LOGO VNBET
PHẦN DỊCH NGHĨA
KINH
BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG

(Đời Hậu Hán, các vị Ca-diếp Ma-đằng và Pháp Lan cùng dịch)
BÀI TỰA KINH
Đức Thê Tôn khi thành đạo rồi, tự nghĩ rằng: “Lìa bỏ ái dục, được lẽ tịch tĩnh, ấy là hay hơn hết.” Ngài trụ nơi đại thiền định, hàng phục các ma chướng.
Ngài ở nơi vườn Lộc gần thành Ba-la- nại mà chuyên bánh xe Pháp, thuyết Tứ diệu đê, độ cho nhóm ông Kiều-trần-như nắm người đều đắc đạo.
Có những tỳ-kheo thưa hỏi chỗ nghi của mình, Phật nhân đó chỉ dạy làm cho mọi người đều được khai ngộ. Thảy đều chấp tay cung kính, vâng thuận theo lời dạy của Phật.[1]



[1] Bài tựa kinh có lẽ do những người soạn kinh đưa vào, cho thấy kinh này được biên soạn từ những lời chỉ dạy của Phật, ghi lại những chỗ cốt yếu làm kim chỉ nam

* Trang 33 *
device

CHƯƠNG THỨ NHẤT
XUẤT GIA CHỨNG QUẢ
Phật dạy: “Từ giã người thân, lìa bỏ gia đình, thấu biết lẽ tâm,[1] đạt tới nguồn cội[2] hiểu pháp vô vi,[3] đó gọi là sa-môn.[4] Vị sa- môn thường giữ trọn hai trăm năm mươi giới,[5] mọi hành vi[6] thảy đều thanh


[1]Thấu biết lẽ tâm: Hiể’u biết rằng tâm nầy vốn thanh tịnh, chân thật. Kinh Bát-nhã nói: "Đối với tất cả các pháp, tâm là thiện đạo." (bậc dẫn dắt giỏi). Nếu biết được tâm, thì biết rõ các pháp. Tất cả thế" pháp đều do tâm sanh.
[2]Đạt tới nguồn cội: Thông đạt tới chỗ nguồn cội là Thật tướng, Pháp thân, Chân như, vì đó là cái gốc hóa ra muôn hình vạn trạng.
[3]Pháp vô vi: Đối với pháp hữu vi. Vô vi là pháp không tạo tác, không có bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt.
[4]Sa-môn: Viết trọn là sa-môn-na, do tiếng Phạn là Sramana, nghĩa là vị tu sĩ xuất gia giữ tịnh hạnh. Có các nghĩa là: cần giả (Người siêng năng làm các điều thiện), tức giả (người dứt bỏ các nghiệp ác), bần giả (người chịu sống cảnh thiếu thốn, nghèo túng về vật chất).
[5]Hai trăm năm mươi giới: Cũng gọi là Cụ túc giới, là giới hạnh đầy đủ của một vị tỳ-kheo.
[6]Kinh văn là "tấn chỉ", nghĩa là "tới lui", ở đây hàm ý chỉ hết thảy mọi hành động. Bản khác là "tấn chí thanh tịnh", nghĩa là "tiến tới chỗ thanh tịnh", thấy không hợp với chỗ đang nói về 250 giới. Theo như nghĩa "tấn chỉ" thì hợp lý hơn, vì nói rộng thêm về oai nghi của vị sa-môn.

* Trang 34 *
device

tịnh, làm theo Bốn chân lý,[1] thành A-la-hán.[2] Vị A-la-hán có thể bay trên không trung, hiện hóa các phép thần thông, đời sống dài trọn kiếp. Vị ấy ở đâu thì cảm động cả đất trời.
Quả vị thấp hơn là A-na-hàm.[3] Vị A-na-hàm, khi mạng chung sanh lên từng trời thứ mười chín[4] rồi chứng quả A-la-hán.

Quả vị thấp hơn là Tư-đà-hàm.[5] Vị


[1]Bốn chân lý: Tức là Tứ chân đế, cũng gọi là Tứ thánh đế, Tứ diệu đế, hay Tứ đế. Tiếng Phạn là Catvariaryasatyanu. Bốn chân lý do Phật thuyết dạy là: Khổ, Tập,Diệt, Đạo. Ý nghĩa như sau:
Khổ: Các chúng sanh trong sáu nẻo đều không ai thoát khỏi những sự khổ não, như sanh, già, bệnh, chết, mong cầu không được, thương yêu phải xa lìa... Tập: Nguyên nhân các sự khổ là lòng ham muốn.
Diệt: Muốn dứt khổ, trước phải dứt lòng ham muốn.
Đạo: Phương pháp, con đường để diệt khổ, đó là thực hành đạo Bát chánh đạo, gồm có: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
[2]A-la-hán: Tiếng Phạn là Arahat, quả thánh cao nhất trong bốn quả thánh của Tiểu thừa. Người đắc quả thánh này gọi là A-la-hán, có ba nghĩa:
Sát tặc: giết giặc nghịch, ở đây là chỉ giặc phiền não.
Ứng cúng: Xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của chư thiên, nhân loại, nghĩa là có đầy đủ oai nghi, phước đức.
Bất sanh: Nghiệp lực đã dứt-, chẳng còn phải sanh trở lại chốn thế" gian.
[3]A-na-hàm: Quả thánh thứ ba, tiếng Phạn là Anãgãmin, chỉ thấp hơn quả A-la-hán. Hán dịch là Bất lai hoặc Bất hoàn, nghĩa là không còn phải tái sanh trở lại nhân gian.
[4]Từng trời thứ mười chín: Thập cửu thiên. Các cảnh trời trong Tam giới phân ra làm ba mươi từng. Từ dưới kể’ lên có 6 từng thuộc Dục giới, 20 từng thuộc Sắc giới, và 4 từng thuộc Vô sắc giới. Từng trời thứ 19 tức là Quảng quả Thiên (Brhatphala) ở Sắc giới, là cảnh cao nhất trong ba cảnh của Tứ thiền thiên.
[5]Tư-đà-hàm: Quả thánh thứ hai, thấp hơn quả A-na-hàm và A-la-hán, tiếng Phạn là Sakrdãgãmin. Hán dịch là Nhất lai, nghĩa là còn một lần sanh trở lại nhân gian trước khi chứng quả A-la-hán.

* Trang 35 *
device

Tư-đà-hàm còn một lần sanh lên cõi trời và một lần trở lại cõi người, rồi chứng quả A-la-hán.
Quả vị thấp hơn nữa là Tu-đà- hoàn.[1] Vị Tu-đà-hoàn còn bảy lần chết, bảy lần sanh mới chứng quả A-la-hán.
“Khi người ta đoạn tuyệt ái dục[2] rồi [thì ái dục đó] ví như tay chân bị chặt đứt, chẳng còn dùng được nữa.”[3]
CHƯƠNG THỨ HAI
TRỪ DỤC DỨT TÌNH
Phật dạy: “Vị sa-môn xuất gia cắt đứt tình dục, lìa bỏ luyến ái, thấu hiểu tận nguồn tâm,[4] đạt lý thâm diệu của Phật,
 

[1]Tu-đà-hoàn: Quả thánh đầu tiên, hay Sơ quả, thấp nhất trong bốn quả thánh của Tiểu thừa, tiếng Phạn là Srotãpanna. Hán dịch là Nhập lưu hay Dự lưu, nghĩa là người mới nhập vào dòng. ớ đây có nghĩa là dòng thánh.
[2]Ái dục: Ái là tham ái, dục là tham dục, đôi khi cũng chỉ gọi là ái. Đó là lòng luyến ái ham muốn do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm) đối với sáu trần (hình sắc, âm thanh, hương, vị, cảm xúc, các pháp) mà khởi lên.
[3]Cả bốn thánh quả đều do cắt đứt ái dục mà chứng đắc. Ái dục làm cho con người tạo thành nghiệp quả, do nghiệp quả mà lưu chuyển trong luân hồi. Ái dục bị cắt đứt cũng như tay chân bị cắt đứt, không còn tạo nghiệp nữa.
[4]Nguồn tâm: Bản thể’ của tâm. Luận Bồ-đề tâm nói: "Nếu vọng tâm khởi, thì biết mà chẳng theo. Khi mối vọng ấy bị dẹp đi, thì nguồn tâm trở nên không không tịch tĩnh. Như vậy muôn đức đều đủ, diệu dụng vô cùng.
 

* Trang 36 *
device

rõ pháp vô vi, trong không có chô chứng đắc,[1] ngoài không có chô mong câu,[2] tâm chẳng trói buộc vào đạo, cũng chẳng tạo thêm nghiệp quả, không chô niệm tưởng,[3] không tạo tác,[4] chẳng tu chẳng chứng,[5] chẳng trải qua các quả vị, tự nhiên cao tới tột bực.[6] Đó gọi là đạo.”[7]
 

[1]Không có chỗ chứng đắc: Vô sở đắc, tự thấy mình không có gì gọi là chứng đắc. Kinh Niết-bàn nói: "Không chỗ chứng đắc, đó gọi là Huệ; có chỗ chứng đắc, đó gọi là Vô minh... Có chỗ chứng đắc gọi là vòng sanh tử. Tất cả phàm phu đều luân hồi sanh tử, nên có chỗ chứng đắc. Bồ Tát đoạn dứt sanh tử, cho nên không có chỗ chứng đắc."
[2]Không có chỗ mong cầu: Vô sở cầu, không cần cầu mong gì cả. Nếu cầu mà chẳng được thì sanh khổ. Người không có chỗ mong cầu tức thoát được mối khổ này.
[3]Không chỗ niệm tưởng: Vô niệm, ở đây là vọng niệm, sự tưởng nhớ lăng xăng, chạy theo trần cảnh. Kinh Tam Huệ nói: "Không ý, không niệm, thì muôn sự đều thành. Trong ý có trăm mối niệm, thì muôn sự đều hại."
[4]Không tạo tác: Vô tác, mọi hành vi không còn sự cố ý tạo tác nữa, chỉ tùy theo nhân duyên mà sanh khởi, diệt mất. Kinh Vô lượng thọ nói: "Không tạo tác, không sanh khởi, nhìn thấy các pháp như huyễn hóa."
[5]Chẳng tu chẳng chứng (Phi tu phi chứng): Tự mình vốn có Phật tánh, chẳng do tu tập mà sanh ra. Khởi tâm tu chứng tức là mong cầu được chứng quả, lại cũng rơi vào chỗ mong cầu. Chỉ tự thanh tịnh bản tâm, đạo tự nhiên hiể’n hiện. Đó là chỗ không chứng mà chứng, nên nói là chẳng tu, chẳng chứng.
[6]Chẳng trải qua các quả vị (Bất lịch chư vị): Không chấp lấy các quả vị, đó chỉ là những trình tự chứng đạo tự nhiên đạt đến. Ý này cũng giống như câu phi tu phi chứng ở trên. Lại cũng có thể’ hiểu là sự trực ngộ Phật tánh không phụ thuộc vào các trình tự chứng đắc. Vì vậy nên nói là tự nhiên cao tới tột bậc.
[7]Đối chiếu dị bản không thấy có chương này. Theo ý hướng thì phảng phất nghiêng về giáo lý Đại thừa, không thuần túy nói giáo pháp Tứ đế” như những chương khác, có lẽ do người sau thêm vào.
 

* Trang 37 *
device

CHƯƠNG THỨ BA
DỨT BỎ THAM ÁI
Phật dạy: “Người cạo bỏ râu tóc[1] làm sa-môn, lãnh thọ giáo pháp, lìa bỏ tài sản thế" gian, khất thực vừa đủ ăn. Mỗi ngày chỉ ăn một lần, dưới cội cây chỉ nghỉ một đêm, tránh không lặp lại.[2] Ấy là vì biết rằng lòng luyến ái và ham muốn làm cho người ta ngu tối.”
CHƯƠNG THỨ TƯ
PHÂN RÕ LÀNH DỮ
Phật dạy: “Chúng sanh[3] có mười việc gọi là lành, lại cũng có mười việc gọi là dữ. Những gì là mười? Ba việc do thân tạo


[1]Cạo bỏ râu tóc: Người xuất gia theo Phật cạo bỏ râu tóc để chứng tỏ rằng mình đã dứt bỏ những ham muốn, ràng buộc thế" tục và dẹp trừ lòng kiêu mạn, tự thị.
[2]Vị tỳ-kheo ăn mỗi ngày một lần vào giờ ngọ, quá giờ thì chẳng ăn. Không ngủ dưới một gốc cây trong hai đêm liên tiếp, vì sợ rơi vào chỗ ham thích, tham luyến nơi
gốc cây ấy.
[3]Chúng sanh: Tiếng Phạn là Sattva (Tát-đỏa), Hán dịch là Chúng sanh, hay hữu tình, hữu thức, hàm sanh... Chỉ chung cho các loài trong Ba cõi, Sáu đường. Thọ nghiệp sanh tử liên miên trong vòng luân hồi, nên gọi chung là chúng sanh. Chúng sanh sanh ra bằng bốn cách: Thai sanh (sanh từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh từ chỗ ẩm ướt), hóa sanh (sanh ra do sự biến hóa).

* Trang 38 *
device

ra là: sát sanh,[1] trộm cắp,[2] dâm dục.[3] Bôn việc do miệng tạo ra là: nói hai lưỡi,[4] nói ác,[5] nói dôi,[6] nói thêu dệt.[7] Ba việc do ý tạo ra là: ganh ghét, sân hận, ngu si. Làm mười việc ấy chẳng thuận theo Thánh đạo, nên gọi là dữ. Nếu dừng được mười việc dữ ấy, thì gọi là mười việc lành.”
 

[1]Sát sanh: giết chết, đoạn dứt một hay nhiều sanh mạng với ác ý. Kinh Niết bàn nói: Tội sát có ba bực: Hạ, Trung, Thượng. Hạ là giết hại mạng chúng sanh, cho dù là một con kiến, cho đến bất kỳ loài nào trong các loại súc sanh. Do tội ấy, kẻ phạm tội sẽ đọa vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu khổ bậc dưới, bậc nhẹ. Tại sao vậy? Vì những súc sanh ấy có thiện căn nhỏ, cho nên kẻ giết thọ đủ quả báo theo bậc ấy. Trung là giết từ kẻ phàm phu lần lên cho vị chứng quả A-na-hàm. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở ba nẻo ác, chịu khổ báo bậc trung. Thượng là giết cha, giết mẹ hoặc một vị A-la-hán, hoặc Phật Bích-chi. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở địa ngục Vô gián, chịu khổ báo nặng nề nhất.
[2]Trộm cắp: Nói chung bất cứ vật gì thuộc sở hữu kẻ khác, chẳng đồng ý cho mà mình tìm cách để đoạt lấy, dù công khai hay lén lút, đều là phạm vào tội này.
[3]Dâm dục: tình dục giữa nam nữ với nhau. Người tu Phật xuất gia dứt bỏ hẳn sự dâm dục. Người tại gia thì tránh sự tà dâm, nghĩa là không làm sự dâm dục với người không phải vợ hoặc chồng mình.
[4]Hai lưỡi: Tức là nói lời không chân thật, trước sau chẳng như nhau, thường là nhằm để ly gián người khác, hoặc làm cho người nầy và người kia ghét nhau, oán nghịch nhau.
[5]Nói ác: Nói chung là những lời độc ác, như mắng, chửi, phỉ báng, nguyền rủa người khác.
[6]Nói dối: Nói chung là những lời không đúng sự thật, chuyện không nói có, chuyện có nói không...
[7]Nói thêu dệt: Lời nói ra với dụng ý, do đó mà uốn nắn, thêu dệt, cố tình dùng văn chương hoa mỹ mà làm cho người nghe hiểu sai sự thật hoặc phải theo ý mình.
 

* Trang 39 *
device

CHƯƠNG THỨ NĂM
CHUYỂN NẶNG THÀNH NHẸ
Phật dạy: “Người ta có những sự lầm lỗi mà chẳng biết tự hôi, dứt bỏ ngay đi, thì tội lỗi tích tụ nơi thân mình, như nước đổ về biển, mỗi ngày lại càng thêm sâu rộng. Nếu người có lỗi mà tự biết sai lầm, bỏ dữ làm lành, thì tội tự tiêu diệt; như bệnh toát ra mồ hôi, dần dần được thuyên giảm.”
CHƯƠNG THỨ SÁU
NHỊN KẺ ÁC KHÔNG GIẬN
Phật dạy: “Kẻ ác nghe việc lành cho nên đến quấy rối. Chư tỳ-kheo, hãy lặng yên nhịn chịu đừng giận trách chi. Kẻ ấy làm điều dữ là tự chuốc lấy sự dữ cho mình.”
CHƯƠNG THỨ BẢY
LÀM ÁC GẶP ÁC
Phật dạy: “Có người nghe Phật giữ đạo, hết sức nhân từ, vì thế" mà đến mắng chửi. Phật lặng thinh chẳng đáp. Chờ khi người ấy mắng xong, Phật hỏi rằng: Ông

* Trang 40 *
device

mang lễ vật tặng người, nếu người chang nhận thì lễ vật ấy có trở về với ông chăng?
“Đáp rằng: Có.
“Phật nói: Nay ông đến mắng ta, ta chẳng nhận, tức là tự ông mang lấy họa về cho chính mình. Cũng như tiếng dội ứng với âm thanh, bóng theo với hình, chẳng hề lìa nhau. Phải thận trọng chớ nên làm điều hung dữ.”
CHƯƠNG THỨ TÁM
TỰ LÀM XẤU MÌNH
Phật dạy: “Kẻ hung dữ hại người hiền, cũng như ngửa mặt lên trời mà phun nước miếng. Nước miếng ấy chẳng lên đến trời, lại rơi xuông mình. Lại như kẻ ngược chiều gió mà tung bụi. Bụi ấy chẳng đến người khác, lại bám lấy mình. Nên chẳng thể làm hại người hiền lành được, mà tai họa sẽ trở lại cho kẻ hung ác.”

* Trang 41 *
device

CHƯƠNG THỨ CHÍN
VỀ NGUỒN HIỂU ĐẠO
Phật dạy: “Lấy sự nghe biết nhiều, luyến mến nơi đạo, ắt khó mà hiểu đạo. Bền chí phụng sự theo đạo thì mới hiểu thấu đạo rất sâu rộng.”
CHƯƠNG THƯ MƯỜI
TÁN TRỢ ĐƯỢC PHƯỚC
Phật dạy: “Thấy hạnh bô’ thí[1] của người khác, đem lòng hoan hỷ mà tán trợ thì được phước rất lớn.”
Một vị sa-môn thưa hỏi Phật rằng: “Phước ấy có hết chăng?”
Phật dạy: “Tỷ như lửa từ một cây đuôc, hàng trăm ngàn người đều đến mồi ra để nấu ăn hay soi sáng, cây đuôc kia vẫn còn như cũ. Phước đức ấy cũng như vậy đó.”



[1]Bố thí: Có ba cách thí: l.Tư sanh thí hay Tài thí: thí của cải cho người khác; 2.Pháp thí: đem đạo lý mà giảng giải, truyền bá; 3. Vô úy thí: đem sự yên ổn, không lo sợ đến cho người khác, nhất là trong những khi họ gặp nguy nan, hoạn nạn.

* Trang 42 *
device

CHƯƠNG THỨ MƯỜI
MỘT ĐÃI CƠM KHÁC BIỆT
Phật dạy: “Bô’ thí cơm ăn cho trăm kẻ ác, chẳng bằng bô’ thí cơm ăn cho một người thiện.
“Thí cho ngàn người thiện, chẳng bằng thí cho một người giữ năm giới cấm.[1]
“Thí cho vạn người giữ năm giới cấm, chẳng bằng cúng dường một vị Tu-đà-hoàn.
“Cúng dường trăm vạn vị Tu-đà-hoàn, chẳng bằng cúng dường một vị Tư-đà-hàm.
“Cúng dường ngàn vạn vị Tư-đà-hàm, chẳng bằng cúng dường một vị A-na-hàm.
“Cúng dường một ức vị A-na-hàm, chẳng bằng cúng dường một vị A-la-hán.
“Cúng dường mười ức vị A-la-hán, chẳng bằng cúng dường một vị Phật Bích- chi.[2]



[1]Năm giới cấm là: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4.
Không nói dối, 5. Không uống rượu. Năm giới này áp dụng cho hàng cư sĩ tại gia.
[2]Phật Bích-chi, nói đủ là Bích-chi-ca Phật-đà, do tiếng Phạn là Prateyka-Bouddha. Hán dịch là Độc giác hay Duyên giác. Vị Phật Bích-chi sanh ra vào lúc không Phật Như-lai ra đời, tự mình tu học mà giác ngộ, nhập Niết-bàn, nên gọi là Độc giác. Vị Phật Bích-chi nhờ quán xét Thập nhị nhân duyên mà giác ngộ, nên gọi là Duyên-giác.

* Trang 43 *
device

“Cúng dường trăm ức vị Phật Bích-chi, chẳng bằng cúng dường một vị Phật ba đời.[1]
Cúng dường ngàn ức vị Phật ba đời, chẳng bằng cúng dường một người Vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng.[2]
CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI
KHÓ NHỌC NÊN GANG tu[3]
Phật dạy: “Người ta có hai mươi sự khó làm, khó được:[4]
  1. Nghèo khổ mà làm được việc bố’ thí là khó.[5]
 

[1] Phật ba đời: Vị Phật của cả ba đời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Phật, nghĩa là vị đã chứng nhập Niết-bàn hoàn toàn, không còn bị chi phối bởi không gian và thời gian.
[2]Người Vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng: Người dứt sạch vọng niệm, tâm không có chỗ vướng mắc, thấu rõ thật tướng bản lai không do tu chứng mà có được. Đoạn này ý nói đến Tự thân Phật. Người nhận ra tánh Phật của mình mà quy ngưỡng, cao quý hơn gấp ngàn ức lần việc hướng đến Phật bên ngoài mà hiến cúng. Đoạn này cũng có vẻ theo khuynh hướng Đại thừa, đối chiếu với dị bản thì có nhiều khác biệt. Có lẽ đã có sự chỉnh sửa.
[3]Đề tựa chương này là "Cử nan khuyến tu", nghĩa là nêu lên những sự khó khăn để khuyên người cố gắng tu tập.
[4]Trong dị bản chỉ thấy có 5 điều, không phải 20. Ấy là 5 điều đầu tiên kể từ trên xuống. Chúng tôi giữ nguyên theo bản này là 20 điều, mặc dù thấy cũng có một số điều trùng lặp, hoặc theo tinh thần Đại thừa, không nhất quán với toàn văn kinh.
[5]Bố thí là việc được phước đức. Có tiền của để bố thí thì không khó lắm, nhiều người làm được. Nhưng kẻ nghèo túng, tự mình chưa đủ cơm ăn áo mặc mà phát tâm bố thí cho kẻ khác, điều đó mới khó làm. Ấy là chuyện "Lá rách đùm lá nát", khó làm lắm thay.
 

* Trang 44 *
device

2. Giàu sang quyền quý mà học được đạo là khó.[1]
3. Dám bỏ mạng sông đi vào chỗ chết là khó.[2]
4. Được thấy kinh Phật là khó.[3]
5. Sanh ra lúc có Phật ra đời là khó.[4]
6.Tự chế" sự ham muôn sắc dục là khó.[5]
 

[1] Người phát tâm học đạo là khó. Nhưng sanh trong nhà quyền quý, giàu sang, hưởng mọi sự sung sướng, đầy đủ mà học được đạo mới là điều khó. Bởi học đạo thì phải từ bỏ những sự sung sướng vật chất giả tạm, mà nó lại đang cuốn hút quanh mình mỗi ngày. Việc ấy thật khó làm.
[2]Kinh văn là "tất tử", nghĩa là chắc chắn sẽ chết. Người dám liều mạng sống đã là việc khó, nhưng hầu như ít nhiều cũng còn có phần hy vọng sống sót, như người lính ra trận chẳng hạn. Kẻ biết chắc chắn sẽ chết mà vẫn dám liều thân, việc ấy mới thật rất khó làm.
[3]Thấy được kinh Phật là rất khó, bởi không đủ nhân duyên thì chẳng được thấy. Nhiều người được nhìn thấy, nhưng chẳng có lòng tin, chẳng thể đọc hiểu, thì cũng chẳng gọi là được thấy. Nếu thật được thấy kinh Phật, tức cũng như nghe lời Phật thuyết, học được đạo Phật, tu hành quyết định thành Phật, chẳng phải là khó lắm sao?
[4]Chư Phật ra đời rất khó gặp, mỗi vị đều phải hội đủ nhân duyên mới xuất thế. Chỉ riêng ở địa cầu này, từ Phật Thích-ca đến nay đã hơn 2.500 năm chưa có vị Phật thứ hai xuất hiện. Lại nữa, dù sanh ra cùng thời với Phật mà không đủ duyên lành cũng không gọi là gặp Phật. Như thời đức Phật Thích-ca, toàn cõi Ấn Độ chẳng phải ai ai cũng được Phật độ, mà ngoại đạo tà thuyết cũng rất đông. Nếu xét trên toàn cầu thì số ấy càng lớn nữa. Lòng từ bi của Phật dẫu bao trùm hết thảy chúng sanh, nhưng tự mình không có căn lành cũng chẳng làm sao gặp Phật. Nên nói được gặp Phật là rất khó vậy.
[5]Kinh văn là "nhẫn sắc nhẫn dục", nhẫn ở đây không phải nhẫn nhục, mà là chịu đựng, kiềm chế. Cõi Ta-bà này gọi là Dục giới, bởi mạng sống của chúng sanh tồn tại và luân chuyể’n do nơi sắc dục, nên biết sắc dục lôi cuốn người ta rất mạnh. Tự chế" được sự ham muốn sắc dục mà hành xử đúng đắn, hợp chánh đạo là điều rất khó.
 

* Trang 45 *
device

7.Thấy vật tốt đẹp mà chẳng mong cầu là khó.[1]
8. Bị nhục mà không giận là khó.[2]
9. Có thế" lực mà không ỷ cậy là khó.[3]
10. Gặp việc mà lấy tâm vô tư ứng xử là khó.[4]
11. Học rộng mà vẫn tham khảo nhiều là khó.[5]
 

[1]Kinh văn là "kiến hảo bất cầu", chữ "hảo" là tốt đẹp. Người đời tâm tham thì thấy vật gì tốt đẹp cũng khởi tâm mong cầu, cho dẫu mình không cần đến. Nhận biết được vật tốt mà không mong cầu cho mình là điều rất khó, còn nếu đã khởi tâm ham thích, ưa muốn tức đã đi hết một nửa đường đến chỗ mong cầu rồi.
[2]Đây chính là hạnh nhẫn nhục của Bồ Tát. Người đời khi bị sỉ nhục tất sanh lòng oán hận, giận dữ. Bởi sự xúc phạm về thân thể như đánh đập, xô đẩy, đôi khi còn có thể nhẫn chịu được, còn sự xúc phạm về tinh thần nó ngấm ngầm mà tác động đến con người mạnh mẽ hơn gấp bội. Nên nhà Nho có câu "Ưng thọ tử bất ưng thọ nhục." (Thà chịu chết chứ chẳng chịu nhục.) Đủ biết sự nhục mạ nó làm thương tổn người đời như thế" nào. Khi mình bị kẻ khác làm nhục mà giữ được tâm thản nhiên không hờn giận, chỉ có thể là kẻ biết tu hạnh nhẫn nhục. Việc ấy rất khó làm.
[3]Người đời khi có thế" lực thì trong tâm thường sanh cống cao, ngã mạn, ỷ cậy vào đó rồi coi thường, hiếp chế" người khác. Kẻ hiểu đạo nhìn thấy tất cả danh vọng quyền thế" như bèo nổi mây trôi mới có thể dẹp trừ tâm kiêu mạn ấy. Cho nên người có thế" lực mà không ỷ cậy chính là người hiểu đạo, thật rất khó làm.
[4]Kinh văn là "xúc sự vô tâm", "vô tâm" ở đây không thể hiểu là "không có tâm", mà là khi tiếp cận với sự việc chỉ thuận theo lẽ đạo mà làm, chẳng để cho nó cuốn hút mình vào vòng lo nghĩ, ưu tư, cũng không để cho những định kiến hoặc lòng yêu, ghét chi phối vào. Trước đây có bản dịch là "gặp việc không quan tâm", e rằng không đúng. Vì người gặp việc không quan tâm là người không có lòng nhân, chưa nói là trái với lời Phật dạy.
[5]Người học rộng biết nhiều thường sanh ra tự phụ, ít khi chịu tham cứu kiến giải của người khác. Kẻ tự mình học rộng biết nhiều, nhưng vẫn chịu khó thận trọng mà tham khảo, cứu xét kỹ lưỡng nhiều nơi, quả là việc rất khó làm, vì dẹp bỏ được sự tự cao, tự mãn của mình.
 

* Trang 46 *
device

12.Trừ diệt tánh ngã mạn là khó.[1]
13. Chẳng khinh người chưa học là khó.[2]
14. Giữ tâm bình đẳng là khó.[3]
15. Chẳng nói những chuyện thị phi là khó.[4]
16. Gặp thiện tri thức là khó.[5]
 

[1]Ngã mạn là gốc của muôn tật xấu. Vì chấp lấy cái ta, lúc nào cũng xem ta là hay giỏi hơn kẻ khác nên làm chướng ngại cho sự học đạo. Nói trừ diệt ngã mạn là khó, bởi vì tâm ngã mạn rất khó đoạn trừ, cho đến nhiều lúc tồn tại rất vi tế" mà ta chẳng nhận ra được. Vì thế" mà nhiều bậc đạo cao đức trọng, khi thọ nhận sự cung kính lễ bái của người đời cũng vẫn sanh tâm ngã mạn rất khó tự biết.
[2]Người có chút kiến giải, tri thức hơn người khác, do tâm ngã mạn mà khinh thường những kẻ thấp kém hơn mình. Kẻ hiểu đạo nhận biết rằng người thấp kém ấy chẳng qua là vì chưa được học, nên chẳng dám sanh tâm khinh thường. Lại nói, trong đạo Phật theo Đại thừa, hết thảy chúng sanh đều là Phật sẽ thành, nên càng chẳng dám khinh thường. Kinh Pháp Hoa dẫn chuyện Bồ Tát Thường Bất Khinh, dù gặp bất cứ ai cũng đều cung kính lễ bái, biết rằng vị ấy về sau sẽ thành Phật. Như vậy, nếu chẳng khinh thường người chưa học, đó chính là người hiểu đạo, thật khó làm thay!
[3]Tâm bình đẳng là không thiên vị, không phân biệt kẻ thân người sơ, kẻ nam người nữ, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, kẻ già người trẻ. Đem lòng thương tất cả chúng sanh như nhau.
[4]Thị là phải, đúng. Phi là sai, trái. Chuyện thị phi ở đây là chuyện phải quấy của người khác. Tự mình hãy lo tu học, sửa mình, chẳng nên lo bàn chuyện thiên hạ. Thế" nhưng tâm người đời lại rất dễ bị lôi cuốn vào những chuyện thị phi quanh mình. Kẻ dẹp bỏ, chống lại được sự lôi cuốn ấy mới có thể chuyên tâm mà làm nên những chuyện phi thường. Việc ấy thật khó làm. Ngài Huyền Trang khi xưa, thuở còn bé đang ngồi đọc sách, có đám múa lân đi ngang nhà, tất cả trẻ con đều kéo ra xem, mà ngài vẫn ngồi yên đọc sách. Thân phụ ngài nhìn thấy, biết là về sau ngài sẽ thành danh. Quả đúng như vậy.
[5]Thiện tri thức hiểu theo kinh Phật là những kẻ hiểu biết có thể chỉ dạy, dẫn dắt hoặc khuyến khích mình theo nẻo lành. Người đời chìm đắm trong ba độc là tham, sân, si, dù có người thuyết pháp cho nghe cũng chưa hẳn đã tin nhận. Nếu gặp được người bạn lành, cùng làm việc lành, sách tấn nhau tu tập, đều hiểu chung là những bậc thiện tri thức. Người như vậy thật rất khó gặp.
 

* Trang 47 *
device

17. Thấy tánh học đạo là khó.[1]
18. Theo hóa độ người khác là khó.[2]
19. Thấy cảnh mà chẳng động tâm là khó.[3]
20. Khéo hiểu phương tiện là khó.[4]
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BA
HỎI VỀ TÚC MẠNG
Một vị sa-môn thưa hỏi Phật: “Nhờ nhân duyên[5] gì có thể được biết túc mạng,[6] hiểu thấu lẽ đạo?”
 

[1]Tất cả chúng sanh đều sẵn có tánh Phật. Nhưng nhận ra tánh ấy thật chẳng phải dễ dàng, chính là sự nghiệp một đời của người tu học Phật. Kẻ thấy tánh học đạo thì quả Phật chắc chắn đạt đến, như vậy chẳng phải là khó được lắm sao? Kinh Pháp Bảo Đàn nói: "Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích. Nếu tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là bậc trượng phu, là thầy của hàng trời người, là Phật."
[2]Dù người tà ác nhưng mình không bỏ, cố theo để’ giáo hóa họ làm thiện. Việc ấy thật khó làm.
[3]Người đời hễ gặp cảnh vui thì xúc động mà bám theo, gặp cảnh buồn thì xúc động mà chán ngán. Đối với cảnh, giữ tâm được chẳng động, uy vũ chẳng khuất phục, bần tiện chẳng đổi chí. Việc ấy thật khó làm. Kinh Duy-ma-cật nói: "Năng thiện phân biệt chư pháp tướng, ư đệ nhất nghĩa nhi bất động." (Có thể khéo phân biệt các pháp tướng, nơi nghĩa chân thật lòng không lay động.)
[4]Phương tiện là sự quyền biến thi hành để đạt được kết quả mong muốn. Hành xử theo khuôn thước có sẵn thì ai cũng làm được. Tự mình nghĩ ra phương tiện linh hoạt, khéo léo để đạt đến kết quả mới là điều khó. Như việc biết sao nói vậy là dễ, nhưng tùy theo trình độ của người nghe mà dẫn dắt từ dễ đến khó cho họ hiểu được, việc ấy rất khó làm.
[5]Nhân là nguyên nhân sanh ra sự vật, sự việc. Duyên là những điều kiện phụ trợ giúp cho sự vật, sự việc sanh ra. Tỷ như cái cây mọc lên, nhân là hạt giống, còn duyên là mưa nắng, đất màu, phân bón, công phu chăm sóc của người trồng...
[6]Túc mạng: kiếp trước, những đời sống đã qua. Biết được túc mạng tức là nhớ biết những kiếp quá khứ của mình, hoặc thấy biết được những kiếp quá khứ của người khác.
 

* Trang 48 *
device

Phật dạy: “Giữ tâm thanh tịnh,[1] ý chí vững bền[2] thì có thể hiểu thấu lẽ đạo. Như lau chùi tấm gương sạch hết những chỗ dơ bẩn, tự nhiên được sáng trong. Nếu dứt bỏ tình dục và sự mong cầu, tất nhiên biết được túc mạng.”
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN
HỎI ĐIỀU TỐT LÀNH
Một vị sa-môn thưa hỏi Phật: “Điều chi là lành? Điều chi lớn nhất?”
Phật dạy: “Tu theo đạo, giữ lấy sự chân thật, đó là điều lành. Tâm ý phù hợp với đạo, đó gọi là lớn.”
CHƯƠNG THỨ MƯỜI LĂM
SỨC MẠNH VÀ SỰ SÁNG
Một vị sa-môn thưa hỏi Phật: “Thế" nàolà có nhiều sức mạnh? Thế" nào là sáng suốt nhất?”
Phật dạy: “Nhẫn nhục là có nhiều sức
 

[1]Giữ cho lòng được trong sạch, yên tịnh, chẳng để phiền não, ba độc tham, sân, si làm xáo động.
[2]Kiên tâm, giữ vững ý chí, dù chưa được đạo cũng chẳng ngã lòng.
 

* Trang 49 *
device

mạnh,[1] vì chẳng mang lòng hung dữ, lại thêm được yên lành, khỏe mạnh. Người nhẫn không làm điều hung dữ, tất nhiên được người khác tôn trọng.
“Tâm dứt hết cấu nhiễm,[2] trong sạch không chút uế" trược, ấy là sáng suốt nhất.[3] Từ thuở chưa có trời đất đến nay, khắp nơi trong mười phương, không có điều chi là chẳng thấy, chẳng biết, chẳng nghe, thành tựu Nhất thiết trí.[4] Như vậy có thể gọi là sáng suốt.”
CHƯƠNG THỨ MƯỜI SÁU
BỎ LUYẾN ÁI ĐƯỢC ĐẠO
Phật dạy: “Người ta ôm ấp lấy sự luyến ái và tham dục[5] nên chẳng thấy
 

[1]Nhẫn nhục: chịu được với cảnh nghịch mà chẳng khởi ra sự giận hờn. Kinh Tăng nhất A-hàm nói: "Tỳ-kheo lấy nhẫn nhục làm sức mạnh."
[2]Cấu nhiễm: Phiền não trong tâm sanh ra uế" trược. Các phiền não nói chung gom vào ba thứ: tham lam, sân hận và si mê. Dứt sạch ba thứ ấy thì tâm tự trong sáng, yên tịnh.
[3]Phiền não còn, tức là uế" trược, tối tăm. Phiền não dứt, tức là trong sạch, sáng suốt.
[4]Nhất thiết trí: Tiếng Phạn là Sarvajnã (Tát-bà-nhã), trí tuệ biết hết tất cả, tức là Phật trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, nên có thể biết trong khắp các cõi nước mười phương, trong cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai.
[5]Ái dục: sự luyến ái và ham muốn đối với vợ con, nhà cửa, sự sản... Ái dục nơi con
người ta là rất lớn, rất mạnh, nên Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phá vỡ núi phiền não, tát cạn biển ái dục."
 

* Trang 50 *
device

được đạo. Ví như nước lóng trong, nay lấy tay quậy lên, mọi người đến đó chang ai nhìn thấy được hình chiếu của họ dưới nước. Người ta để cho sự luyến ái và tham dục làm xáo trộn, uế" trược trong lòng dấy lên, nên chẳng thấy được Đạo. Sa-môn các ông nên xả bỏ sự luyến ái và tham dục. Ai dục đã trừ hết, có thể thấy được Đạo.”
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY
SÁNG ĐẾN TỐI ĐI
Phật dạy: “Phàm kẻ hiểu được đạo cũng như người cầm đuốc đi vào nhà tôi. Sự tôi liền mất đi, chỉ còn sự sáng. Người học đạo hiểu ra chân lý[1] thì ngu si tôi tăm phải dứt, chỉ còn lại trí tuệ sáng suốt mà thôi.”
 

[1]Kinh văn là "kiến đế", đây muốn nói đến Tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Thấy được và thi hành Bốn chân lý ấy là bậc Thánh, chẳng thấy và chẳng hành, tức là phàm phu.
 

* Trang 51 *
device

CHƯƠNG THỨ MƯỜI TÁM
NGHĨ TƯỞNG LẼ KHÔNG
Phật dạy: “Giáo pháp của ta niệm tưởng cái ý vô niệm, thực hành cái hạnh vô hành, nói ra cái điều vô ngôn, tu tập nơi chỗ không tu. Ai hiểu được thì gần đạo, ai mê muội thì xa đạo. Chỗ nói năng dứt hết, sự vật cũng chẳng trói buộc được. Chỉ sai lệch đôi chút thì phút chôc đã mất ngay.”[1]
CHƯƠNG THỨ MƯỜI
CHÍN QUÁN SÁT CHÂN GIẢ
Phật dạy: “Quán xét trời đất, nghĩ nhớ lẽ vô thường.[2] Quán xét thế" giới, nghĩ nhớ


[1] Bài này hoàn toàn là tinh thần Đại thừa Đốn giáo, chẳng phải dựa vào chân lý Tứ đế" như hầu hết các bài khác trong kinh này. Trong dị bản bài này xếp thứ 15 và có ý hướng phù hợp với toàn văn kinh hơn. Xin dẫn ra như sau:
"Phật ngôn: Ngô hà niệm niệm đạo? Ngô hà hành hành đạo? Ngô hà ngôn ngôn đạo? Ngô niệm đế’ đạo, bất hốt tu du
(Phật nói: "Ta lấy niệm gì để niệm đạo? Ta lấy việc làm gì để hành đạo? Ta lấy lời nào để nói đạo? Ta luôn nghĩ nhớ đến đạo Tứ đế, không một giây phút nào dừng nghỉ.") Như vậy rất có khả năng là văn kinh đã bị thay đổi qua nhiều lần sao chép, sửa chữa.
[2]Kinh văn là phi thường, chúng tôi lại dịch là vô thường. Tuy hai từ đều là gốc Hán, nhưng vô thường đã được hiểu phổ biến hơn, với nghĩa là không thường tồn, phải biến đổi. Còn phi thường đôi khi bị hiểu nhầm theo nghĩa là siêu việt, xuất chúng. Trời đất và thế" giới là ví dụ những sự vật to lớn nhất, nhưng vẫn phải trải qua các giai đoạn biến đổi là sanh, trụ, di, diệt.

* Trang 52 *
device

lẽ vô thường. Quán xét linh giác[1] thấy đó là Bồ-đề.[2] Chỗ thấy biết như vậy có thể mau được đắc đạo.”
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI
NGÃ VỐN LÀ KHÔNG
Phật dạy: “Nên nghĩ đến bốn chất lớn[3] ở trong thân, mỗi chất tự nó đều có tên, rốt cuộc không chất nào là ta cả. Cái ta đã không có, chỉ như huyễn hóa thôi.”[4]
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI MỐT
THAM DANH MẤT GỐC
Phật dạy: “Người ta thuận theo tình dục, cầu lấy danh tiếng. Khi được danh tiếng thì thân không còn nữa. Tham danh
 

[1] Linh giác: cái thần thức hiểu biết của mỗi chúng sanh. Nhìn từ góc độ người học đạo thì đó chính là chân tâm, chân như, Phật tánh mà mỗi chúng sanh đều có sẵn nơi mình. Phật tánh ấy thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt, nên quán xét đó chính là Bồ-đề.
[2] Bồ-đề: Tiếng Phạn là Bodhi, Hán dịch là Đạo, Giác, Vô thượng Trí huệ. Kinh Duy- ma chú: "Chỗ tột của Đạo, gọi là Bồ-đề, đó là Chánh giác Vô tướng của chân trí."
[3] Tứ đại: Bốn chất lớn ở trong thế" giới, theo quan niệm thời cổ là những yếu tố hợp lại thành thân người. Đó là: 1. Địa (chất đất - tượng trưng cho độ cứng) 2. Thủy (chất nước - tượng trưng cho độ ẩm), 3. Hỏa (chất lửa - tượng trưng cho sức nóng) 4. Phong (chất gió, không khí - tượng trưng cho sự chuyển động).
[4]Huyễn hóa: không thật. Thân người do bốn chất lớn hiệp lại mà thành, nhưng cuối cùng rồi phải tan rã, không lấy gì là bền chắc.
 

* Trang 53 *
device

theo thế" tục mà chẳng chịu học đạo, chỉ uổng công phu, nhọc hình hài. Cũng như đôt hương, tuy nghe được mùi hương, mà hương đã cháy tàn rồi. Kìa ngọn lửa hại thân đang chực sẵn phía sau ta đó.”[1]
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI HAI
TÀI SẮC CHUỐC SỰ KHỔ
Phật dạy: “Của cải và sắc dục đến mà người mà chẳng chịu buông bỏ, cũng tỷ như lưỡi dao có dính chút mật, chẳng đủ thành bữa ăn ngon, trẻ con liếm vào phải bị cái hại đứt lưỡi.”[2]
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BA
VỢ CON TRÓI BUỘC
Phật dạy: “Người ta trói buộc với vợ con, nhà cửa còn hơn cả sự giam cầm nơi
 

[1] Người ta vì ham danh vọng thế" tục mà phải khổ công nhọc xác vô cùng. Nhưng chưa chắc đã được thỏa mãn về danh vọng. Ví dầu có được đi nữa, thì ngày chết gần kề cũng chẳng hưởng được gì. Rồi khi qua đời thì mang theo tội báo, đọa vào các đường ác. Trở lại làm người thì phải chịu quả báo đau đớn, vì đã tạo tội trong lúc tranh dành công danh. Chẳng bằng biết lo tu thân hành đạo thì được an lạc thân tâm đời nầy và đời sau.
[2]Tài sắc tỷ như chút mật dính nơi lưỡi dao. Kẻ phàm phu tỷ như đứa trẻ nhỏ tham ăn, liếm dao mà bị đứt lưỡi. Kẻ phàm phu ham mê tài sắc mà phải khổ tâm, lụy thân. Hàng trí giả thấy trước cái quả khổ, nên chẳng bám theo tài sắc, liền được thảnh thơi, tự tại.
 

* Trang 54 *
device

lao ngục. Lao ngục còn có hạn kỳ được thả ra, vợ con chẳng thể có lấy một chôc lát xa lìa.[1] Chỗ tham luyến đôi với sắc đẹp, đâu có ngại phải bôn ba? Dầu có sa vào miệng cọp cũng cam tâm chịu. Tự mình chìm đắm xuông chỗ bùn lầy, nên gọi là phàm phu.[2] Qua được cửa ấy[3] là bậc La-hán xuất trần.[4]
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BỐN
SẮC DỤC CHE LẤP ĐẠO
Phật dạy: “Trong các thứ ham muôn, ái luyến, không gì sâu nặng bằng sắc đẹp. Sắc đẹp gây ra sự ham muôn chẳng có gì bằng. May là chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có đến hai thứ như vậy, thì khắp nơi không còn ai có thể theo đạo được nữa.”
 

[1]Kinh văn là "vô viễn ly chi niệm", "niệm" ở đây phải hiểu là một quãng thời gian rất ngắn, như thoáng chốc, chốc lát... Trước đây có bản dịch là "không nghĩ đến việc xa lìa", e rằng không đúng, vì không phù hợp với vế" trước của câu.
[2]Phàm phu: người làm những việc thế" tục. Kinh Pháp Hoa nói: Kẻ phàm phu ý thức cạn hẹp, vướng sâu vào năm dục." (Năm dục là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục.)
[3]Tức là vượt qua được sự cám dỗ, lôi cuốn của sắc dục.
[4]Xuất trần: ra khỏi trần cấu, trần cảnh. Trần có sáu thứ: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Bậc La-hán thoát khỏi phiền não gây ra bởi sáu căn nhiễm với sáu trần. Xuất trần cũng có thể hiểu đơn giản hơn là vượt ra khỏi trần tục, thế" thường.
 

* Trang 55 *
device

CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI LĂM LỬA DỤC THIÊU THÂN
Phật dạy: “Người say mê ái dục giông như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, thế" nào cũng bị họa cháy tay.”[1]
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI SÁU
THIÊN MA QUẤY RỐI PHẬT
Một vị thiên ma[2] mang cô gái rất đẹp[3] đến dâng cho Phật, muôn phá hoại ý chí của Phật. Phật nói: “Này cái túi da đựng những món dơ,[4] ông đến đây mà làm gì? Đi đi. Ta không dùng đến.” Thiên ma càng thêm kính phục, nhân đó thưa hỏi về lẽ đạo. Phật giảng thuyết cho nghe, [vị ấy] liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
 

[1]Tình dục tỷ như lửa dữ, đốt kẻ say mê, nhất là tình dục đối với nữ sắc thì hạng thiêu thân ở đời kể ra chẳng thể nào hết.
[2]Thiên ma, tức là ma ở cõi Trời. ớ đây chỉ cảnh Trời thứ sáu trong cõi Dục giới, là cảnh Tha hóa tự tại thiên, do vị chúa ma thống lãnh, tên là Ba-tuần. Dưới quyền vị ấy có những thiên ma thường đi thử thách người tu hành ở thế" gian.
[3]Kinh văn là "ngọc nữ", người con gái tướng mạo quý đẹp như ngọc.
[4]Thân xác thịt phàm phu cho là đẹp đẽ, nhưng xét kỹ ra chẳng qua chỉ như một cái túi bằng da chứa đựng những món dơ dáy, tanh hôi mà thôi. Những món dơ ấy là: phân, nước tiểu, mủ, máu, đàm, ghèn, nước mũi, nước dãi v.v...
 

* Trang 56 *
device

CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BẢY
KHÔNG VƯỚNG MẮC
Phật dạy: “Người cầu đạo như cây gỗ thả dưới nước, theo dòng trôi đi. Nếu chẳng vướng ở hai bờ, chẳng bị người ta lấy mất, chẳng bị quỉ thần ngăn trở, chẳng bị chỗ nước xoáy cuôn vào, lại cũng chẳng mục nát, thì ta nói chắc rằng cây ấy sẽ trôi ra biển. Người học đạo nếu chẳng bị tình dục làm mê hoặc, chẳng bị các thứ tà ác quấy rôi, lại tinh tấn theo lẽ vô vi, thì ta nói chắc rằng người ấy thế nào cũng đắc đạo.”
CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI TÁM
CHỚ BUÔNG THẢ TÂM Ý
Phật dạy: “Chớ tin nơi tâm ý, tâm ý không thể tin cậy được. Thận trọng chớ gần gũi sắc dục, gần gũi sắc dục tất sanh tai họa.[1] Đắc quả A-la-hán rồi, mới có thể tin cậy nơi tâm ý.”

 


[1]Tâm ý của người ta hay chạy theo cảnh ngoài, cũng như con ngựa không cương. Phải kiềm chế, chú tâm vào đạo lý. Nhất là đừng một mình tiếp xúc với đàn bà, con gái. Sách Cổ Linh có chép: Thuở xưa, bên Thiên Trúc có một vị đạo nhân, tu hành trong núi, được Năm phép thần thông. Có một dâm nữ lễ bái đạo nhân, đụng cọ thân thể của người. Nhân đó, đạo nhân khởi nhiễm tâm, bèn mất thần thông. Vậy nên biết rằng nhà tu hành mà hư đạo mất chí là do nữ sắc vậy.

 

* Trang 57 *
device

CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI CHÍN
CHÁNH QUÁN TRỪ SẮC DỤC
Phật dạy: “Thận trọng chớ ngắm nhìn đàn bà, cũng đừng nói năng tiếp xúc. Nếu cần nói chuyện, nên giữ tâm chân chánh mà suy nghĩ rằng: ‘Ta là sa-môn, ở đời ác trược phải như hoa sen, chẳng vấy bùn nhơ.’ Đối với phụ nữ già cả, hãy tưởng như mẹ mình; đối với phụ nữ lớn tuổi hơn, tưởng như chị gái; hoặc nhỏ tuổi hơn thì tưởng như em gái; nhỏ tuổi hơn nhiều thì tưởng như con gái của mình. Tưởng như thế" rồi sanh tâm muốn độ thoát họ, dập tắt mọi ý nghĩ xấu.”
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI
LÌA XA LỬA DỤC
Phật dạy: “Người cầu đạo ví như kẻ mặc áo bằng cỏ khô, khi lửa đến gần thì phải lo tránh. Người học đạo thấy sự tham dục phải lo tránh xa.”[1]


[1] Người mới tu hành, chớ nên gần gũi với đàn bà con gái, tỷ như lửa gần rơm thì rơm phải cháy.

* Trang 58 *
device

CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI MỐT
TĨNH TÂM TRỪ DỤC
Có người kia lòng dâm dục chẳng dứt, muôn tự tay cắt bỏ dương vật. Phật dạy người ấy rằng: “Nếu cắt bỏ dương vật, chẳng bằng lo dứt đoạn tâm.[1] Vì tâm như người cai quản, nếu người cai quản dừng, thì những kẻ tùy tùng cũng phải dừng. Tà tâm chẳng dứt, cắt bỏ dương vật có ích gì?”
Phật vì người ấy mà thuyết kệ rằng:
Dục sanh ra từ ý,
Ý do tư tưởng sanh.
Ý, tưởng đều tịch tĩnh,[2] Không sắc, không hành dâm.
Phật nói: “Bài kệ ấy do Phật Ca-diếp thuyết.”[3]



[1]Kinh văn là "đoạn âm", "âm" ở đây là âm hành, là bộ phận sinh dục nam. Dương vật có động đều là do vọng tâm khởi lên. Nếu tâm được yên lặng, dương vật cũng nguội lạnh theo. Cho nên tâm ví như người cai quản, dương vật chỉ như người làm theo.
[2]Kinh văn là "nhị tâm", tức là chỉ đến ý và tư tưởng vừa nói ở hai câu trên.
[3]Phật Ca-diếp, tiếng Phạn là Kãấyapa, đức Phật quá khứ, trước Phật Thích-ca, cũng như đức Phật Thích-ca ra đời trước Phật Di-lặc.

* Trang 59 *
device

CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI HAI
TRỪ NGÃ KHÔNG CÒN SỢ
Phật dạy: “Người ta vì ái dục sanh ra lo nghĩ, vì lo nghĩ sanh ra sợ sệt. Nếu lìa khỏi ái dục thì còn chi phải lo, còn chi phải sợ?”
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BA
TRÍ SÁNG PHÁ TÀ MA
Phật dạy: “Người cầu đạo tỷ như một người chiến đấu chông muôn người. Mặc áo giáp lên đường, hoặc có ý khiếp sợ, hoặc nửa đường thôi lui, hoặc đánh nhau mà chết, hoặc chiến thắng trở về. Sa-môn học đạo nên giữ vững lòng mình, tinh tấn dũng mãnh, chẳng sợ những gì sắp tới, phá diệt chúng ma[1] mà chứng đắc đạo quả.”
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BỐN
TRUNG ĐẠO
Một vị sa-môn ban đêm tụng kinh Di giáo của Phật Ca-diếp.[2] Tiếng tụng nghe


[1]Có bốn loại ma: 1. Phiền não ma, 2. Ấm ma (Ngũ ấm tức: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), 3. Tử ma (ma chết), 4. Thiên ma (Ma vương và quyến thuộc).
[2]Kinh Di giáo ở đây là chỉ kinh ghi lại lời dạy dỗ, dặn dò của Phật. Phật Ca-diếp ra đời trước Phật Thích-ca.

* Trang 60 *
device

buồn bã và gấp rút, trong lòng hối tiếc, muốn thối chí. Phật hỏi: “Khi còn ở nhà, ông đã từng làm gì?
Đáp rằng: “Con thích khảy đàn.”
Phật hỏi: “Dây chùng quá thì sao?”
Đáp rằng: “Chẳng kêu.”
“Dây căng quá thì thế nào?”
Đáp rằng: “Mất tiếng.”
“Chẳng chùng, chẳng căng, giữ mức vừa phải thì thế nào?”
Đáp rằng: “Các âm đều vang lên đủ.”
Phật dạy: “Sa-môn học đạo cũng giống như vậy. Nếu tâm được điều hòa vừa phải, thì có thể đắc đạo. Đối với đạo nếu tâm mạnh mẽ thái quá tất thân phải mỏi mệt. Thân đã mỏi mệt, ý tất sanh buồn não. Nếu ý sanh buồn não, việc làm tất thối lui. Việc làm đã thối lui, tội lỗi tất tăng thêm nhiều. Chỉ nên thanh tịnh, an lạc thì đạo chẳng mất.”

* Trang 61 *
device

CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI LĂM
TRỪ CẤU NHIỄM
Phật dạy: “Như người luyện sắt, loại bỏ cặn dơ mà rèn thành đồ vật. Đồ vật ấy tất là rất tôt. Cũng vậy, người học đạo trừ bỏ những cấu nhiễm[1] trong tâm tất sẽ được hạnh trong sạch.”
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI SÁU
ĐƯỢC CHỖ TỐT HƠN
Phật dạy: “Người ta lìa khỏi các đường ác,[2] được làm người là khó.
“Được làm người, tránh thân nữ nhi được làm nam tử là khó.[3]
“Được làm nam tử, có đủ sáu căn là khó.[4]



[1]Cấu nhiễm: dơ bợn. Phiền não tức tham, sân, si và các tình dục luyến ái làm cho tâm ý dơ bợn (cấu nhiễm). Trừ hết phiền não thì thân khẩu ý liền thanh tịnh, có thể đắc đạo. Đó cũng như lấy chất cặn trong sắt ra, thì món đồ trở nên tinh hảo. Lấy chất cáu, chất bụi trong nước ra, thì nước trở nên trong sạch.
[2]Các đường ác: nơi đọa lạc, lãnh chịu các ác nghiệp. Có ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
[3]Thân người nam quý hơn người nữ, vì dễ tu hành hơn. Khi Phật còn tại thế, ban đầu cũng không muốn cho người nữ xuất gia, vì có lắm điều bất tiện.
[4]Sáu căn là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trong thân là bao hàm cả tứ chi và các bộ phận. Làm người được sáu căn trọn đủ, tránh khỏi tàn tật là khó.

* Trang 62 *
device

“Có đủ sáu căn, được sanh nơi xứ trung tâm là khó.[1]
“Được sanh nơi xứ trung tâm, gặp Phật ra đời là khó.
“Được gặp Phật ra đời, hiểu được lẽ đạo là khó.
“Hiểu được lẽ đạo, phát khởi lòng tin mạnh mẽ là khó.
“Đã phát khởi được lòng tin mạnh mẽ, phát tâm Bồ-đề[2] là khó.
“Đã phát tâm Bồ-đề, đạt đến chỗ vô tu vô chứng[3] là khó.
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BẢY
GIỮ GIỚI GẦN ĐẠO
Phật dạy: “Đệ tử Phật tuy ở cách xa Phật nhiều ngàn dặm, nhưng luôn nhớ nghĩ đến giới luật, tất được chứng quả.
 

[1]Kinh văn là "trung quốc", là nước ở giữa, ở trung tâm, không phải chỉ nước Trung Hoa. Dùng ý này là đối nghịch với "biên địa hạ tiện", tức là những nơi biên thùy, xa xôi hẻo lánh, văn minh không truyền đến đầy đủ.
[2]Phát tâm Bồ-đề: Phát khởi cái chí nguyện tu hành cho đến khi thành Phật.
[3]Chỗ chứng ngộ không còn thấy có sự tu chứng.
 

* Trang 63 *
device

Còn như kẻ kề cận bên ta, thường được thấy ta, nhưng chẳng làm theo giới luật, rôt cùng chẳng thể đắc đạo.”
CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI TÁM
CÓ SANH CÓ DIỆT
Đức Phật hỏi một vị sa-môn: “Mạng sông người ta là bao lâu?” Thưa rằng: “Được vài ngày.” Phật nói: “Ông chưa hiểu đạo.”
Phật lại hỏi một vị sa-môn khác: “Mạng sông người ta là bao lâu?” Thưa rằng: “Chỉ trong một bữa cơm.” Phật nói: “Ông chưa hiểu đạo.”
Phật lại hỏi một vị sa-môn khác: “Mạng sông người ta là bao lâu?” Thưa rằng: “Chỉ trong hơi thở vào ra mà thôi.”
Phật dạy: “Hay thay! Ông thật đã hiểu đạo.”

* Trang 64 *
device

CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI CHÍN
LỜI DẠY CHẲNG SAI
Phật dạy: “Người học đạo Phật, đôi với những lời Phật dạy, đều nên tin nhận. Giông như khi ăn mật, phía trong và phía ngoài đều là vị ngọt. Kinh điển của ta cũng như vậy đó.”[1]
CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI
LỄ BÁI DO NƠI TÂM
Phật dạy: “Sa-môn đi quanh cung kính,[2] đừng như con trâu kéo côi xay,[3] thân tuy đi quanh, mà tâm chẳng tùy theo. Nếu tâm đã cung kính, cũng chẳng cần việc đi quanh như thế.”[4]


[1]Tỷ như mật ngọt, dù nếm chỗ nào cũng là vị ngọt. Kinh điển của Phật cũng như thế, dù trước, sau, khoảng giữa cũng chỉ thuần một vị giải thoát mà thôi.
[2]Kinh văn là "hành đạo", được hiểu theo ngày trước là một nghi thức cung kính, cũng như lễ bái, được thực hiện bằng cách cung kính đi quanh Phật theo chiều bên tay mặt.
[3]Lấy ví dụ con trâu kéo cối xay, vì nó làm như vậy là do bắt buộc, lại vô tâm mà làm. Vị sa-môn không nên như vậy.
[4]Khi thân làm việc cung kính, trong tâm cũng phải cung kính. Nếu tâm đã thật cung kính, việc làm bên ngoài chỉ là sự bày tỏ, không quan trọng bằng trong tâm. Chỗ này người học đạo phải nên thận trọng, chớ rơi vào việc coi thường hình thức mà sai lệch ý kinh. Bài này chỉ muốn nhấn mạnh rằng tâm đạo là quan trọng hơn, tuyệt nhiên không phải bài xích các hình thức lễ bái.

* Trang 65 *
device

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI MỐ
T LÒNG NGAY TRỪ DỤC
Phật dạy: “Người học đạo ví như con trâu chở nặng đi giữa bùn sâu. Đành rằng nó mỏi mệt hết sức, song phải chú tâm chẳng dám nhìn qua hai bên. Đến chừng ra khỏi bùn lầy, mới có thể tươi tỉnh nghỉ ngơi. Sa-môn nên quán tưởng tình dục còn nguy hiểm hơn cả bùn lầy, hãy đem lòng ngay thẳng[1] mà nghĩ nhớ đến đạo, mới có thể thoát được các điều khổ.”
CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI HAI
BIẾT ĐỜI LÀ HUYỄN
Phật dạy: “Ta xem ngôi vị vua chúa như bụi qua kẽ hở,[2] xem của báu vàng ngọc cũng như ngói sạn, xem y phục gấm vóc như mảnh lụa rách, xem cõi đại thiên


[1]Kinh văn là "trực tâm": Lòng ngay thẳng, không tà vạy, không nịnh bợ, không dối gạt. Kinh Duy-ma nói: "Trực tâm là đạo trường." Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chư Phật mười phương đều đồng một đạo, thảy đều dùng trực tâm mà ra khỏi sanh tử."
[2]Kinh văn là "quá khích trần".

* Trang 66 *
device

thế giới như một trái táo,[1] xem nước hồ A-nậu[2] như dầu thoa chân.
“Ta xem cửa phương tiện đặt ra như của báu biến hóa mà có, xem Vô thượng thừa[3] như vàng lụa trong giấc mộng, xem đạo Phật như đóa hoa trước mắt, xem thiền định như cây trụ chống đỡ núi Tu-di,[4] xem Niết-bàn[5] như thức dậy sau giấc ngủ đêm, xem sự thấy biết đúng sai[6] cũng như sáu con rồng lượn múa,[7] xem
 

[1]Kinh văn là "ha tử", trái ha, hạt ha, nói đủ là Ha-lê-lặc (Haritaki), cũng đọc là Ha-la-lặc, Ha-lỵ-lặc. Trái ấy chất đắng, dùng làm thuốc, bằng cở như trái táo. Đây chỉ dùng với ý so sánh về kích thước, nên chúng tôi thay hẳn bằng trái táo cho dễ hiểu.
[2]A-nậu, cũng viết là A-nậu-đạt, nói đủ là A-na-bà-đạp-đa (Anavatapta), Hán dịch là Vô nhiệt não. Hồ A-nậu ở trong núi Hy-mã-lạp, nước hồ có đủ tám công đức.
[3]Lời nói để tán xưng giáo pháp chí cực, tức là Đại thừa. Kinh Hoa nghiêm nói: "Qua khỏi hai thừa (Thanh văn thừa, Duyên giác thừa), gọi là Đại thừa, Đệ nhất thừa, Thắng thừa, Tối thắng thừa, Thượng thừa, Vô thượng thừa, Lợi ích nhất thiết chúng sanh thừa."
[4]Núi Tu-di: Cũng viết Tu-di-lâu, Tu-mê-lư, Hán dịch là Diệu cao sơn.
[5]Niết-bàn: Nirvana, cũng đọc là Niết-bàn-na, Nê-hoàn, Nê-bạn. Cảnh trí dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái. Niết (Nir) nghĩa là "ra khỏi". Bàn hay Bàn-na (vana) nghĩa là "rừng". Niết bàn là ra khỏi rừng mê tối, rừng phiền não. Theo chữ Hán cũng dùng những tên gọi khác như Tịch, Diệt độ, Bất sanh, Vô vi, An lạc, Giải thoát, Viên tịch.
[6]Kinh văn là "đảo chánh". Chỗ thấy biết quấy bậy, ngược ngạo, gọi là "đảo". Chỗ thấy biết chánh đáng, đúng đắn, gọi là "chánh". Như lấy khổ làm vui, lấy vô thường làm thường, lấy vô ngã làm ngã, lấy bất tịnh làm tịnh, gọi là đảo, đảo kiến hay điên đảo kiến. Ngược lại thì gọi là chánh, chánh kiến, chánh tri kiến.
[7]Sáu con rồng lượn múa: Phật xem chánh kiến với đảo kiến chẳng qua như rồng lượn múa, quay đầu ra đuôi, lộn đuôi ra đầu.
 

* Trang 67 *
device

lẽ bình đẳng[1] như địa vị chân thật duy nhất, xem việc hành hóa đạo lý như cây côi bôn mùa.[2]
Các vị đại tỳ-kheo nghe Phật thuyết kinh này xong, thảy đều vui vẻ phụng hành.
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG
 

[1]Bình đẳng như địa vị chân thật duy nhất: Nếu tu đắc Bình đẳng tâm thì đạt tới cảnh chân tuyệt đối. Phật đem tâm bình đẳng đối với chúng sanh, yêu thương tất cả như con một của mình.
[2]Việc hành hóa đạo lý như cây cối bốn mùa: khi đắc bình đẳng rồi, khi chứng địa vị chân thật duy nhất rồi, Bồ tát nương địa vị ấy mà hóa đạo, tiếp độ chúng sanh, cũng như cây cối bốn mùa nương đất đai mà sanh nảy vậy.
 

* Trang 68 *
device

 
Kinh Tứ Thập Nhị Chương - Kinh Bốn Mươi Hai Chương