LOGO VNBET
CHƯƠNG TÁM
TƯƠNG ƯNG LAKKHANA
I. PHẨM THỨ NHẤT
§ I. ĐỐNG XƯƠNG (Tạp, Đại 2, 135a) (S.ii,254)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhaṇa (1) và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùṭa (Linh Thứu).
3) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhaṇa.
4) Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhaṇa:
– Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhaṇa. Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
– Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhaṇa vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.
5) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
6) Rồi Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
– Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
– Này Hiền giả Lakkhaṇa, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
7) Rồi Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahà Moggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
_______________
(1) Đây là một Thượng tọa trong 100 vị bện tóc được đức Phật thế độ khi ba anh em Kasappa được đức Phật thuyết pháp.

* Trang 599 *
device

8) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
– Ở đây, Tôn giả Mahà Moggallàna khi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
9) – Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một bộ xương (1) đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
10) – Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!”.
11) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Thật sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
12) Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
13) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghàtako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
 
§ II. ĐỒ TỂ GIẾT TRÂU BÒ (Goghàtako) (Tạp, Đại 2, 135b) (S.ii,256)
1)...
2) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò.
_____________
(1) Aṭṭhisankhalikaṃ: một bộ xương.

* Trang 600 *
device

§ III. MỘT MIẾNG THỊT VÀ KẺ BẮT CHIM (Tạp, Đại 2, 136a) (S.ii,256)
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha.
 
§ IV. NGƯỜI GIẾT DÊ BỊ LỘT DA (Tạp, Đại 2, 135c) (S.ii,256)
1) Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...
 
§ V. NGƯỜI GIẾT HEO VỚI ĐAO KIẾM (Tạp 19-14, Đại 2, 136c) (S.ii,257)
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này...
 
§ VI. NGƯỜI SĂN THÚ VỚI CÂY LAO (Tạp, Đại 2, 136b) (S.ii,257)
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn…
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.
 
§ VII. NGƯỜI TRA TẤN VỚI MŨI TÊN. (S.ii, 257)
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

* Trang 601 *
device

2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này.
 
§ VIII. NGƯỜI ĐÁNH XE VỚI CÁC CÂY KIM (Tạp, Đại 2, 136b) (S.ii,257)
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người điều phục các loài thú  (1) ở tại Ràjagaha này …
 
§ IX. NGƯỜI DO THÁM
1) Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
2) Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián điệp (2) ở tại Ràjagaha này.
 
§ X. NGƯỜI PHÁN QUAN THAM NHŨNG (3) VỚI HÒN DÁI LỚN (S.ii,258)
1) Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi tôi từ núi Gijjhakùṭa bước xuống, tôi thấy một người với hòn dái đang đi giữa hư không.
2) Khi đang đi, người ấy mang hòn dái trên vai mà đi. Khi ngồi, người ấy ngồi trên những hòn dái ấy.
3) Và các con chim kên kên, chim quạ, chim ưng đuổi theo người ấy để cắn mổ, cắn xé, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
4) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một phán quan ở Ràjagaha này.
________________
(1)Xin đọc Sùto thế cho S ù cako của nguyên bản.
(2)Người nói hai lưỡi.
(3)Người ăn hối lộ lén lút nên bị đau trong căn riêng của nó.

* Trang 602 *
device

 
Kinh Tương Ưng Bộ 2013 - Tập I