tênlà Bàn-đầu-bà-đề.”61
_______________________
57 Tịch nhiên 寂然, TNM: tịch diệt 寂滅.
58 Phương ưng 方膺. Vô lượng 無量. Diệu giác 妙覺. Thượng Thắng 上勝. Đạo Sư 道師. Tập Quân 集軍. La-hầu-la 羅睺羅. T 4: Tuviết-kiền-đà 須曰多鞬陀, A-đâu-la 阿兜羅, Tu-ba-la-viết 須波羅曰, Uất-đa-la 欝多羅, Đọa-di-đà-tiên-na 墮夷陀先那, Sa-đa-hòa 沙多和, La-vân 羅云. T 2 và D14 không đề cập.
59 Bàn-đầu 盤頭, TNM: Bàn-đầu-ma-đa 盤頭摩多. T 2, T 3: Mãn-độ-ma 滿度摩. T 4: Bàn-nậu sát-lị vương 槃裱剎利王. D14: Bandhumant.
60 Bàn-đầu-bà-đề 盤頭婆提, TNM: Bàn-đầu-ma-na 盤頭摩那. T 2: Mãnđộ-ma-đế 滿度摩帝. T 4: Bàn-đầu-mạt-đà 槃頭末陀. D14: Bandumatī.
61 Bàn-đầu-bà-đề 槃頭婆提. T 2: Mãn-độ-ma 滿度摩. T 4: Sát-mạt-đề 剎末提. D14: Bandumatī.

* Trang 25 *
device

Phật bèn nói bài tụng:
Biến Nhãn,62 cha Bàn-đầu,
Mẹ Bàn-đầu-bà-đề.
Thành Bàn-đầu-bà-đề,
Phật thuyết pháp trong đó.
“Đức Phật Thi-khí có cha tên Minh Tướng,63 dòng vua Sát-lị; mẹ tên Quang Diệu;64 quốc thành vua cai trị tên là Quang tướng.”65
Phật lại nói tụng:
Thi-khí, cha Minh Tướng,
Mẹ tên gọi Quang Diệu;
Ở trong thành Quang tướng,
Uy đức dẹp ngoại địch.
“Đức Phật Tì-xá-bà có cha tên Thiện Đăng,66 dòng vua Sát-lị; mẹ tên Xưng Giới,67 quốc thành vua cai trị tên Vô dụ.”68
Phật nói tụng:
Cha Phật Tì-xá-bà,
Vua Sát-lị Thiện Đăng;
Mẹ tên gọi Xưng Giới;
Quốc thành tên Vô dụ.
“Đức Phật Câu-lưu-tôn có cha tên Tự Đắc,69 dòng Bàla-môn; mẹ tên
_________________________
62 Biến Nhãn 遍眼, hiệu của Phật Tì-bà-thi; xem cht. 34, 35.
63 Minh Tướng 明相. T 2: A-rô-Ta 阿嚕拏. T 4: A-luân-Ta 阿輪[06]拏. D14: Aruṇa.
64 Quang Diệu 光耀. T 2: 阿嚕拏. T 4: 波羅呵越提. D14: Pabhāvati,
65 Quang tướng 光相. T 2: A-rô-phạ-đế 阿嚕嚩帝. T 4: A-lâu-nahòa-đề 阿樓那惒提. D14: Aruṇavatī.
66 Thiện Đăng 善燈. T 2: Tô-bát-ra-để 穌鉢囉底. T 4: Tu-ba-la-đề-hòa 須波羅提惒. D14: Suppatīta.
67 Xưng giới 稱戒. T 2: Bát-ra-bà-phạ-để 鉢囉婆嚩底. T 4: Da-xáviệt-đề 耶舍越提. D14: Yasavatī
68 Vô Dụ 無喻. T 2: A-nỗ-bát-ma 阿努鉢麼. T 4: A-nậu-ưu-ma 阿耨憂摩. D14: Anopama.
69 Tự đắc 祀得 (TNM: Lễ Đức 禮德). T 2: Dã-nghê-dã-na-đa 野倪也那多. T 4: A-chi-vi-đâu 阿枝違兜. D14: Aggidatta.

* Trang 26 *
device

Thiện Chi.70 Vua tên An Hòa71 và quốc thành cũng theo đó mà có tên là An hòa.”72
Bà-la-môn Tự Đắc,
Mẹ tên gọi Thiện Chi.
Vua tên là An Hòa,
Cai trị thành An hòa.
“Đức Phật Câu-na-hàm có cha tên Đại Đức,73 dòng Bà-la-môn; mẹ tên Thiện Thắng.74 Vua tên Thanh Tịnh75 và quốc thành này cũng theo đó mà có tên là
Thanh tịnh.”76
Bà-la-môn Đại Đức,
Mẹ tên là Thiện Thắng;
Vua tên là Thanh Tịnh,
Ở trong thành Thanh tịnh.
“Đức Phật Ca-diếp có cha tên Phạm Đức,77 dòng Bàla-môn; mẹ tên [3c] Tài Chủ.78 Vua thời đó tên Cấp-Tỳ,79 trị vì quốc thành tên Ba-la-nại.”80
Bà-la-môn Phạm Đức,
Mẹ tên là Tài Chủ;
Thời vua tên Cấp-Tỳ,
Trị thành Ba-la-nại
________________________.
70 Thiện Chi 善枝. T 2: Vĩ-xá-khư 尾舍佉. T 4: Tùy-xá-ca 隨舍迦.D14: Visākhā.
71 An Hòa 安和. T 2: Sát-mô-sát-ma 剎謨剎摩. T 4: Tu-ha-đề 須訶提. D14: Khema.
72 An hòa 安和. T 2: Sát-ma 剎摩. T 4: Luân-ha-rị-đề-na 輪訶唎提那. D14: Khemavatī.
73 Đại Đức 大德. T 2: Dã-nghê-dã-na-đỗ 野倪也那覩. T 4: Da-thiễmbát-đa 耶睒鉢多. D14: Yaññadatta.
74 Thiện Thắng 善勝. T 2: Ô-đa-ra 烏多囉. T 4: Uất-đa-la 欝多羅.D14:Uattarā.
75 Thanh Tịnh 清淨. T 2: Thâu-bộ 輸部. T 4: Sai-ma 差摩. D14: Sobha.
76 Thanh tịnh thành 清淨. T 2: Thâu-bà-phạ-đế 輸婆嚩帝. T 4: Saima-việt-đề 差摩越提. D14: Sobhavatī.
77 Phạm Đức 梵德. T 2: Tô-một-ra-hạ-ma 穌沒囉賀摩. T 4: Achi- đạt-da 阿枝達耶. D14: Brahmadatta.
78 Tài-Chủ 財主. T 2: Một-ra-hạ-ma-ngu-bát-ma 沒囉賀摩虞鉢多. T 4: Đàn-na-việt-đề-da 檀那越提耶. D14: Dhanavatī.
79 Cấp-tỳ 汲毗(TNM: Ba-la-tỳ 波羅毗; có lẽ nhầm tự dạng cấp 汲và ba 波. T 2: Ngật-lí-kế 訖里計. T 4: Thậm Đọa 甚墮. D14: Kikī.
80 Ba-la-nại 波羅奈. T 2: đồng. T 4: Ba-la-tư 波羅私. D14:Bārāṇasī.0.

* Trang 27 *
device

“Còn Ta có thân phụ tên là Tịnh Phạn 81 dòng vua Sátlị,mẹ tên Đại Thanh Tịnh Diệu; 82 trị sở thành của vua là Ca-tì-la-vệ.”83
Cha: Sát-lị Tịnh Phạn,
Mẹ tên Đại Thanh Tịnh;
Đất rộng, dân sung túc;
Ta sinh ra ở đó.
“Đó là nhân duyên, danh hiệu, chủng tộc và chỗ xuất sinh của chư Phật. Kẻ trí nào nghe đến nhân duyên đó mà không vui mừng sinh tâm yêu thích!”
Bấy giờ, 84 Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, nay Ta muốn, bằng túc mạng trí, sẽ nói về sự tích của chư Phật quá khứ. Các ngươi muốn nghe không?”
Các Tỳ-kheo trả lời:
“Nay thật thích hợp. Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo, hãy nghe kỹ, hãy suy gẫm kỹ! Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các ngươi.”
“Này các Tỳ-kheo, nên biết, pháp thường của chư Phật như vầy:
“Đức Bồ-tát Tì-bà-thi từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, do hông phải mà vào, chính niệm không tán loạn. Ngay lúc ấy cõi đất rung chuyển; ánh sáng rực rỡ soi khắp thế gian; những chỗ mặt trời mặt trăng
không soi tới cũng đều mong nhờ chiếu sáng. Chúng sinh chốn u minh nhờ đó được trông thấy lẫn nhau và tự biết mình hiện đang sinh ở chỗ nào. Ánh quang minh đó lại soi đến cung điện Ma vương, Chư Thiên, Đế Thích, Phạm Thiên, Sa-môn, Bà-la-môn và các chúng sinh khác; tất cả thảy đều được mong nhờ ánh sáng. Ánh sáng của Chư Thiên tự nhiên biến mất.”
 _______________________
82 Đại Thanh Tịnh Diệu 大清淨妙, TNM.: Đại Hóa 大化. T 2: Mô-hama-da 謨訶摩耶. T 4: Ma-ha-ma-da 摩訶摩耶. D14: Mahamāya.
83 Ca-tì-la-vệ 迦毗羅衛. T 2: Ca-tì-la 迦毘羅. T 4: Ca-duy-la-vệ 迦維羅衛. D14: Kapilavatthu.
84 D. 14 (D.i.i. 8 ): Phật giảng xong đoạn trên liền đi vào tinh xá
(vihāra). Truyện kể được tiếp tục vào buổi chiều hôm đó.

* Trang 28 *
device

Rồi Phật nói bài tụng:
Mây dày kín hư không,
Ánh chớp chiếu thiên hạ;
Tì-bà-thi giáng thai,
Ánh sáng chiếu cũng vậy.
Chỗ nhật nguyệt không tới,
Thảy đều được chiếu sáng,
Thai thanh tịnh, vô nhiễm:
Pháp chư Phật đều vậy.
“Này các Tỳ-kheo, nên biết, pháp thường của chưPhật như vậy. Bồ-tát Tì-bà-thi lúc ở trong thai mẹ [4a]chuyên niệm, không tán loạn; thường có bốn vị thiênthần tay cầm qua mâu, hộ vệ cho mẹ ngài, dẫu loàingười hay loài phi nhân đều không thể xâm phạm. Đólà pháp thường.”
Rồi Phật nói bài tụng:
Bốn phương bốn thiên thần,
Có tiếng tăm, uy đức,
Thiên đế Thích sai khiến,
Khéo thủ hộ Bồ tát.
Tay thường cầm qua mâu,
Hộ vệ không chút rời.
Nhân, phi nhân không hại.
Ấy pháp thường chư Phật.
Được Chư Thiên hộ vệ,
Như thiên nữ hầu Trời;
Quyến thuộc đều hoan hỷ.
Ấy pháp thường chư Phật.
“Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đây là pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm, không tán loạn, khiến thân mẹ được an ổn, không có những điều lo lắng, trí tuệ càng tăng trưởng. Mẹ tự xem thai mình, thấy rõ thân Bồ-tát đủ các căn, tốt đẹp như chất vàng tía, không chút tì vết, khác nào kẻ có mắt sáng xem vào đồ lưu
ly trong sạch, thấy suốt cả trong ngoài không chút ngại. Này các Tỳ-kheo, đó là pháp thường của chư Phật.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Như ngọc lưu li sáng,
Ánh sáng như trời trăng;
Nhân Tôn trong thai mẹ,

* Trang 29 *
device

Khiến mẹ không khổ sở.
Trí tuệ càng tăng thêm;
Thấy thai như vàng ròng.
Mẹ mang thai an lạc.
Ấy pháp thường chư Phật.
“Này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Tì-bà-thi từ trời Đâu-suấtgiáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm, không tán loạn,khiến tâm mẹ lúc nào cũng thanh tịnh, không có cácdục tưởng, không bị lửa dục thiêu đốt. Ấy là phápthường của chư Phật.”
Thế Tôn lại nói bài kệ:
Bồ-tát trụ thai mẹ,
Phước trời trên cõi trời,
Tâm mẹ Ngài thanh tịnh,
Không có các dục tưởng.
Dứt bỏ các dâm dục,
Không nhiễm, không gần gũi,
Không bị lửa dục thiêu,
Mẹ chư Phật thường tịnh.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ,chuyên niệm, không tán loạn, khiến mẹ Ngài giữ trọnnăm giới, [4b] phạm hạnh thanh tịnh, thuần tín vànhân từ, thành tựu mọi điều lành, an lạc không sợ hãi;và khi thân hoại mệnh chung, được sinh cõi trời Đaolị. Ấy là pháp thường của chư Phật.”
Bấy giờ Thế Tôn lại nói kệ:
Hoài thai đấng Chí Tôn,
Tinh tấn, giới đầy đủ;
Mạng chung lại sinh thiên.
Duyên ấy, nói mẹ Phật.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi, khi sinh, từ hông phải của mẹ mà ra, cõi đất rung động, ánh sáng chiếu khắp nơi. Khi mới ra khỏi thai,85 những chỗ tối tăm thảy đều được chiếu sáng. Ấy là pháp thường của chư Phật.
_______________________
85 Để bản: nhập thai 入胎; có lẽ chép nhầm.

* Trang 30 *
device

Thái tử sinh, đất động,
Ánh sáng rọi khắp nơi,
Cõi này và cõi khác,
Trên dưới và các phương.
Phóng quang, cho mắt sáng;
Đầy đủ thân tướng trời.
Bằng tịnh âm,hoan hỷ,
Chuyền xưng tên Bồ-tát.86
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi, lúc sinh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm, không tán loạn. Khi ấy mẹ Bồ-tát tay vin cành cây, không ngồi không nằm, có bốn thiên thần bưng nước hương đứng trước Mẹ mà thưa rằng:
‘Tâu Thiên mẫu, nay Ngài sinh Thánh tử, chớ có lo lắng.’ Đó là pháp thường của chư Phật.”
Mẹ Phật không nằm, ngồi;
Trụ giới, tu phạm hạnh;
Không lười; sinh Chí Tôn,
Được trời người phụng thờ.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi lúc sinh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm, không tán loạn, thân Ngài thanh tịnh không bị ô nhiễm bởi các thứ ô uế. Ví như kẻ có mắt sáng, liệng hạt minh châu sáng sạch lên lụa trắng, thấy rõ cả hai đều không làm bẩn nhau, vì cả hai đều sạch. Bồ-tát ra khỏi thai cũng như vậy. Đó là pháp thường của chư Phật.”
Như minh châu sáng sạch,
Trên lụa, không vấy bẩn;
Bồ-tát khi xuất thai,
Thanh tịnh, không nhiễm ô.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật: Bồ-tát Tì-bà-thi, khi sinh, do hông phải của mẹ mà ra,chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra,
vừa xuống đến đất, [4c] không cần người đỡ, liền đi bảy bước, nhìn khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: ‘Trên trời dưới đất, duy Ta là tôn quý. Ta sẽ cứu độ chúng sinh khỏi sinh, già, bệnh, chết.’87 Ấy
_________________________
86 Chư thiên từ dưới thấp lên cao lần lượt chuyền nhau xưng danh hiệu Bồ-tát.
87 D. 14 (D.i.i 15): aggo’ham asmi lokassa, jeṭṭho ‘ham asmi lokassa, seṭṭho ‘ham asmi lokassa, ayam antimā jāti, n ‘atthi ‘dāni punabhavo ti, “Ta là đấng tối thượng

* Trang 31 *
device

Là thường pháp của chư Phật.”
Giống như sư tử bước,
Nhìn khắp cả bốn phương;
Nhân Sư Tử khi sinh,
Đi bảy bước cũng thế.
Lại như rồng lớn đi,
Khắp nhìn cả bốn phương,
Đấng Nhân Long khi sinh,
Đi bảy bước cũng thế.
Khi đấng Lưỡng Túc sinh,
Đi thong thả bảy bước,
Nhìn bốn phương rồi nói:
Sẽ dứt khổ sinh tử.
Ngay lúc mới sinh ra,
Đã không ai sánh bằng,
Tự xét gốc sinh tử,
Thân này thân tối hậu.
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật:Bồ-tát Tì-bà-thi, khi sinh do hông phải của mẹ màra, chuyên niệm, không tán loạn, tức thì có hai suối
nước, một ấm, một mát, tự nhiên ở dưới đất tuôn ra,để phục vụ tắm rửa cho Bồ tát. Đó là thường pháp của chư Phật.”
Đấng Lưỡng Túc khi sinh,
Hai suối tự tuôn ra,
Để cúng Bồ-tát dùng;
Biến Nhãn tắm sạch sẽ.
Hai suối tự tuôn ra,
Nước suối rất trong sạch;
Một ấm, một lạnh mát,
Tắm đấng Nhất thiết trí.
“Lúc Thái tử mới sinh, Phụ vương Bàn-đầu mời các tướng sư và đạo sĩ đến xem tướng Thái tử để biết sự tốt xấu. Bấy giờ, các tướng sư vâng lệnh đến xem,và ngay trước khi chưa mặc áo, họ nhìn rõ các tướng đầy đủ. Bèn đoán rằng: ‘Người có tướng này sẽ có haicon đường, chắc chắn không nghi ngờ. Nếu tại gia, sẽlà Chuyển luân thánh vương, trị vì bốn
 ________________________
của thế gian, là tối thắng của thế gian, là tối tôn của thế gian. Đây là sự sinh cuối cùng, không còn đời nào nữa.”

* Trang 32 *
device

châu thiên hạ, đủ bốn thứ quân binh, bằng chính pháp trị dân, không thiên lệch; thi ân khắp thiên hạ; tự nhiên có bảy thứ báu qui tụ; có ngàn người con dũng kiện hay dẹp trừ ngoại địch; không cần dùng đao binh mà thiên hạ thái bình. Còn nếu xuất gia học đạo, sẽ thành bậc Chính giác, đầy đủ mười hiệu.”
Rồi các tướng sư tâu vua:
“Con trai của Đức Vua có ba mươi hai tướng, sẽ có hai con đường, chắc chắn không nghi ngờ. Nếu tại gia sẽ là vị Chuyển luân thánh vương. Nếu xuất gia sẽ thành bậc Chính giác, đầy đủ mười hiệu.”
[5a] Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Thái tử trăm phước sinh,
Được tướng sư ghi nhận,
Như chép trong điển sách,
Chắc chắn theo hai đường:
Nếu ngài vui tại gia,
Sẽ là Chuyển luân vương,
Được bảy báu hiếm có,
Báu tự hiện cho vua.
Bánh xe vàng nghìn căm,
Với lưới vàng bao quanh;
Bánh xe hay bay khắp,
Nên gọi bánh xe trời.
Voi bảy ngà khéo luyện,
Cao lớn trắng như tuyết,
Có thể bay trên trời:
Voi báu là thứ hai.
Ngựa đi khắp thiên hạ,
Sớm đi, chiều về ăn,
Lông đỏ, bờm khổng tước,
Là báu vật thứ ba.
Ngọc lưu ly trong sáng,
Chiếu rọi một do-tuần,
Đêm sáng như ban ngày,
Là báu vật thứ tư.
Sắc, thanh, hương, vị xúc,
Không ai có thể sánh,
Bậc nhất hàng nữ nhân:
Đó là báu thứ năm.

* Trang 33 *
device

Hiến vua ngọc lưu ly,
Châu ngọc các thứ quí,
Hoan hỷ mà phụng cống:
Đó là báu thứ sáu.
Theo ý niệm Luân vương,
Quân binh tiến thoái nhanh,
Nhậm lẹ theo ý vua:
Đó là báu thứ bảy.
Đó là bảy báu vật:
Bánh xe, voi, ngựa trắng,
Cư sỹ báu, nữ báu,
Quân binh báu thứ bảy.
Nhìn xem mà không chán,
Ngũ dục tự vui thú.
Như voi bứt dây trói,
Xuất gia, thành Chính giác.
Vua có con như thế,
Đấng Lưỡng Túc loài người,
Chuyển Pháp luân trong đời,
Đạo thành, không biếng nhác.
“Lúc bấy giờ, Phụ vương ân cần hỏi lại tướng sư ba lần: ‘Các ngươi hãy xem lại, ba mươi hai tướng của Thái tử gồm những gì?’ Các tướng sư bèn khoác áo lại cho Thái tử, và kể rõ ba mươi hai tướng: 1. Bàn chân
bằng phẳng đầy đặn, đi đứng vững vàng. 2. Dưới bàn chân có dấu chỉ như bánh xe có ngàn căm, ánh sáng rọi lẫn nhau. [5b] 3. Có màng lưới mỏng giữa kẽ ngón tay, chân như chân ngỗng chúa. 4. Tay chân mềm mại như áo trời. 5. Ngón tay chân thon dài không ai bằng. 6. Gót chân đầy đặn trông không chán. 7. Ống chân thon dài như của nai. 8. Các khớp xương móc lấy nhau
như xích chuyền. 9. Mã âm tàng. 10. Đứng thẳng, tay duỗi dài quá gối. 11. Mỗi chân lông đều có một sợi lông; sợi lông ấy xoáy hữu, màu lưu ly xanh biếc. 12.Lông mọc xoay phía hữu, màu xanh biếc thẳng lên. 13. Thân sắc huỳnh kim. 14. Da thịt mịn màng không dính bụi nhơ. 15. Hai vai ngang bằng, đầy đặn, tròn đẹp. 16. Giữa ngực có chữ vạn.88 17. Thân cao gấp đôi người thường. 18. Bảy chỗ trong người đầy đặn. 19. Mình cao, to lớn như cây
____________________
88 Vạn tự 萬字.

* Trang 34 *
device

ni-câu-lô.89 20. Hai má như sư tử. 21. Ngực vuông đầy như ngực sư tử. 22. Có bốn mươi cái răng. 23. Răng ngang bằng, đầy đặn. 24.Răng khít nhau không hở. 25. Răng trắng, trong sáng.26. Yết hầu thanh sạch, ăn thức gì cũng thích hợp. 27.Lưỡi rộng dài có thể liếm tới mép tai. 28. Tiếng nói
trong rõ như tiếng Phạm Thiên. 29. Con mắt có màu xanh biếc. 30. Mắt như mắt trâu chúa, trên dưới có hai mí.90 31. Có lông trắng giữa hai chân mày, mềm mại,kéo ra dài một tầm, thả thì xoáy trôn ốc về phía hữu,như trân châu. 32. Trên đỉnh có chỗ thịt nổi. Ấy là 32 tướng đại nhân.”91
Bèn nói bài tụng:
Đứng vững, chân mềm mại,
Không dẫm đất, hiện dấu;
Trang nghiêm tướng nghìn căm;
Đủ màu sắc tươi sáng;
Thân cao rộng, ngay thẳng,
Như cây ni-câu-loại;
Như Lai, chưa từng có,
Mã âm tàng ẩn kín;
Vàng báu trang nghiêm thân,
Các tướng chói lẫn nhau;
Tuy lưu hành 92 theo tục,
Song bụi đất không dính;
Như sắc trời mịn màng;
Lọng trời tự nhiên che;
Phạm âm, thân vàng tía,
Như hoa vươn khỏi ao.
Vua bèn hỏi tướng sư.
Tướng sư kính tâu vua.
Ngợi khen tướng Bồ-tát,
Sáng chói khắp toàn thân,
_______________________
89 Ni-câu-lô 尼拘盧; TNM: ni-câu-loại 尼拘類. Pl: nigrodha.
90 Nguyên Hán: nhãn thượng hạ câu huyến 眼上下俱眴, nếu dịch sát: mắt trên dưới cùng nháy; không rõ nghĩa. So sánh Pl.: gopakhuma, có mí mắt như của bò cái; nghĩa là, mắt hai mí.
91 Xem thêm: T 261 (tr. 493c19); Đại Bát-nhã 573 (tr. 960a28); Đại Tỳ-bà-sa 177 (tr. 888a6); Đại trí độ 29 (tr. 273c1). Pāli, D.ii 17.
92 Để bản: lưu hành 流行. NM: lưu ô 流汙: đổ mồ hôi?

* Trang 35 *
device

Các gân khớp tay chân,
Trong ngoài đều hiện rõ;
[5c] Thực vị thảy vi diệu;
Thân ngay ngắn không vẹo;
Bánh xe hiện dưới chân;
Tiếng nói như chim oanh;
Tướng bắp đùi đầy đặn,
Ấy do túc nghiệp thành;
Cùi chỏ tròn đầy đẹp;
Mày mắt rất đoan nghiêm;
Đấng Sư Tử giữa người,
Có oai lực hơn hết.
Hai má đều đầy đặn;
Nằm nghiêng như sư tử;
Bốn mươi răng đều đặn;
Dày khít không kẽ hở;
Tiếng Phạm âm ít có,
Xa gần tùy duyên nghe;
Đứng thẳng thân không nghiêng,
Hai tay sờ đến gối;
Ngón tay đều, mềm mại;
Đủ các tướng tôn quí.
Mỗi chân lông một sợi;
Màng lưới kẽ tay chân;
Nhục kế, mắt xanh biếc;
Mắt trên dưới hai mí;
Hai vai ngang, tròn, đầy;
Đủ ba mươi hai tướng.
Gót chân không cao thấp;
Đùi thon như đùi nai.
Đấng Chí Tôn xuất hiện,
Như voi bứt dây trói,
Độ chúng sinh thoát khổ,
Khỏi sinh già bệnh chết.
Ngài đem tâm đại bi,
Truyền dạy bốn chân đế,
Diễn bày các pháp nghĩa,
Được mọi người tôn quý.

* Trang 36 *
device

Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, lúc Phật Tì-bà-thi sinh ra, ChưThiên ở phía trên, giữa hư không, tay cầm lọng trắng,quạt báu, để ngăn che lạnh, nóng, gió, mưa, bụibặm.”
Hiếm có trong loài người,
Đấng Lưỡng Túc ra đời,
Được Chư Thiên cung kính,
Dâng lọng báu, quạt báu.
“Bấy giờ, Phụ vương cấp bốn người vú: một, cho bú; hai, tắm rửa; ba, bôi hương; bốn, vui đùa. Họ vui vẻnuôi nấng, không hề biếng nhác.”
Nhũ mẫu lòng từ ái,
Nuôi dưỡng con mới sinh:
Cho bú và tắm rửa,
Bôi hương và vui đùa.
Hương bậc nhất trong đời,
Bôi xoa đấng Chí Tôn.
[6a]“Lúc còn là đồng tử, con trai con gái cả nước ngắm nhìn Ngài không chán.”
Được nhiều người thương kính,
Như tượng vàng mới thành,
Trai gái cùng nhìn ngắm,
Nhìn mãi không biết chán.
“Lúc còn là đồng tử, con trai và con gái cả nước chuyền nhau ẵm bồng, như ngắm hoa báu.”
Phật nói bài kệ:
Khi Lưỡng Túc Tôn sinh,
Được nhiều người thương kính,
Chuyền tay nhau bồng ẵm,
Như ngắm hương hoa báu.
“Bồ-tát khi mới sinh, mắt Ngài không nháy như Chư Thiên trời Đao-lị.93 Do cặp mắt không nháy mà có hiệu là Tì-bà-thi.”
____________________
93 Hán: kì mục bất huyến, như Đao-lị thiên 其目不眴如刀利天D.14 (D.i.i 17): animisanto pekkhati seyyathāpi devā tāvatiṃsā, animisantokumāro pekkhatā’ti

* Trang 37 *
device

Đấng Chí Tôn không nháy,
Như Chư Thiên Đao-lị,
Thấy sắc mà chính quán,
Nên hiệu Tì-bà-thi.
“Bồ-tát khi sinh, âm thanh của Ngài trong suốt, êm dịu, hòa nhã như tiếng chim ca-la-tần-già.”94
Như chim trên núi Tuyết,
Uống nước hoa mà hót,
Đấng Lưỡng Túc Tôn ấy,
Tiếng trong suốt cũng vậy.
“Bồ-tát khi mới sinh, mắt có thể nhìn thấy suốt một do-tuần.”
Do nghiệp quả95 thanh tịnh,
Ánh sáng trời mầu nhiệm,
Mắt Bồ-tát nhìn thấy,
Khắp suốt một do-tuần.
“Bồ-tát khi sinh, tuổi lớn dần, ở tại Đại chính đường để khai hóa theo lẽ đạo.96 Ân đức ban đến thứ dân, đức lớn đồn xa.”97
Thơ ấu, ngồi Chính đường,
Xử thiên hạ đúng luật,
Quyết đoán các sự vụ,
Nên gọi Tì-bà-thi.
Trí thanh tịnh quảng bác,
Sâu thẳm như biển cả,
Làm mọi người hài lòng,
Khiến trí tuệ tăng trưởng
__________________________
kho… ‘vipassī vipassī’ tveva samaññā udapādi. “nhìn thẳng sự vật bằng cặp mắt không nháy như Chư ThiênTāvatimsa, vì vậy, gọi là Vipassī (người quan sát).”
94 Ca-la-tần-già 迦羅頻伽; xem cht. 10.
95 D.14 (ii 20): kammavipākajam, phát sinh từ dị thục của nghiệp.
96 Để bản: Thiên chánh đường 天正堂; TNM: Đại chánh đường 大正堂. D14: atthakaraṇa: công đường hay pháp đường, để xử kiện. Thamchiếu, D. 14 (D.i.i 20): bandhumā rājā atthakaraṇe nisinT vipassiṃkumāraṃ aṅke nisīdāpetvā atthe anusāsati, “Vua Bandhumā khi ngồi ởpháp đình, đặt Vương tử Vipassī trên đùi, dạy xử án.”
97 Tham chiếu, D. 14 (ii 20): “…do hoàng tử Vipassī có thể quan sát và phán quyết đúng chánh lý nên càng được gọi tên là Vipassī.

* Trang 38 *
device

“Một hôm, Bồ-tát muốn ra khỏi thành để dạo chơi và quan sát, bèn ra lịnh người đánh xe98 sửa soạn xe báu để Ngài đi đến công viên99 tuần hành và du ngoạn. Người đánh xe sau khi sửa soạn xa giá xong, tâu Thái tử: ‘Giờ đã thích hợp.’ Thái tử cỡi xe báu đi đến khu vườn công cộng100 kia. Giữa đường, Ngài gặp một người già, đầu bạc, răng rụng, lưng còm, mặt nhăn, rung rinh trên chiếc gậy, thở khò khè theo nhịp bước khó khăn. Thái tử liền xoay hỏi quân hầu: ‘Đó là [6b] người gì?’ Đáp rằng: ‘Đó là người già.’ Lại hỏi: ‘Già là thế nào?’ Đáp: ‘Già là người mà tuổi thọ sắp hết,không còn sống bao lăm nữa.’ Thái tử lại hỏi: ‘Ta đây cũng sẽ như thế, không tránh khỏi tai họa này chăng?’Đáp: ‘Phàm đã có sinh tất có già, đâu kể gì sang hèn.’Nghe vậy Thái tử buồn bã không vui, liền bảo quân
hầu đánh xe về. Ngài lặng lẽ suy niệm: ‘Ta cũng sẽ như vậy, chịu nỗi khổ vì tuổi già này.’”
Bấy giờ Phật bèn nói bài kệ:
Thấy già, mạng sắp chết,
Chống gậy bước đi run,
Bồ-tát tự suy ngẫm:
Ta chưa khỏi nạn này.
“Bấy giờ Phụ vương hỏi quân hầu: ‘Thái tử xuất du có vui không?’ Đáp: ‘Không vui.’ Vua hỏi lý do: ‘Tại sao vậy?’ Đáp: ‘Tại giữa đường Ngài gặp người già nên không vui.’ Phụ vương mới âm thầm nhớ lại: ‘Ngày trước tướng sư xem tướng, đoán Thái tử sẽ xuất gia; nay Thái tử không vui, hẳn đúng như thế chăng? Ta hãy dùng mọi cách giữ Thái tử lại thâm cung, đem ngũ dục làm nguôi lòng Thái tử, để Thái tử đừng xuất gia.’ Nghĩ xong vua liền hạ lệnh trang sức cung điện, chọn hàng thế nữ để giúp vui Thái tử.”
Phật nói bài tụng:
Phụ vương nghe lời ấy,
Sai trang hoàng cung quán,
Tăng thêm bằng ngũ dục,
Muốn khiến không xuất gia.
“Một thời gian sau, Thái tử bảo quân hầu đánh xe đi dạo. Giữa đường,
_______________________
98 T 4: Du-nga 瑜誐.
99 Viên lâm 園林. Pl.: uyyānabhumi; Skt. udyāna: công viên, viên quán.
100 Hán: viên quán 園觀, tức viên lâm. Xem cht. 90.

* Trang 39 *
device

Ngài gặp một người bệnh, thân gầy, bụng lớn, mày mặt sạm đen, nằm một mình trên phân dơ, không ai chăm sóc. Bệnh rất khổ, miệng cứng không nói được. Thái tử xoay lại hỏi quân hầu: ‘Đó là người gì?’ Đáp: ‘Đó là người bệnh.’ Hỏi: ‘Bệnh là thế nào?’Đáp: ‘Bệnh là là bị các thứ đau nhức hành hạ, chết sống không biết lúc nào.’ Hỏi: ‘Ta cũng sẽ như thế, không tránh khỏi tai họa này sao?’ Đáp: ‘Phải. Phàm có sinh thì có bệnh, không kể gì sang hèn.’Nghe vậy, Thái tử trở nên buồn bã không vui, liền bảo
quân hầu đánh xe trở về. Ngài lặng lẽ suy nghĩ: ‘Ta cũng sẽ như vậy, chịu nỗi khổ vì bệnh này.’”
Rồi Phật nói bài kệ:
Thấy người bịnh lâu kia,
Nhan sắc bị suy tổn,
Im lặng tự suy ngẫm:
Ta chưa khỏi hoạn này.
“Bấy giờ, Phụ vương lại hỏi quân hầu: ‘Thái tử đi dạo có vui không?’ Đáp: [6c] ‘Không vui.’ Quân hầu đáp. ‘Tại sao thế?’ ‘Tại giữa đường Ngài gặp người bệnh, nên không vui.’ Phụ vương âm thầm suy nghĩ:
‘Ngày trước tướng sư xem tướng Thái tử, đoán rằng sẽ đi xuất gia. Ngày nay Thái tử không vui, hẳn đúng thế chăng? Ta sẽ tìm cách tăng thêm mọi thứ dục lạc làm nguôi lòng Thái tử, khiến cho khỏi xuất gia.’ Vua liền hạ lệnh nghiêm sức cung điện, chọn thêm thể nữ để giúp vui.”
Phật lại nói kệ:
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Vi diệu, đáng ưa thích;
Bồ-tát phước tột cùng,
Nên sống trong hoan lạc.
“Lại một lúc khác, Thái tử bảo quân hầu đánh xe đi dạo. Giữa đường, Ngài gặp một người chết; phướn lụa nhiều màu dẫn đường trước sau; dòng họ,thân quyến, tiếc thương than khóc, đưa ra khỏi thành. Thái tử lại hỏi: ‘Đó là người gì?’ Quân hầu đáp: ‘Đó là người chết.’ Hỏi: ‘Chết là thế nào?’ Đáp: ‘Chết tức là hết. Hết gió đến hết lửa, các căn bại hoại. Kẻ còn
kẻ mất đôi đường, gia đình ly biệt. Đó gọi là chết’Thái tử lại hỏi người đánh xe: ‘Ta đây cũng sẽ như thế, chưa khỏi tai hoạn này chăng?’ Đáp: ‘Phải. Phàm đã có sinh tất có chết, chẳng kể sang hèn.’ Nghe vậy, Thái tử lại càng buồn bã không vui, bảo đánh xe về. Ngài trầm ngâm suy nghĩ: ‘Ta cũng sẽ như vậy, chịu nỗi khổ vì chết này.’”
Phật liền dạy bài kệ:

* Trang 40 *
device

Lần đầu thấy người chết,
Biết họ còn tái sinh;
Thầm lặng tự suy nghĩ:
Ta chưa khỏi hoạn này.
“Phụ vương lại hỏi quân hầu: ‘Thái tử đi dạo lần này có vui không?’ - ‘Không vui’, quân hầu đáp: - ‘Tại sao thế’? - ‘Tại giữa đường Ngài gặp người chết, nên không vui.’ Phụ vương âm thầm suy nghĩ: ‘Ngày trước
tướng sư xem Thái tử, đoán rằng sẽ đi xuất gia. Ngày nay Thái tử không vui, hẳn là đúng thế chăng? Ta hãy tìm cách tăng thêm các thứ kỹ nhạc để làm nguôi lòng Thái tử, khỏi xuất gia.’ Liền hạ lệnh trang sức cung
điện, chọn thêm thể nữ để khiến cho giúp vui.”
Tuổi thơ đã nổi tiếng,
Các thể nữ vây quanh,
Tự vui thú ngũ dục,
Như thú vui Thiên đế.
[7a] “Lại một lúc khác, Thái tử bảo quân hầu đánh xe đi dạo. Giữa đường, Ngài gặp một vị Sa-môn, bận pháp phục, tay cầm bát, mắt nhìn xuống đất mà bước đi. Thái tử liền hỏi quân hầu: ‘Đó là người gì?’ ‘Đó là vị Sa-môn’, quân hầu đáp. - ‘Sao gọi là Sa-môn?’ -‘Sa-môn là người xa lìa ân ái, xuất gia tu đạo, chế ngự các căn, không nhiễm ngoại dục, có tâm từ đối với hết thảy, không làm tổn hại vật gì; gặp khổ cũng không buồn, gặp vui cũng không mừng, hay nhẫn như đất.Đó gọi là Sa-môn.’ Thái tử bèn nói: ‘Lành thay! Đó là đạo chân chính, tuyệt hẳn mọi trần lụy, chỉ vui thú với cái vi diệu thanh hư.’ Thái tử liền bảo quân hầu đưa xe đến gần, và hỏi Sa-môn rằng: ‘Ông cạo bỏ râu tóc, bận pháp phục, cầm bát như vậy, chí ông muốn
cầu chuyện gì?’ Sa-môn đáp: ‘Phàm người xuất gia là cốt điều phục tâm ý, xa lìa trần cấu, thương xót cứu giúp quần sinh, không làm điều gì xâm hại, trong lòng rỗng rang tịch mịch, chỉ có bề giữ đạo mà thôi.’ Thái tử khen: ‘Hay lắm! Đạo này rất chân chính.’ Liền bảo quân hầu: ‘Mang áo trân bảo của Ta và xa giá về, tâu lại Phụ vương biết rằng ngay tại đây, Ta sẽ cắt bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo. Vì Ta muốn điều phục tâm ý, xa lìa trần cấu, giữ mình thanh tịnh để cầu chính đạo.’ Quân hầu liền đem xa giá và y phục của Thái tử về tâu lại phụ vương, còn Thái tử thì cắt bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Thái tử nhân thấy người già, người bệnh mà thấu rõ

* Trang 41 *
device

cõi đời là khổ não; nhân thấy người chết mà lòng tham luyến thế gian tiêu tan; nhân thấy Sa-môn mà tâm được quách nhiên đại ngộ. Trong khi Thái tử xuống xe bước đi, cứ mỗi bước tiến tới là mỗi bước rời xa triền phược. Thế ấy là chân xuất gia, chân viễn ly.
“Bấy giờ, nhân dân trong nước nghe Thái tử đã cạo bỏ râu tóc, bận pháp phục, cầm bát, xuất gia hành đạo, bèn bảo nhau rằng: ‘Đạo ấy chắc là đạo chân chính, mới khiến Thái tử bỏ nước, bỏ ngôi vị cao sang, cùng mọi sự quý trọng.’ Lúc ấy có tới tám vạn bốn ngàn người trong nước đến xin Thái tử cho làm đệ tử xuất gia tu đạo.”
Phật nói bài tụng:
Lựa chọn pháp thâm diệu,
Nghe xong, liền xuất gia,
Thoát khỏi ngục ân ái,
Không còn các trói buộc.
“Thái tử bèn thâu nhận, cho cùng đi theo, giáo hóa khắp nơi, từ thôn này sang thôn khác, từ nước nọ đến nước kia. Ngài đến chỗ nào cũng được cung kính, [7b] cúng dường tứ sự. Bồ-tát nghĩ rằng: ‘Ta cùng đại chúng thường đi qua các nước, chỗ nhân gian ồn ào; sự này không thích hợp với ta lắm. Lúc nào ta mới xa được đám đông này ở chỗ nhàn tịnh mà suy tầm đạo lý?“
Sau đó, Ngài được như chí nguyện, đi đến chỗnhàn tịnh, chuyên tinh tu đạo. Ngài lại suy nghĩ: Chúng sinh thật đáng thương, thường ở trong tăm tối, mang lấy cái thân nguy khốn, mong manh, nào sinh, nào già, nào bệnh, nào chết, đủ mọi thứ khổ não. Chúng chết đây sinh kia, chết kia sinh đây, cứ duyên theo cái khổ uẩn này mà trôi nổi, không bao giờ cùng. Ta lúc nào mới có thể thấu triệt khổ uẩn, diệt hết sinh, già, chết?’
“Ngài lại suy nghĩ rằng: ‘Già-chết từ đâu, duyên cái gìmà có?’101 Ngài liền dùng trí tuệ quán sát nguyên do, thấy rằng do sinh mà có già và chết; sinh là duyên của già-chết. Sinh lại do hữu mà khởi; hữu là duyên của sinh. Hữu do thủ màkhởi; thủ là duyên của hữu. Thủdo ái mà khởi; ái là duyên của thủ. Ái do thọ mà khởi; thọ là duyên của ái. Thọ do xúc mà khởi; xúc là duyên của thọ. Xúc do sáu xứ102 mà có; sáu xứ là duyên của
______________________
101 Nguyên Hán: sinh tử 生死, nên đọc là lão tử 老死, già và chết. Cf. Pāli, D. ii 30: kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṃ hoti, kiṃpaccayājarāmaraṇan’ti?
102 Nguyên Hán: lục nhập 六入.

* Trang 42 *
device

xúc. Sáu xứ do danh sắc mà khởi; danh sắc là duyên của sáu xứ. Danh sắc do thức mà khởi; thức là duyên của danh sắc. Thức do hành mà khởi, hành là duyên của thức.103 Hành do vô minh104 mà khởi, vô minh là duyên của hành. Thế tức là do duyên là vô minh có hành, do duyên là hành có thức, do duyên là thức có danh sắc, do duyên là danh sắc có sáu xứ, do duyên là sáu xứ có xúc, do duyên là xúc có thọ, do duyên là thọ có ái, do duyên là ái có thủ, do duyên là thủ có hữu, do duyên là hữu có sinh, do duyên là sinh có già, bệnh, chết, sầu, buồn, khổ, não. Khổ uẩn105 này do duyên là sinh mà có. Chính đó là sự tập khởi của khổ.’
“Khi Bồ-tát tư duy về sự tập khởi của khổ uẩn ấy, liền phát sinh trí, phát sinh con mắt, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh tuệ, phát sinh chứng ngộ.106
“Bồ-tát lại suy nghĩ: ‘Do cái gì không có mà già-chết không có? Do cái gì diệt thì già-chết diệt?’ Rồi bằng trí tuệ, Ngài quán sát nguyên do, biết rằng, do sinh không có nên già-chết không có; do sinh diệt nên già chết diệt; do hữu không có nên sinh không có, hữu diệt nên sinh diệt; do thủ không có nên hữu không có, thủ diệt nên hữu diệt; do ái không có nên thủ không có, ái diệt nên thủ diệt; do thọ không có nên ái không có, thọ diệt nên ái diệt; do xúc không có nên thọ không có, xúc diệt nên thọ diệt; do sáu xứ không có nên xúc không có, sáu xứ diệt nên xúc diệt; do danh sắc không có nên sáu xứ không có, danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do thức không có nên danh sắc không có, thức diệt nên danh sắc diệt; do hành không có nên thức không có, hành diệt nên thức diệt; do vô minh không có nên hành không có, [7c] vô minh diệt nên hành diệt. Thế tức
__________________________
103 Cf. Pāli, D.i.i 32: kimhi nu kho sati viññāṇaṃ hoti, kiṃpaccayā viññāṇan’ti? … nāmarūpe kho sati viññāṇaṃ hoti, nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti. ..paccudāvattati kho idaṃ viññāṇaṃ - nāmarūpamhā, nāparaṃ gacchati. “Do có cái gì mà có thức? Do duyên là gì màcó thức? … Do có danh sắc mà có thức; do duyên là danh sắc màcó thức… Thức này từ danh sắc mà quay trở lui, không đi lên nữa.Trong bản Pāli, duyên khởi 10 chi. Các bản Hán đều kể duyên khởi12 chi.
104 Nguyên Hán: si 癡. Pl. avijjā.
105 Nguyên Hán: khổ thạnh ấm苦盛陰. Pl.: kevala- dukkhakkhanda: toàn bộ khổ uẩn, khối thuần khổ.
106 Hán: 生智, 生眼, 生覺, 生明, 生通, 生慧, 生證sinh trí, sinh nhãn, sinh giác, sinh minh, sinh thông, sinh tuệ, sinh chứng. Pāli, D.i.i 29: pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃudapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi., “phát sinh con mắt thấy được các pháp chưa từng được nghe từ trước, phát sinh trí, phát sinh tuệ, phát sinh minh, phát sinh ánh sáng.

* Trang 43 *
device

là vì vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên sáu xứ diệt, sáu xứ diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sinh diệt, sinh diệt nên già, chết, ưu, bi, khổ, não diệt.
“Khi Bồ-tát suy nghĩ về sự diệt tận của khổ uẩn như thế liền phát sinh trí, phát sinh con mắt, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh tuệ, sinh chứng.
“Sau khi Bồ-tát quán mười hai chi duyên khởi107 theo hai chiều thuận nghịch, biết như thật, thấy như thật,tức thì ngay tại chỗ ngồi, Ngài chứng đắc A-nậu-đala-tam-miệu-tam-bồ-đề.”
Phật bèn nói bài tụng:
Lời này nói giữa chúng,
Các ngươi nên lắng nghe.
Bồ-tát quá khứ quán
Pháp vốn chưa từng nghe:
Già-chết từ duyên gì?
Do nhân gì mà có?
Quán sát đúng như vậy,
Biết già-chết do sinh.
Sinh lại từ duyên gì,
Nhân gì mà có ra?
Suy nghĩ đúng như vậy,
Liền biết sinh do hữu.
Chấp thủ đây, kia rồi,108
Hữu lần lượt chồng chất.
Vậy nên Như Lai dạy:
Thủ là duyên của hữu.
Như đống chứa dơ bẩn.109

Gió thổi, bẩn tuôn chảy,110 

_______________________________
107 Nguyên Hán: thập nhị nhân duyên 十二因緣.
108 Hán: thủ bỉ thủ bỉ 取彼取彼. Cf. D. ii 58: upādānañca hi (…)sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ kassaci kimhici, “(…) thủ vớibất cứ loại nào, trong bất cứ trường hợp nào…”
109 Hán: như chúng uế ác tụ 如眾穢惡聚; TNM: dĩ thâm uế ác tụ 以深穢惡聚.

* Trang 44 *
device

Như vậy nhân của thủ,
Do ái mà rộng sâu.
Ái do từ thọ sinh,
Nảy sinh gốc lưới khổ,
Vì nhân duyên nhiễm trước,
Cùng tương ưng khổ lạc.
Thọ vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có thọ?
Suy nghĩ như thế rồi,
Biết thọ do xúc sinh.
Xúc vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có xúc?
Suy nghĩ như thế rồi,
Biết xúc từ sáu xứ.
Sáu xứ do duyên gì,
Nhân gì có sáu xứ?
Suy nghĩ như vậy, biết
Sáu xứ do danh sắc.
Danh sắc do duyên gì,
Nhân gì có danh sắc?
Suy nghĩ như vậy biết
Danh sắc từ thức sinh.
Thức vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có thức?
[8a]Suy nghĩ như vậy rồi,
Biết thức từ hành sinh.
Hành vốn do duyên gì,
Nhân gì mà có hành?
Suy nghĩ như vậy rồi
Biết hành từ vô minh sinh.
Nhân duyên như vậy đó,
Mới thật nghĩa nhân duyên.
Bằng phương tiện trí tuệ,
Quán thấy gốc nhân duyên.
___________________________
110 Hán: phong xuy ác lưu diễn 風吹惡流演; TNM: phong xuy vô lưu diễn 風吹無流演. Có lẽ muốn nói, do gió nghiệp thổi, ác pháp hay uế pháp từ ngoài rò chảy vào tâm.

* Trang 45 *
device

Khổ không do Thánh hiền,
Cũng không phải vô cớ.
Nên với khổ biến dịch,
Kẻ trí lo đoạn trừ.
Nếu vô minh dứt sạch,
Lúc đó không còn hành.
Nếu đã không có hành,
Thời cũng không có thức.
Nếu thức vĩnh viễn diệt,
Thì danh sắc không còn.
Danh sắc đã dứt rồi,
Làm gì có sáu xứ.
Nếu sáu xứ trọn dứt,
Thời cũng không có xúc.
Nếu xúc đã dứt hẳn,
Thời cũng không có thọ.
Nếu thọ dứt hết rồi,
Thời cũng không có ái.
Nếu ái dứt hết rồi
Thời cũng không có thủ.
Nếu thủ đã dứt rồi,
Thời cũng không có hữu.
Nếu hữu dứt hết rồi,
Thời cũng không có sinh.
Nếu sinh dứt hết rồi,
Thời không khổ già-chết.
Hết thảy đều dứt sạch.
Đó lời người trí nói,
Mười hai duyên sâu xa,
Khó thấy, khó hiểu biết;
Duy Phật mới biết rõ,
Tại sao có, sao không.
Nếu hay tự quán sát,
Thời không còn các nhập.
Người thấu triệt nhân duyên
Không tìm thầy bên ngoài.
Ai nơi uẩn, giới, xứ,
Lìa dục, không nhiễm trước,
Xứng đáng nhận bố thí;

* Trang 46 *
device

Thí chủ được báo lành.
Nếu đặng bốn biện tài,
Thành tựu quyết định chứng;
Giải trừ mọi ràng buộc,
Đoạn trừ, không buông lung.111
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
Giống như xe cũ mục:
Quán rõ được như vậy,
Thời thành bậc Chính giác.
[8b]Như chim bay giữa không,
Đông tây theo ngọn gió;
Bồ-tát đoạn kết sử,
Như gió thổi áo nhẹ.
Tì-bà-thi tịch tịnh,
Quán sát rõ các pháp:
Già-chết duyên đâu có?
Từ đâu già-chết dứt?
Ngài quán như vậy rồi,
Phát sinh trí thanh tịnh,
Biết già-chết do sinh.
Sinh dứt, già-chết dứt.
“Lúc Phật Tì-bà-thi vừa mới thành đạo, Ngài tu tập nhiều về hai phép quán, là an ổn quán và xuất ly quán.” 112
Phật liền dạy bài tụng:
Như Lai bậc tối thượng,
Thường tu hai phép quán,
An ẩn và xuất ly,
Đại Tiên sang bờ kia.
Tâm Ngài được tự tại,
Đoạn trừ mọi kết sử,
Lên núi nhìn bốn phưphương,
Nên hiệu Tì-bà-thi.
Ánh đại trí trừ tối,
_______________________
111 Đoạn trừ vô phóng dật 斷除無放逸. TNM: đoạn ấm vô phóng dật 斷陰無放逸: đoạn trừ thủ uẩn, không buông lung.
112 An ẩn quán 安隱觀, xuất ly quán 出離觀.

* Trang 47 *
device

Như gương sáng soi mình.
Trừ ưu khổ cho đời;
Dứt khổ sinh, già, chết.
“Phật Tì-bà-thi, lại ở chỗ nhàn tịnh suy nghĩ như vầy: ‘Ta nay đã chứng được pháp vô thượng thậm thâm vi diệu, là pháp khó thấy khó hiểu, tịch tĩnh, thanh tịnh, chỉ có người trí mới thấu biết chứ kẻ phàm phu không thể nào hiểu thấu được.113 Bởi vì chúng sinh có những nhẫn dị biệt, kiến dị biệt, chấp thủ dị biệt, sở kiến dị biệt. Dựa theo kiến thức dị biệt đó mỗi người chỉ thích điều mình mong cầu, làm theo tập quán của mình,114 cho nên chúng không thể thấu hiểu lý duyên khởi thâm diệu này.115 Đối với Niết-bàn diệt tận khát ái lại càng khó hiểu gấp bội phần. Nếu Ta dầu vì chúng mà nói ra thì chắc chúng không hiểu nổi, còn trở lại gây phiền nhiễu.’ Suy nghĩ như thế rồi, Ngài im lặng không muốn thuyết pháp.
“Lúc ấy vị Vua trời Phạm Thiên biết đức Tì-bà-thi đã nghĩ gì, liền tự nhủ: ‘Thương thay, thế gian này đang bị sụp đổ! Đức Phật Tì-bà-thi vừa chứng được pháp thâm diệu như thế mà không muốn nói ra.’ Tức thì, trong khoảnh khắc, như lực sĩ co duỗi tay, ông từ cung Phạm Thiên bỗng nhiên hiện xuống, đến trước mặt Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui một bên, đầu gối phải quỳ sát đất, chấp tay bạch rằng: ‘Ngưỡng mong đức Thế Tôn kịp thời thuyết pháp. Nay bụi bặm nơi các chúng sinh này mỏng nhẹ; chúng có các căn bén nhạy, có lòng cung kính, dễ bề khai hóa. Chúng đã biết sợ những tội lỗi không thể cứu chữa
_________________________
113 Hán: tức diệt thanh tịnh 滅清淨(TNM: tĩnh huyên 靜喧). Cf. D.i.i 36: adhigato kho myāyaṃ dhammo gambhīro duddaso duranubodhosanto paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. “Pháp mà Ta đã chứng đắc này thật là sâu xa, khó thấy, khó giác ngộ, tịch tĩnh, vi diệu, siêu việt tư duy, thâm áo, chỉ có thể biết được bởi kẻ trí.”
114 Hán: dị kiến, dị nhẫn, dị thọ, dị học. Y bĩ sở kiến, các lạc sở cầu, các vụ sở tập (…) 異見異忍異受異學依彼所見各樂所求各務所習 (…). Đoạn kinh Pāli tương đương không đồng nhất với bản Hán, mà Vô Trước và Thế Thân dẫn để chứng minh sự tồn tại của thức A-lại-da: ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā ālayasammuditāālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāyaduddasaṃ idaṃ ṭhānaṃ yadidaṃ idappaccayatā paṭiccasamuppādo.“Chúng sinh này do ham muốn ái dục (= a-lại-da), tham đắm ái dục, vui thích ái dục… do đó, khó thấy pháp này, đó là y duyên tánh và duyên khởi pháp.”
115 Pl., sđd.: idappaccayatapaṭiccasamuppāda, y tánh duyên khởi (cái này có do cái kia có, …)

* Trang 48 *
device

trong đời sau, biết dứt trừ pháp ác, [8c] làm phát sinh con đường thiện”
“Phật bảo Phạm Vương: ‘Thật vậy, thật vậy, đúng nhưlời Ông nói! Nhưng Ta ở chỗ nhàn tịnh, thầm lặng suy nghĩ: ‘Nếu Ta nói pháp thâm thâm vi diệu mà Ta chứng đắc cho chúng, tất nhiên chúng không thể hiểu, lại gây thêm điều xúc phạm. Vì vậy, Ta im lặng không muốn thuyết pháp. Ta trải qua vô số a-tăng-kì kiếp cần khổ không biếng nhác tu tập những công hạnh vôthượng, nay mới chứng đắc pháp khó chứng đắc này,nếu nói cho hạng chúng sinh còn tham dục, sân hận, ngu si,116 tất chúng không làm theo, chỉ thêm luống uổng. Pháp vi diệu này trái nghịch với đời. Chúng sinh bị nhiễm bởi dục, bị bao trùm bởi ngu si, không thể tin hiểu nổi. Này Phạm Vương, Ta thấy rõ như thế, nên im lặng không muốn thuyết pháp.’
“Khi ấy, Phạm Vương lại ân cần khẩn thiết thưa thỉnh một lần nữa, rồi một lần nữa, ân cần khẩn thiết thỉnh cầu đến ba lần rằng: ‘Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không thuyết pháp, thì nay thế gian này phải bị sụp đổ, rất đáng thương xót. Ngưỡng mong Thế Tôn kịp thời giảng dạy, chớ để chúng sinh sa đọa nẻo dữ.’
“Đức Thế Tôn nghe Phạm Vương ba lần ân cần thưa thỉnh, liền dùng Phật nhãn soi khắp thế giới, thấy sựcáu bẩn của chúng sinh có dày có mỏng, căn tính cólanh lợi, có chậm lụt; có kẻ dễ khai hóa, có kẻ khókhai hóa. Hạng dễ khai hóa biết sợ tội lỗi đời sau, nên gắng lo dứt trừ pháp ác, làm phát sinh đường lành. Chúng như hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câuvật-đầu, hoa phân-đà-lị, có cái vừa ra khỏi bùn nhưng chưa tới mặt nước; có cái đã ra khỏi bùn lại lên ngang mặt nước, có cái tuy lên khỏi mặt nước mà chưa nở; nhưng cái nào cũng không bị dính bẩn, mà dễ dàng nởra. Chúng sinh trong thế gian này cũng như thế.
“Đức Thế Tôn bảo Phạm Vương: ‘Ta vì thương tưởng các ông nay sẽ mở rộng cửa pháp cam lồ.117 Pháp ấy thâm diệu khó hiểu, khó biết, nay Ta sẽ nói cho những người tín thọ, muốn nghe, chứ không phải vì hạng người quấy nhiễu, vô ích.’
“Phạm Vương biết Phật đã nhận lời thỉnh cầu, nên vui mừng hớn hở, đi
________________________________
116 Nguyên Hán: dâm nộ si 婬怒癡.
117 Hán: cam lộ pháp môn 甘露法門; Pl.: amatassa dvāra, cánh cửa dẫn vào bất tử.

* Trang 49 *
device

quanh Phật ba vòng, cúi đầu đảnh lễ rồi biến mất.
“Phạm Vương đi chưa bao lâu, đức Như Lai lại tĩnh mặc suy nghĩ: ‘Nay Ta nên nói pháp cho ai trước hết?’ Rồi Ngài lại suy nghĩ: ‘Ta hãy đi vào thành Bàn đầu, trước hết mở cánh cửa cam lộ cho Vương tử Đề-xá và con Đại thần là Khiên-đồ.’ Rồi thì, liền trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi tay, Thế Tôn bỗng biến mất khỏi cây đại thọ. Ngài đi đến thành Bàn-đầu, vào vườn Lộc dã của vua Bàn-đầu, trải chỗ ngồi rồingồi lên.”
Bấy giờ, Phật nói bài tụng:
Như sư tử trong rừng,
Mặc tình mà đi dạo.
[9a] Phật kia cũng như vậy,
Du hành không trở ngại.
“Phật Tì-bà-thi bảo người giữ vườn: ‘Ngươi hãy vào thành nói với Vương tử Đề-xá và Khiên-đồ con Đại thần rằng: Các ngài có biết không, đức Phật Tì-bà-thi hiện ở trong vườn Lộc dã, muốn gặp các ngài? Các ngài nên biết bây giờ là phải thời.’ Người giữ vườn vâng mệnh tìm đến chỗ hai người trình đủ những điều Phật dạy. Hai người nghe xong, liền đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ, rồi đứng lại một bên. Phật lần lượt thuyết pháp cho họ nghe, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích, khiến hoan hỷ.118 Ngài giảng về bố thí, trì giới, sinh thiên; dục là xấu ác, bất tịnh, là hữu lậu, là nguy hiểm; tán dương sự xuất ly là pháp rất vi diệu tối thượng, thanh tịnh bậc nhất.119 Khi Phật thấy tâm ý của hai người đã nhu thuận, hoan hỷ, tin vui, đủ sức lãnh thọ Chính pháp, Ngài bèn nói cho họ về Khổ thánh đế; phân tích, giảng giải, mở bày rành rẽ; về Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Vương tử Đề-xá và con trai Đại thần là Khiên-đồ ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, được sự thanh tịnh của con mắt pháp, như tấm vải trắng dễ nhuộm sắc màu.
“Lúc ấy, Địa thần bèn xướng lên rằng: ‘Đức Tì-bàthiNhư Lai ở vườn
_______________________
118 Thị giáo lợi hỷ 示教利喜, tuần tự thuyết pháp của Phật: khai thị, giáo huấn, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Pāli, định cú: dhammiyākathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṃsesi.
119 Dục ác bất tịnh thượng lậu vi hoạn 欲惡不淨上漏為患. So sánh Pl.,D. ii 44: kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ nekkhammeānisaṃsaṃ pakāsesi, “Ngài soi sáng sự nguy hiểm, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục, chỉ rõ ích lợi của sự xuất ly.”

* Trang 50 *
device

Lộc dã, thành Bàn-đầu, chuyển Pháp luân vô thượng mà các Sa-môn, Bà-la-môn, Chư Thiên, Ma Phạm và các người khác trong thế gian không thể chuyển được.’ Tiếng nói ấy lần lượt vang đến cõi Tứ Thiên Vương, cho đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại, rồi trong khoảnh khắc vang đến cõi Phạm Thiên.”
Phật liền dạy bài kệ:
Tâm vui mừng hớn hở,
Xưng tán đức Như Lai.
Tì-bà-thi thành Phật,
Chuyển Pháp luân vô thượng.
Bắt đầu từ Đạo thọ,
Đi đến thành Bàn-đầu.
Vì Đề-Xá, Khiên-đồ
Chuyển Pháp luân Tứ đế.
Đề-xá và Khiên-đồ
Nghe xong lời Phật dạy,
Ở trong pháp thanh tịnh
Được phạm hạnh tối cao.
Thiên chúng trời Đao-lị
Cho đến Thiên đế Thích,
Vui mừng bảo lẫn nhau,
Nghe khắp cả Chư Thiên:
Phật xuất hiện thế gian,
Chuyển Pháp luân vô thượng;
Tăng thêm hàng chư Thiên,
Giảm bớt A-tu-la.120
Đấng Thế Tôn danh vang
Thiện trí121 lìa thế biên.122
[9b] Tự tại trong các pháp,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Quán sát pháp bình đẳng,
Tâm dứt sạch cáu bẩn,
Để lìa ách sinh tử,
_________________________
120 Nguyên Hán: A-tu-luân 阿須倫.
121 Thiện trí 善智, TNM: khổ trí 苦智.
122 Hán: thế biên; có lẽ là khổ biên: biên tế khổ, tức sự chấm dứt hêt khổ 世邊.

* Trang 51 *
device

Đại trí chuyển Pháp luân.
Đạo Sư khéo giáo hóa,
Chiến thắng oán địch ma,
Xa lìa mọi điều ác,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Sức vô lậu hàng ma,
Các căn định, không lười,
Lậu tận, lìa ma trói,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Nếu học pháp quyết định,
Biết các pháp vô ngã,
Đó là pháp cao tột,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Không vì cầu lợi dưỡng
Cũng chẳng vì danh dự,
Chỉ vì thương chúng sinh,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Thấy chúng sinh khổ ách,
Già, bệnh, chết bức bách,
Vì ba đường dữ kia,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Đoạn tham, sân nhuế, si;
Nhổ sạch gốc tham ái,
Được giải thoát bất động,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Ta thắng việc khó thắng
Thắng để tự hàng phục,
Đã thắng ma khó thắng,
Đại trí chuyển Pháp luân.
Pháp luân vô thượng đó,
Duy Phật mới chuyển nổi.

* Trang 52 *
device

Hàng Thiên, Ma, Thích, Phạm,
Không ai vận chuyển được.
Thân cận chuyển Pháp luân,
Làm ích lợi thiên nhân;
Bậc Thiên Nhân Sư đó,
Đã vượt đến bờ kia.
“Lúc ấy Vương tử Đề-xá và Công tử Khiên-đồ đã thấy pháp, đắc quả, chân thật không dối, thành tựu vô úy,liền bạch Phật rằng: ‘Chúng con muốn tịnh tu phạmhạnh trong giáo pháp của Như Lai.’ Phật nói: ‘Hãy đến đây, Tỳ kheo. Pháp Ta thanh tịnh, tự tại; hãy tự mình tu hành để dứt trừ hết thống khổ.’ Ngay lúc ấy hai người liền [9c] đắc cụ túc giới. Họ đắc giới chưa bao lâu, Như Lai lại thị hiện bằng ba sự kiện: một là thần túc, hai là quán tha tâm, ba là giáo giới, 123 tức thì chứng đắc tâm giải thoát vô lậu, 124 phát sinh vô nghi trí.125
“Bấy giờ số đông nhân dân ở thành Bàn-đầu nghe hai người xuất gia học đạo, bận pháp y, cầm bát, tịnh tu phạm hạnh, họ nói nhau rằng: ‘Đạo ấy chắc là đạo chân thật, mới khiến các người kia bỏ vinh vị ở đời, bỏ các thứ quý trọng để tu theo.’ Rồi thì, trong thành có tám vạn bốn ngàn người đi đến vườn Lộc dã, chỗ Phật Tì-bà-thi, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi sang một bên. Phật lần lượt thuyết pháp, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích, khiến hoan hỷ; nói về bố thí, về trì giới, về sinh thiên; chỉ rõ dục là xấu ác, bất tịnh, là hữu lậu, nguy hiểm; tán thán sự xuất ly là vi diệu tối thượng, thanh tịnh bậc nhất. Khi Đức Thế Tôn thấy tâm ý của đại chúng đã nhu thuận, hoan hỷ tín thọ, đủ sức lãnh thọ Chính pháp, Ngài liền nói về Khổ thánh đế; phân tích, giảng giải, công bố; về Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế. Ngay tại chỗ, cả bốn vạn tám ngàn người đều xa lìa trần cấu, được sự thanh tịnh của con mắt pháp, như tấm vải trắng dễ nhuộm sắc màu; họ được thấy pháp,
_________________________
123 Ba sự thị hiện 三事示現; xem T 1 (tr. 50b04), ba biến hóa 三變; (tr.101c08), ba thần túc 三神足; T 99 (tr. 50b16), ba thị hiện giáo hóa 三種示現教化; T 125 (tr. 622b10), ba sự giáo hóa 三事教化; ĐạiBát nhã 469 (tr. 372c23), ba thị đạo 三種示導; Tập dị 6 (tr. 389b17), ba thị đạo 三示導.
124 Vô lậu tâm giải thoát 無漏心解脫; Pl. định cú: anupādāya āsavehicittāni vimucciṃsu, do không còn chấp thủ mà tâm giải thoát khỏicác lậu.
125 Để bản: sinh tử vô nghi trí 生死無疑智; TNM: sinh vô nghi trí生無疑智, không còn nghi ngờ về bốn Thánh đế.

* Trang 53 *
device

chứng quả, chân thật không dối, thành tựu vô úy, liền bạch Phật rằng:
‘Chúng con muốn ở trong giáo pháp Như Lai mà tịnh tu phạm hạnh.’ Phật dạy: ‘Hãy đến đây, Tỳ-kheo! Pháp Ta thanh tịnh, tự tại; hãy theo đó tu hành để dứt trừ thống khổ.’ Khi đó tám vạn bốn ngàn người đều đắc cụ túc giới. Họ đắc giới chưa bao lâu, Như Lai lại thị hiện bằng ba việc để giáo hóa: một là thần túc, hai là quán tha tâm, ba là giáo giới. Họ tức thì chứng đắc tâm giải thoát vô lậu, phát sinh trí vô nghi. “Hiện tiền có tám vạn bốn ngàn người khác, nghe Phật ở trong vườn Lộc dã chuyển Pháp luân vô thượng mà hàng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma Phạm và các người khác trong thế gian không thể chuyển được, liền đến thành Bàn-đầu chỗ Phật Tì-bà-thi, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi sang một bên.”
Phật lại nói bài tụng:
Như chửa đầu tóc cháy,
Nhanh chóng tìm chỗ dập;
Người kia cũng như vậy,
Vội đến trước Như Lai.
“Phật cũng nói pháp cho họ nghe, như trước.“Đến lúc này tại thành Bàn-đầu đã có đại chúng tỳ kheo gồm mười sáu vạn tám ngàn126 vị đại Tỳ- kheo. Tỳ-kheo Đề-xá và Tỳ-kheo Khiên-đồ, ở giữa đại chúng, bay lên không trung, thân tuôn ra nước lửa, hiện các thần thông biến hóa, nói pháp vi diệu cho đạichúng nghe.
“Bấy giờ đức Như Lai thầm nghĩ: ‘Nay [10a] tạitrong thành này đã có mười sáu vạn tám ngàn đại Tỳ-kheo, Ta nên sai đi du hóa; chớ đi hai người một
nhóm,127 đến khắp các nơi, đúng sáu năm lại trở về thành này để thuyết cụ túc giới’128
_______________________
126 TNM: 34 vạn 8 nghìn. D14: aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṃ, sáu trăm tám mươi vạn (6.800.000) tỳ kheo.
127 Nguyên trong bản: các nhị nhơn câu 各二人俱. Nên đọc là vật 勿: chớ có, thay vì các 各. Tham chiếu Pl. D. ii. 45: mā ekena dveagamittha, chớ đi hai người thành một nhóm.
128 D14 (ii 45): pāṭimokkhuddesāyā, để tụng đọc Ba-la-đề-mộc-xoa (Giới bản của Tỳ kheo)

* Trang 54 *
device

“Bấy giờ, có vị trời Tịnh cư 129 biết được tâm tư của Như Lai, trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất khỏi cõi trời kia mà hiện đến nơi này. Đến trước đức Thế Tôn, ông cúi đầu đảnh lễ, rồi đứng sang một bên; giây lát, bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn, thật như vậy, trong thành Bàn-đầu này có nhiều Tỳ-kheo, Ngài nên phân bố đi khắp mọi nơi, đúng sáu
năm sẽ trở lại thành này để thuyết giới, con sẽ ủng hộ, khiến không ai tìm cơ hội quấy phá được.’ Như Lai sau khi nghe lời ấy, im lặng nhận lời. Vị trời Tịnh cư thấy Phật im lặng nhận lời, bèn đảnh lễ Phật xong, hốt nhiên biến mất, trở lại cõi trời.
“Không bao lâu sau, Phật bảo các Tỳ-kheo: ‘Nay trong thành này Tỳ-kheo đã đông, nên mỗi người phân bố đi mỗi hướng du hành giáo hóa. Sau sáu năm hãy trở về, tập họp thuyết giới.’ Các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, khoác y, cầm bát, đảnh lễ Phật rồi đi.”
Phật bèn nói bài tụng:
Phật sai 130 chúng không loạn,
Ly dục, không luyến ái,
Oai như chim Cánh vàng;131
Như hạc bỏ ao hoang.132
“Sau đó một năm, trời Tịnh cư nhắc lại các Tỳ-kheo: ‘Các ngài đi du hóa đã qua một năm, còn năm năm nữa, các ngài nên nhớ trọn sáu năm rồi hãy nhóm về thành mà thuyết giới.’ Cứ như thế, đến năm thứ sáu, trời lại nhắc rằng: ‘Sáu năm đã mãn, nên trở về thành mà thuyết giới.’ Các Tỳ-kheo nghe lời nhắc xong, thu xếp y bát, trở lại thành Bàn-đầu, đến Lộc dã chỗ Phật Tì-bà-thi, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lui một bên.”
Phật nói bài tụng:
_________________________
129 Nguyên Hán: Thủ-đà-hội 首陀會, phiên âm của Skt. Śuddhāvasa (Pl: Suddhāvasa), dịch là Tịnh cư thiên 淨居天, trú xứ của các Thánh giả Bất hoàn 不還(Anagāmin). D. 14: aññataro mahābrahmā, một
vị Đại Phạm Thiên kia
130 Nguyên Hán: Phật tất vô loạn chúng 佛悉無亂眾; TNM: Phật khiển vô loạn chúng 佛遣無亂眾. T 3: kim khiển Bí-sô chúng, tối thượng Phật thanh văn 今遣苾芻眾最上佛聲聞, “Nay phái khiển chúng Tỳ
kheo, chúng đệ tử tối thượng của Phật.”
131 T 3: như đại long oai thế 如大威勢, uy thế như con rồng lớn.
132 Cf. Dhp. 91: uyyuñjanti satīmato na nikete ramanti, haṃsmāvapallalaṃ hitvā okamokam jahanti, “Khước từ, chánh niệm, họ khôngham thích đời tại gia, như thiên nga rời bỏ ao tù, lang thang khôngcố định.”

* Trang 55 *
device

Như voi khéo huấn luyện,
Tùy ý sai khiến đi;
Đại chúng cũng như vậy,
Vâng lời mà trở về.
“Bấy giờ, ở trước mặt đại chúng, Như Lai bay lên không trung, ngồi kiết già, giảng nói Giới kinh:
Nhẫn nhục là bậc nhất,
Niết-bàn là tối thượng,
Cạo tóc, não hại người,
Không phải là Sa-môn.133
“Trời Tịnh cư lúc ấy ở cách Phật không xa, dùng bài kệ tán Phật rằng:
Như Lai đại trí,
Vi diệu độc tôn,
[10b] Chỉ, quán đầy đủ,
Thành Tối Chính Giác.
Vì thương quần sinh,
Ở đời thành đạo.
Đem bốn chân đế
Dạy hàng Thanh-văn.
Khổ cùng khổ nhân,
Chân lý diệt khổ;
Thánh đạo tám chi
Đưa đến an lạc.
Phật Tì-bà-thi
Xuất hiện thế gian;
Ở giữa đại chúng
Như ánh mặt trời.
“Nói xong bài kệ, vị ấy hốt nhiên biến mất.”
Bấy giờ, Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Ta nhớ lại, thuở xưa, khi ở tại núi Kì-xà-quật, thành La-duyệt, 134
________________________
133 Xem, Luật Tứ phần, giới bản tỳ-kheo. Cf. Dh. 184. khantī paramaṃ tapo titikkhā, nibbānaṃ paramaṃ vadanti buddhā; na hi pabbajito parūpaghātī, na samaṇo hoti paraṃ viheṭhayanto.
134 T 3: Trong hang Thất diệp 七葉巖, tại thành Vương xá. Pl.Sattapaṇṇiguhā, hang Bảy lá, tại Rājagaha, trên triền núi Vebhāra.

* Trang 56 *
device

một lần sinh tâm nghĩ rằng: ‘Chỗ Ta tái sinh vào là khắp mọi nơi, duy trừ cõi trời Tịnh cư. Giả sử Ta sinh cõi trời kia, thời đã không trở lại đây. Này các Tỳ-kheo, khi ấy Ta lại nghĩ rằng: khi Ta muốn đến cõi trời Vô phiền,135 tức thì trong khoảnh khắc như tráng sĩ co duỗi cánh tay, Ta biến mất ở đây mà hiện ở kia. Chư Thiên lúc đó thấy Ta đến, liền đảnh lễ, rồi đứng sang một bên, bạch với Ta rằng: ‘Chúng con đều là đệ tử đức Phật Tì-bà-thi, được Ngài giáo hóa nên sinh đến cõi này.’ Rồi họ kể lại nhân duyên sự tích của đức Phật Tì-bà-thi. Họ lại nói: ‘Các đức Phật Thi-khí, Tì-xá-bà, Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp, Thíchca Mâu-ni, thảy đều là Thầy của con. Con được các Ngài giáo hóa mà sinh lên đây.’ Họ cũng nói nhân duyên sự tích chư Phật. Cho đến Chư Thiên ở cõi trời Sắc cứu cánh,136 cũng kể với ta như thế.”
Bấy giờ Phật nói bài tụng:
Ví như lực sĩ,
Co duỗi cánh tay
Ta, bằng thần thông,
Đến trời Vô phiền. 137
Đại Tiên thứ bảy,138
Hàng phục hai ma,
Vô nhiệt139 vô kiến
Chắp tay kính lễ.
Như cây trú độ,140
Tiếng đồn Thích Sư,
Tướng tốt đầy đủ,
Đến trời Thiện kiến.141
________________________
135 Nguyên Hán: Vô tạo 無造. thường gọi là Vô phiền 無煩. Pl.:Avīha, Skt. Avriha: 1 trong 5 Tịnh cư thiên.
136 Nguyên bản: A-ca-nị-trá 阿迦膩咋, dịch là Sắc cứu cánh 色究竟,tầng chót trong 5 Tịnh cư thiên. Pàli: akaniṭṭha, Skt. Akaniṣṭha.
137 Nguyên Hán: Vô tạo (=tháo) thiên 無造天.
138 Đệ thất Đại tiên 第七大仙, chỉ đức Thích tôn; Skt. Saptamarsi, Pl:Isisattama.
139 Vô nhiệt 無熱, Pl.; Atappa, phía trên Vô phiền thiên (Pl.. Avīha); 1trong 5 Tịnh cư thiên.
140 Trú đạc (độ) 晝度cây thần thoại, tín hiệu cho ban ngày trên trời Đao-lị. Pl: Pāricchattaka.
141 Thiện kiến thiên 善見天, Pl.: Sudassa (Skt. Sudṛśa), 1 trong 5 cõi Tịnh cư của Thánh giả A-na-hàm.

* Trang 57 *
device

Ví như hoa sen,
Không bị dính nước.
Thế Tôn vô nhiễm,
Đến Đại thiện kiến.142
Mặt trời mới mọc,
Không chút bụi che;
[10c]Sáng như trăng thu,
Đến Nhất cứu cánh.143
Năm Tịnh cư này,
Chúng sinh hành tịnh,
Tâm tịnh nên đến
Trời không phiền não.
Tịnh tâm mà đến,
Xả ly nhiễm thủ,
Vui nơi vô thủ.
Thấy pháp quyết định,
Con Tì-bà-thi.
Tịnh tâm mà đến
Với Đại Tiên Nhân.
Đệ tử Thi-khí
Vô cấu, vô vi,
Tịnh tâm mà đến
Với đấng Ly Hữu.
Đệ tử Tỳ-xá,
Các căn đầy đủ.
Tịnh tâm đến Ta,
Như mặt trời chiếu.
Con Câu-lưu-tôn,
Xả ly các dục.
Tịnh tâm đến Ta,
Sáng mầu rực ánh.
Đệ tử Câu-na-hàm,
Vô cấu vô vi
 ________________________
142 Đại Thiện kiến 大善見, Pl.: Sudassī (Skt. Sudarśana) tức chỗ khác gọi Thiện hiện, 1 trong 5 cõi Tịnh cư của Thánh giả A-na-hàm.
143 Nhất cứu cánh 一究竟, tức Sắc cứu cánh, xem cht. 133.

* Trang 58 *
device

Tịnh tâm đến Ta,
Sáng như trăng đầy.
Đệ tử Ca-diếp,
Các căn đầy đủ,
Tịnh tâm đến Ta,
Như bắc thiên niệm.144
Đại tiên Bất loạn,145
Thần túc bậc nhất,
Bằng tâm kiên cố,
Làm đệ tử Phật.
Tịnh tâm mà đến,
Làm đệ tử Phật.
Kính lễ Như Lai,
Kể rõ Chí Tôn,
Chỗ sinh, thành Đạo,
Danh tính, chủng tộc,
Tri kiến thâm pháp,
Thành Đạo vô thượng.
Tỳ-kheo ẩn cư,
Xa lìa bụi dơ,
Siêng năng không lười.
Ðoạn trừ hữu kết.
Ấy là nhân duyên,
Sự tích chư Phật,
Mà được diễn giải,
Bởi đứcThích-ca.
_________________________
144 Như bắc thiên niệm 如北天念, không rõ nghĩa. Có lẽ chỉ tâm tư của chúng sinh ở Bắc Câu-lô châu, nơi mà loài người chưa phát sinh ác niệm. Để bản sót; chép theo TNM.
145 Bất loạn 不亂; TNM: bất năng 不能, đều không rõ nghĩa.

* Trang 59 *
device

Phật nói kinh “Đại nhân duyên” xong, các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.146
 ________________________
146 Bản Hán, hết quyển 1.

* Trang 60 *
device

 
Kinh Trường A - Hàm Tập 1