LOGO VNBET
PHẬT GIÁO NƯỚC AN TỨC
VÀ NƯỚC KHƯƠNG CƯ
                                                                                                                  Vũ Khê Liễu Đế
I. PHẬT GIÁO NƯỚC AN TỨC
Năm 248, hoặc năm 250 trước Tây lịch, thời vua nước Syrian là Antiochos đời thứ hai, thủ tướng Bactria là Diodotos đời thứ nhất tạo phản, làm chủ riêng, chiếm hai bờ sông Amu Darya ngày nay. Khi kiến lập nước Đại Hạ, có tù trưởng của bộ lạc Dahae,1 một chi phái của tộc Scythia,2 tên là Arsakes cũng nổi dậy ở phía Bắc Ba-tư, chiếm lấy Parthia  rồi kiến lập quốc tại đây, sách sử Trung Quốc gọi là nước An Tức. Sử Trung Quốc gọi vương quốc Parthia là An Tức, vì vua nước ấy vốn lấy theo tên mình là Arshaka mà đặt quốc hiệu, dịch âm là A-nhĩ-tát-khắc-tư (hoặc là A-nhĩ-lạt-tạp).
Phong tục người Parthia giống với người Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay, là một chủng tộc quen cỡi ngựa bắn cung, dũng cảm, hung tợn, mạnh mẽ, cư trú ở phía Đông nam Lý Hải,3 nơi ấy so ra còn hoang vu. Nhưng dân tộc này không bị đồng hóa văn hóa Hy Lạp như người Bactria, họ thần phục lệ thuộc vua Ba-tư và vua Macedonia, vẫn chưa biến đổi tập
 

1 Bộ lạc Dahae (Daha) sinh sống trong khu vực ngay phía đông biển Caspi. Họ nói tiếng Đông Iran.
2 Tộc người Scythia (Scyth) bao gồm những người chăn thả gia súc, sống du mục, cưỡi ngựa, có nguồn gốc từ Iran, thống trị vùng thảo nguyên Hắc Hải trong suốt thời kỳ cổ đại từ khoảng thế kỷ VIII - VII trước Tl.
3 Lý Hải: Xem cht. 25, tr. 200.
 

* Trang 339 *
device

quán du mục của mình. Thời Arshaka đời thứ nhất, nước An Tức chẳng qua chỉ là vùng đất chiếm cứ thượng lưu sông Atrek. Phương Đông đất ấy bị khống chế bởi nước Đại Hạ vừa mới hưng thịnh. Phía Tây tiếp giáp biên giới vương quốc Syrian, nên khoảng vài năm sau khi độc lập, người Bactria thật sự rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, dễ dàng thấy được điều đó!
Năm 247 trước Tây lịch, thời Arshaka đời thứ hai, là lúc vua Tiridates lên ngôi, tuy chưa phát triển nhưng đến năm 237 trước Tây lịch, vua nước Syrian là Seleucus đời thứ hai đồng minh với Đại Hạ tấn công An Tức. Vua An Tức chạy sang cầu viện bộ lạc A-tư-mạt-tây-tạp, thuộc tộc Tư-khắc-điển, nhờ bộ lạc ấy trợ lực chống lại quân Syrian. Nhờ đó, cơ sở của nước An Tức độc lập, đến đây bắt đầu định hình vững chắc. Trải qua ba thế kỷ, đến thời đại vua Mithradates năm 174-136 trước Tây lịch, thế nước trở nên hưng thịnh, rồi đang lúc Đại Hạ bận rộn với việc xâm lược Ấn Độ, thừa lúc bên trong phòng ngự sơ hở, Mithradates đánh chiếm một phần nước Đại Hạ, rồi chuyển hướng đi về phía Tây. Và nhân bên trong Syrian loạn, thôn tính dần Media, Susiana, Ba-tư, Babilonia. Từ đó bản đồ nước An Tức trở nên rộng lớn, phía Đông khởi từ núi Đại Tuyết, phía Tây đến tận sông Euphrates. Theo thuyết của ông V. Smith, lãnh thổ An Tức thời này vượt qua núi Đại Tuyết và sông Ấn Độ đến tận phía Đông (V. Smith: Early History of India, 2nd. ed. P. 212).
Sau khi đại vương Mithradates chết, con là Phraates đời thứ hai (Arsakes II) lên thay, đánh nhau với Syrian, lại thắng họ, khi quay về gặp giặc xâm lăng, đánh nhau bị chết. Năm 127 trước Tây lịch, Thúc phụ vua ấy là Arthabanus lên thay, lại đánh nhau với tộc Tắc (Saka), trúng tên độc chết tại chiến trận. Năm 124 trước Tây lịch, con là Mithradates đời thứ hai

* Trang 340 *
device

lên ngôi, đánh phá tộc Tắc, bình định vùng Tây bắc. Sau đó đánh nhau với vua Armenia là Tigranes, bị mất vùng đất miền Tây. Nhưng ở phương Nam, nhà vua cực lực khuếch trương thế lực của mình, thường cử vua Ấn Độ-An Tức là Vonones và Arachosia, cùng Sīstāna thân thuộc nhà vua để cai trị vùng đất ấy trở xuống. Đến đây chủ quyền của An Tức được xác lập độc lập. Sau đó tại Taxila, chinh phục vua Ấn Độ-An Tức là Azes đời thứ nhất.
Trung Quốc biết về nước An Tức phải bắt đầu từ thời này. Năm Nguyên Sóc thứ 3, đời Hán Võ đế (năm 126 trước Tây lịch), Trương Khiên đi sứ Nguyệt Thị về, đầu tiên thuật lại sự tình nước này, như truyện Đại Uyển trong Sử ký đã ghi:
“Nước An Tức ở phía Tây Đại Nguyệt Thị, rộng đến vài ngàn dặm. Thông thường thổ dân nước ấy làm ruộng, có lúa nước, lúa mì, rượu nho. Thành ấp như Đại Uyển, có vài trăm thành lớn nhỏ, diện tích lãnh thổ vài ngàn dặm, là một nước rất lớn. Tới vùng sông Qui có thị dân buôn bán, sử dụng xe và thuyền, đi đến những nước bên cạnh, hoặc đi xa vài ngàn dặm. Lấy bạc làm tiền, tiền như là sự hiện diện của vua, vua chết liền đổi đồng tiền, sự hiện diện hiệu lực của vua là vậy. Viết chữ trên da, trên da kẻ từng hàng ngang để làm sách ghi chép.”
Sông Qui tức là sông Amu Darya (Ô-hử). Khi Trương Khiên đi sứ Tây Vực, An Tức là cường quốc rất lớn trong các nước Tây Vực. Lãnh thổ nước ấy, phía Tây đến tận sông Amu Darya. Lúc bấy giờ người An Tức đã thoát khỏi nếp sinh hoạt du mục, trở thành dân cư trú đầu tiên. Căn cứ vào việc canh tác, có thành quách, và sự dung nạp văn hoá Hy Lạp thì có thể biết được.

* Trang 341 *
device

Thời vua An Tức Mithradates đời thứ hai, tức thời Hán Võ đế, An Tức mở giao thông chính thức với Trung Quốc. Sử ký Đại Uyển truyện trình bày tình hình nước An Tức thời đó:
“Ban đầu sứ Hán đến An Tức, vua An Tức sai đem hai vạn kỵ quân nghênh đón ở biên giới phía Đông. Biên giới phía Đông cách vương đô vài ngàn dặm, gần kề nhau đến hơn vài mươi thành, mối quan hệ giữa người dân với nhau rất thân thiết. Khi Hán sứ trở về, vua cho sứ giả theo Hán sứ sang, quan sát đất Hán rộng lớn, đem trứng đại điểu (trứng đà điểu) và người giỏi làm trò quỷ thuật (thiện huyễn) ở Lê-hiên4 hiến cho Hán.”
Cuối câu văn nói “người giỏi làm trò quỷ thuật (thiện huyễn) ở Lê-hiên hiến cho Hán”, Lê-hiên tức là Rekem, chỉ cho đất Syrian, “thiện huyễn” là một từ mà Nhan Sư Cổ đời Đường chú rằng: “Thuật nuốt dao, phun lửa, trồng dưa, trồng cây, mổ người, cắt ngựa ra từng khúc, ngày nay đều là đó cả”, tức là nhà ảo thuật bây giờ.
Từ đó trở về sau khoảng hai trăm năm, tuy trải qua giai đoạn chấm dứt giao thông giữa Trung Quốc và An Tức, nhưng đến năm đầu niên hiệu Chương Hoà đời Chương Đế nhà Hậu Hán (năm 87 Tl.), An Tức sai sứ đến Trung Quốc cống hiến sư tử và con lân không sừng.5 Đến năm Vĩnh Nguyên thứ 13 (năm 101 Tl.), vua An Tức là Mãn Khuất lại hiến sư tử và chim đại điểu là đặc sản của nước Điều Chi.6 Thời ấy gọi chim đại điểu là chim Tước nước An Tức.
 

4 Lê-hiên 黎軒: Tức Đại Tần (xem cht. 131, tr. 93).
5 Hán: Bạt phù 拔符.
6 Nước Điều Chi: Xem cht. 80, tr. 212.
 

* Trang 342 *
device

Như trước đã dẫn lời thuật của truyện Đại Uyển trong Sử ký, nước An Tức là một nước hành nghề buôn bán rất thịnh, là trung tâm mậu dịch của các nước Đông, Tây. Vải vóc tơ lụa do Trung Quốc sản xuất, ngày xưa đều đi qua Ấn Độ và An Tức rồi vận chuyển vào châu Âu, rất được người Tây La-mã quý trọng. Trên phương diện thương nghiệp sử dụng giá trị vàng giống nhau, nên người La-mã cùng Trung Quốc thông sứ, thăm hỏi qua lại, ở biên giới phía Đông nước ấy và An Tức thường giao thiệp với nhau. An Tức ở giữa hai nước nên được độc quyền mối lợi mậu dịch phương Đông, có thể biết như thế. Đến khi Ban Siêu bình định được Tây Vực, làm chức Đô hộ Tây Vực, muốn bành trướng uy thế nhà Hán ở phương Tây, nên vào năm Vĩnh Nguyên thứ 9 (năm 97 Tl.), sai Cam Anh qua An Tức đi sứ Đại Tần (Syria), nhưng Cam Anh đến ngã rẽ vùng biên cảnh phía Tây nước An Tức, ở vịnh Ba-tư, thì gặp người đi thuyền trên biển An Tức nói rằng:
“Nước biển rộng lớn, người qua lại gặp gió thuận thì phải ba tháng mới qua được, nếu gặp gió ngược phải hai năm, nên người vào biển đều đem theo lương thực đủ ba năm, mà người đi trong biển phần nhiều hay nghĩ đến quê hương, nhớ tưởng đến đất nước, nên thường tử vong.”
Cuối cùng, Cam Anh chưa qua biển mà đã trở về. Vậy nước An Tức chắc chắn không chỉ là trung tâm mậu dịch của Trung-Tây, mà còn là con đường quan trọng trao đổi với nhau về tình hình các nước trong bốn phương, vì người An Tức đi buôn bán khắp bốn phương, từ việc được nghe nhiều đã tạo thành môi giới trao đổi tư tưởng. Khảo sát trong các vị Tăng dịch kinh ở các nước Tây Vực đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung thổ, số đến từ nước An Tức cũng nhiều.

* Trang 343 *
device

Nay căn cứ vào Kinh lục và Kinh truyện ghi chép, năm Kiến Hòa thứ hai, đời Hậu Hán (năm 148 Tl.), An Thế Cao từ An Tức đến Lạc Dương, chính là người trước nhất đến Trung thổ. Lại vào năm Quang Hòa thứ tư, đời Linh đế (năm 181 Tl.), ngài An Huyền đến Lạc Dương dịch kinh; năm đầu niên hiệu Chánh Nguyên nhà Ngụy (năm 254 Tl.), ngài Đàm-vô-đế (Dharmasatya) dịch Luật tạng tại chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, những vị ấy đều là người An Tức. Có người lại cho rằng, thời Minh đế nhà Hậu Hán, Tăng sĩ Phật giáo Đại Nguyệt Thị đến Trung Quốc, rồi về sau khoảng 80 năm, giao thông giữa Trung Quốc cùng Tây Vực hầu như dứt hẳn, nên Tăng đồ Phật giáo An Tức và các nước đến Trung Quốc cũng không có dấu tích gì nổi bật. Vì trên phương diện tôn giáo, khi rời khỏi bản quốc mà đi đến nước ngoài truyền đạo, nhất định có nhiều nguyên nhân: như bị giáo đồ tôn giáo khác áp bức, gặp sự ngược đãi của kẻ thống trị, hay được nước ngoài mời thăm viếng… Nếu hoàn toàn không do các nguyên nhân trên mà họ đi đến nước ngoài truyền giáo thì cũng do sự nhiệt thành cao độ của tôn giáo nước mình nên không thể không hướng đến nước khác truyền giáo.
Vậy Tăng đồ Phật giáo từ An Tức đến Trung Quốc, là rơi vào tình huống nào nói trên? Khoảng thế kỷ thứ III Tây lịch, vương triều Sassanid của Syrian khôi phục Ba-tư giáo (Zoroaster), áp bức ngược đãi ngoại giáo. Cho nên từ thế kỷ thứ III Tây lịch trở về sau, Tăng lữ Phật giáo từ nước An Tức đến Trung Quốc, có thể ở trong tình huống thứ nhất đã nêu trên. Nhưng vào thế kỷ thứ II, những vị như An Thế Cao, An Huyền… rời khỏi nước đến Trung Quốc lại không phải do tình cảnh thứ nhất. Căn cứ An Thế Cao truyện,7 Thế Cao là
 

7 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p323a24.
 

* Trang 344 *
device

thái tử của vương hậu nước An Tức; phụ vương mất, ở địa vị sắp nối dõi ngôi vua lại cảm nhận sâu sắc lý khổ, không mà chán lìa danh lợi, nhường ngôi vua cho thúc phụ của mình, xuất gia tu đạo, đi khắp các nước, lấy việc hoằng hóa Phật giáo làm nhiệm vụ của mình. Từ đó có thể biết, lúc bấy giờ vương gia nước An Tức nhất định từng được Phật giáo cảm hóa, điều này tương đương với tình huống thứ hai. Nhưng việc từ Trung Quốc đến An Tức mời thỉnh Tăng sĩ truyền đạo, tuyệt nhiên không thấy ghi chép trong sách sử, chắc chắn không ở tình huống thứ ba. Vậy không thể không quy cho tình huống thứ tư. Nói cách khác, nếu ngoại trừ việc giải thích lúc bấy giờ Phật giáo An Tức thịnh hành, nhiệt tình truyền đạo cực kỳ hưng thịnh thì không có lý do nào khác.
Vậy Phật giáo từ xứ nào truyền vào nước An Tức? Cứ theo lý mà suy thì phải trực tiếp từ nước Đại Hạ truyền vào, việc này chúng tôi đã nói ở trước. An Tức ngày xưa cùng nước Đại Hạ đều lưu hành Phật giáo với nhau, không ngừng giao thiệp về chính trị, và trên phương diện thương nghiệp, hai nước qua lại rất phồn thịnh. Từ đó Phật giáo Đại Hạ lưu thông vào nước này là xu thế tự nhiên. Vả lại, từ giữa thế kỷ thứ I trước Tây lịch trở về sau, thế lực của Đại Nguyệt Thị cũng lan xa đến cả An Tức; nước ấy lại từng xuất hiện vị chúa anh minh, lấy việc hoằng hóa Phật giáo làm nhiệm vụ của mình, thì An Tức chịu ảnh hưởng của sự truyền bá Phật giáo là điều tất nhiên.
Lại nữa, đương thời Phật giáo ở An Tức rất hưng thịnh. Còn Phật giáo thuộc bộ phái nào thì phải khảo cứu kinh điển Phật giáo từ An Tức truyền vào Trung Quốc. Trước tiên là kinh điển do An Thế Cao đến Trung Quốc dịch sớm nhất, vấn đề này trình bày như sau:

* Trang 345 *
device

Việc ghi chép trong các truyện về kinh điển của ngài An Thế Cao dịch đều không nhất trí:
Xuất tam tạng ký tập chép có 34 bộ, 40 quyển.
Lịch đại tam bảo kỷ chép có 176 bộ, 197 quyển.
Khai Nguyên thích giáo lục chép có 95 bộ, 115 quyển (trong đó 54 bộ, 59 quyển hiện còn; 41 bộ, 56 quyển đã mất).
Sau truyện của ngài An Thế Cao trong Khai Nguyên thích giáo lục8 có ghi lại rằng:
“Theo sự ghi chép của Thích Đạo An cũng như Xuất tam tạng ký của Tăng Hựu, Cao tăng truyện của Tuệ Kiểu v.v… thì chỉ nói rằng ngài Cao dịch 39 bộ, sách sao lục của Phí Trường Phòng chép là 176 bộ. Nay xem lại việc ghi chép của Phí Trường Phòng phần nhiều là phát sinh thêm từ các bộ lớn mà ra, chưa thể cho là số kinh chính xác đã phiên dịch. Nay theo thứ lớp mà san định lại”.
Ngoài ra còn có thuyết9 85 bộ, 85 quyển, ghi rằng:
“Ghi chép của Trường Phòng v.v… đều nói An Thế Cao dịch ra. Nay căn cứ vào năm thứ 2, niên hiệu Khai Hoàng, và niên hiệu Nhân Thọ đời Tuỳ, trong Chúng kinh lục và Tân kiểm xuất biệt sanh sao kinh (kiểm tra mới những kinh phát sanh chép khác)… , thì những kinh này đều từ những kinh khác phát sanh thêm, hoặc chẳng phải An Thế Cao dịch ra, hoặc không tập hợp đủ số phiên dịch, nay được sự ghi chép thực nên tổng san định lại.”
Vậy, lấy việc truyền lại trong Khai Nguyên thích giáo lục là chính xác nhất, nay theo sách đó.
 

8 Khai Nguyên thích giáo lục 1, T55n2154_p481c12.
9 Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục 2, T55n2157_p779b23.
 

* Trang 346 *
device

Trước tiên nêu những kinh của ngài dịch thuộc bộ Đại thừa:
Kinh Đại thừa phương đẳng yếu tuệ (đồng bản với Bảo tích - Di-lặc đồng bát pháp hội), 1 quyển.
Kinh Bảo tích tam-muội Văn-thù vấn pháp thân (đồng bản với Bảo tích  - Vô lượng thọ hội), 2 quyển.
Kinh Như huyễn tam-muội (đồng bản với Bảo tích - Thiện trụ cảnh hội v.v….), 2 quyển.
Kinh Dược Vương, Dược Thượng bồ-tát quán, 1 quyển.
Kinh Phật ấn tam-muội, 1 quyển.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội, 1 quyển.
Kinh Đại đạo địa, 1 quyển.
Kinh Thái tử mộ hồn, 1 quyển.
Kinh Tứ bất khả đắc, 1 quyển.
Kinh Bát đại nhân giác, 1 quyển.
Kinh Đại an-ban thủ ý, 1 quyển.
Trong đó kinh Thủ ý, xếp ở cuối này là lưu hành nhất. Ngài Đạo An từng chú thích kinh này và viết bài tựa. Ngài Khương Tăng Hội và Tạ Phu v.v… cũng viết bài tựa cho kinh đó (nay xếp trong Xuất tam tạng ký tập quyển 6). Kinh này trong Kinh tạng tuy biên tập vào Tiểu thừa kinh bộ, nhưng toàn bộ kinh văn ấy thật sự hàm chứa tư tưởng “Không quán” của Đại thừa, nên phải xếp vào Đại thừa kinh bộ.
Ngoài những kinh này, còn có những kinh liên quan đến Thiền tông như:
Kinh Ngũ môn thiền pháp, 1 quyển.
Kinh Thiền định phương tiện thứ đệ pháp, 1 quyển.
Kinh Thiền, 1 quyển.
Kinh Thiền hành tam thập thất phẩm, 1 quyển.
Kinh Thiền hành pháp tưởng, 1 quyển v.v…

* Trang 347 *
device

Hai quyển kinh sau cùng đã lạc mất, nội dung kinh ấy như thế nào không thể biết được. Nhưng số kinh hiện còn đều là những thiên ngắn, xét theo nội dung của chúng có thể nhận định là tư tưởng của Đại thừa giáo, vì có một không hai.
Kinh thuộc về Tiểu thừa bộ thì đại bộ phận là những bản dịch khác thuộc trong bốn bộ A-hàm. Trước tiên nêu những kinh thuộc về Trường A-hàm:
Kinh Thập báo pháp (kinh Đa tăng đạo chương, kinh Thập báo), 1 quyển, dịch khác của Trường A-hàm quyển 9.
Kinh Nhân bản dục sinh, 1 quyển, dịch khác của Trường A-hàm quyển 10.
Kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái, 1 quyển, dịch khác của Trường A-hàm quyển 11.
Những kinh khác:
Kinh Đạo ý phát hạnh, 2 quyển (hoặc 1 quyển).
Kinh Tiểu thập nhị môn, 2 quyển.
Kinh Thất pháp (kinh A-tỳ-đàm thất pháp hạnh), 1 quyển.
Kinh Nghĩa thứ luật (kinh Nghĩa quyết luật hạnh), 1 quyển.
Kinh thuộc về Trung A-hàm:
Kinh Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 2.
Kinh Tứ đế, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 7.
Kinh Bản tướng ỷ trí, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 10.
Kinh Thị pháp phi pháp, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 21.
Kinh Lậu phân bố, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 27.

* Trang 348 *
device

Kinh Bà-la-môn tử mạng chung ái niệm bất ly, 1 quyển, và kinh Thập chi cư sĩ bát thành nhân, 1 quyển, dịch khác của Trung A-hàm quyển 60.
Những kinh khác nữa:
Kinh Phổ pháp nghĩa (kinh Phổ nghĩa, kinh Cụ pháp hạnh) 1 quyển.
Kinh Phụ mẫu ân nan báo, 1 quyển.
Những kinh thuộc về Tăng nhất A-hàm:
Kinh Bà-la-môn tị tử, 1 quyển, dịch khác của Tăng nhất A-hàm quyển 23.
Kinh A-na-bân-để hóa thất tử, 1 quyển, dịch khác của Tăng nhất A-hàm quyển 49.
Những kinh khác:
Kinh A-nan đồng học, 1 quyển.
Kinh Tứ thập tứ thiên (Tạp kinh), 2 quyển.
Kinh Bách lục thập phẩm (kinh Tăng nhất A-hàm bách lục thập chương), 1 quyển.
Kinh thuộc về Tạp A-hàm:
Kinh Thất xứ tam quán (kinh Thủ mạt tổng tam thập), 1 quyển (hoặc 2 quyển), dịch khác của Tạp A-hàm quyển 2.
Kinh Ngũ ấm thí dụ, 1 quyển, dịch khác của Tạp A-hàm quyển 10.
Kinh Chuyển pháp luân, 1 quyển, dịch khác của Tạp A-hàm quyển 15.
Kinh Bát chánh đạo, 1 quyển, dịch khác của Tạp A-hàm quyển 28.
Ngoài những kinh này, một số kinh do ngài An Thế Cao dịch có:

* Trang 349 *
device

Kinh Nội tạng (Viên tạng bách phẩm), 1 quyển.
Kinh Tu hạnh đạo địa (kinh Thuận đạo hạnh), 7 quyển (hoặc 6 quyển).
Kinh Tư duy yếu lược, 1 quyển.
Kinh Pháp cú, 4 quyển.
Kinh Tiểu bát-nê-hoàn (Kinh Bát-nê-hoàn hậu chư tỳ-kheo, Nê-hoàn hậu biến ký, Nê-hoàn hậu tỳ-kheo thế biến, Phật bát-nê-hoàn hậu tỳ-kheo thế biến), 1 quyển.  
Kinh Không Tịnh Thiên cảm ứng tam-muội (kinh Không tịnh tam-muội), 1 quyển.
Kinh Phân biệt thiện ác sở khởi, 1 quyển.
Kinh Xuất gia công đức nhân duyên, 1 quyển.
Kinh Ma-đặng (đăng) nữ,10 1 quyển.
Kinh Kiên ý, 1 quyển.
Kinh Mạ ý, 1 quyển.
Kinh Xứ xứ, 1 quyển.
Kinh Ấm trì nhập, 2 quyển v.v…
Kinh Ấm trì nhập, ngài Đạo An có làm bài tựa, hiện nay thấy trong Xuất tam tạng ký tập quyển 6.
Ngài Đạo An lại viết tựa cho kinh Nhân bản dục sinh (trong Xuất tam tạng ký tập quyển 6), dịch khác của Trường A-hàm quyển 10.
Những kinh do ngài An Thế Cao dịch, thấy trong Tạng kinh hiện còn có:
 

10 Kinh Ma-đặng(đăng) nữ 摩鄧(登)女經, còn gọi là kinh A-nan vị cổ đạo nữ (T14n551, p895).
 

* Trang 350 *
device

Kinh Kiền-đà-la vương.
Kinh A-hàm chánh hạnh.
Kinh Thập bát Nê-lê (kinh Tội nghiệp ứng báo giáo hóa địa ngục).
Kinh Pháp thọ trần.
Kinh Trưởng giả tử áo não tam xứ.
Mỗi kinh trên đều 1 quyển, hiện nay vẫn còn. Tên những kinh này trong Cổ kinh lục không ghi. Nội dung của chúng e rằng cùng với những kinh nêu ở trước phần nhiều đồng bản dịch mà khác tên, chưa thể biết được.
Xưa nay, nói đến kinh điển truyền đạo đầu tiên nhất trên lịch sử Phật giáo Trung Quốc là những kinh phiên dịch của ngài Ma-đằng, Pháp Lan được nêu tên như đã thuật ở trước, nhưng có rất nhiều điểm khả nghi. Giả như trong vấn đề ấy hàm chứa ít nhiều sự thật chính xác, và tuy vài bộ kinh điển do các vị đó dịch thuật có khai phá cho nền Phật giáo Trung Quốc, nhưng chắc chắn vẫn không ảnh hưởng trọng đại gì. Sau đó, trải qua 80 năm, ngài An Thế Cao mới bắt đầu dịch ra bộ Bảo tích, bộ A-hàm và những kinh điển Đại, Tiểu thừa được ngài Đạo An chú thích, ngài Khương Tăng Hội và ngài Tạ Phu viết đề tựa cho những kinh ấy. Từ đó có thể thấy, trên sự phát triển của Phật giáo ở Trung Quốc, những kinh điển do ngài An Thế Cao dịch cũng có uy lực. Cho nên nói ngài An Thế Cao là người khai phá đầu tiên cho nền Phật giáo Trung Quốc thì không có gì là không được.
Trong bài tựa sách Sa-di thập tuệ chương cú, ngài Nghiêm Phật Điều từng tán thán công trạng sự nghiệp của ngài An Thế Cao: “Có vị Bồ-tát xuất hiện từ An Tức đó là ngài An Thế Cao tài trí, rộng xét điển xưa, không kinh gì chẳng tóm thâu, xót thương kẻ tục ngây ngô, thị hiện cây cầu

* Trang 351 *
device

nối, do đó nơi đất Hán ngài diễn bày Phật giáo, ngài thường thuyết hàng trăm vạn lời, hoặc giải thích bằng miệng, hoặc truyền bằng văn”,11 có thể tin lời nói này.
Lại nữa, năm Quang Hòa thứ 4 (năm 181 Tl.), Ưu-bà-tắc An Huyền cùng Sa-môn Nghiêm Phật Điều (Lịch đại tam bảo kỷ cho là Thanh tín sĩ, lầm) dịch kinh Pháp cảnh (đồng bản với Bảo tích - Úc-già trưởng giả hội) 2 quyển (hoặc 1 quyển). Ngài Khương Tăng Hội từng chú thích kinh đó. Ngoài kinh này, ngài An Huyền còn dịch kinh A-hàm khẩu giải thập nhị nhân duyên (hay gọi kinh Đoạn thập nhị nhân duyên kinh, A-hàm khẩu giải) 1 quyển, hiện nay vẫn còn.
Sa-môn Nghiêm Phật Điều là người quận Lâm Hoài (huyện Vu Đài phủ Từ Châu, tỉnh An Huy ngày nay), ngài thường gần gũi với An Huyền nên những kinh điển do ngài dịch có thể là do An Huyền tra cứu giúp. Do đó, chủng loại kinh điển do ngài dịch hầu như là cùng bộ cùng loại với kinh điển của ngài An Thế Cao, An Huyền dịch. Vậy thuộc về bộ Phương đẳng thì có:
Kinh Bồ-tát nội tập lục ba-la-mật (kinh Nội lục ba-la-mật), 1 quyển.
Kinh Nhu Thủ bồ-tát vô thượng thanh tịnh phân vệ (kinh Quyết liễu chư pháp như huyễn tam-muội), 2 quyển (hoặc 1 quyển), đồng bản với Đại Bát-nhã Na-già bảo lợi phân.
Kinh Cổ Duy-ma-cật, 2 quyển.
Theo Lịch đại tam bảo kỷ thì ngoài những kinh này ra, còn cho rằng kinh Ca-diếp cật A-nan12 là do ngài dịch.
 

11 Xuất tam tạng ký tập 10, T55n2145_p69c25.
12 Lịch đại tam bảo kỷ 4, T49n2034, p54a.
 

* Trang 352 *
device

Nhưng căn cứ theo Khai Nguyên thích giáo lục nói là thuộc bản sao của các kinh, không phải chính ngài dịch.
Lại năm đầu niên hiệu Chánh Nguyên, đời Ngụy (năm 254 Tl.), Sa-môn Đàm-đế đến Lạc Dương, ở chùa Bạch Mã dịch Đàm-vô-đức yết-ma, 1 quyển. Ngài cũng là người nước An Tức, làu thông Luật tạng.
Sau cùng là Sa-môn An Pháp Khâm cũng là người An Tức. Khoảng từ năm thứ 2 niên hiệu Thái Nguyên, đời Võ đế (năm 281 Tl.), đến năm đầu niên hiệu Quang Hi thời Huệ đế nhà Tây Tấn (năm 306 Tl.), ngài đến Trung thổ dịch năm bộ kinh: kinh Đạo thần túc vô cực biến hoá (kinh Hợp đạo thần túc kinh) 4 quyển (3 quyển), kinh Văn-thù Sư-lợi hiện bảo tạng (Thị hiện bảo tạng) 2 quyển (3 quyển), A-dục vương truyện (kinh Đại A-dục vương) 7 quyển (5 quyển), kinh A-xà-thế vương 2 quyển, kinh A-nan mục pháp 1 quyển.
Ngoài ra, thời Ngụy, Sa-môn An Pháp Hiền đến Trung thổ, Kinh lục ghi ngài là người Tây Vực, hoặc là Sa-môn ngoại quốc, song xét việc ngài lấy chữ “An” đặt ở đầu tên mình, thì đại thể cũng có quan hệ với nước An Tức. Kinh ngài Pháp Hiền dịch có: Kinh La-ma-già trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, 3 quyển; kinh Đại Bát-niết-bàn, 2 quyển. Cả hai đều lạc mất. Nhưng nay nếu quyết đoán nói những kinh điển này trực tiếp do người An Tức mang đến thì hơi vội vàng, bởi vì không có căn cứ xác thật.
Tóm lại, đương thời Phật giáo đã lưu hành ở An Tức, nếu cho rằng những kinh điển đó lưu hành hỗn tạp cả Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo thì chắc chắn đúng.
Kinh điển chủ yếu của Đại thừa giáo đại đa số thuộc về bộ Phương đẳng, kinh điển của bộ Hoa nghiêm so ra ít hơn, có thể biết Phật giáo An Tức và Đại Nguyệt Thị hầu như

* Trang 353 *
device

cùng một hệ thống là rõ ràng, như Luật tạng lưu hành ở An Tức khớp với luật của Đàm-vô-đức bộ (Dharmaguptaka - Pháp tạng bộ), tức là Tứ phần luật trong Phật điển Đại Nguyệt Thị.
Vào thời Tiền Hán, thế nước An Tức rất thịnh, đến thế kỷ thứ III thì suy yếu, thanh uy mất hết, đất đai cả nước bị chư hầu chia cắt, công phạt lẫn nhau. Năm 224, hoặc 227 Tây lịch, tổ của vương triều Sassanid là Ardashīr tấn công vua An Tức là Arthabanus, An Tức bị diệt vong. Nhưng theo sự ghi chép trong Chính sử Trung Quốc, thì thời Tam Quốc, An Tức hình như vẫn giữ được nền độc lập của mình. Ngụy chí (quyển 30) nói rằng:
“Đại Uyển, An Tức, Điều Chi, Ô Dặc (Ô Dặc còn một tên nữa là Bài Trì) bốn nước này theo thứ lớp ở về phía Tây, số nước không thêm bớt. Đời trước cho là Điều Chi ở tại phía Tây Đại Tần, nay kỳ thật ở phía Đông, đời trước lại lầm cho là chống lại An Tức, nay lại nô dịch họ, gọi là An Tức Tây Giới… Nước Đại Tần, một hiệu khác là Lê-hiên tại An Tức, phía Tây Điều Chi, phía Tây biển lớn, từ thành An Cốc biên giới An Tức - ngồi thuyền thẳng đến phía Tây biển.”
Truyện Tây Vực trong Ngụy thư ghi:
“Nước An Tức ở phía Tây Thông Lĩnh, đóng đô tại thành Úy Sưu, phía bắc tiếp giáp với Khương Cư, phía Tây tiếp giáp với Ba-tư, ở Tây bắc Đại Nguyệt Thị, cách chừng 21.500 dặm.”
Năm thứ 2 niên hiệu Thiên Hòa thời (Bắc) Châu (Võ đế), vua nước ấy sai sứ triều hiến. Năm thứ 2 niên hiệu Thiên Hòa thời Châu, tức là năm 567 Tây lịch, lúc bấy giờ vương triều Arsakes hình như vẫn còn ngôi vua.

* Trang 354 *
device

Nhưng sách trên lại nói: “Nước Mục đóng đô phía Tây sông Ô-hử, cũng là đất cũ của An Tức”, lại ghi tiếp: “Nước Ô-bát-hạt đóng đô ở phía Tây sông Ô-hử, đất An Tức xưa. Vậy từ khi vương triều Tát-san (Sassanid) Ba-tư hưng khởi, thế lực nước An Tức xa đến tận vùng đất phía Đông sông A-mẫu. Lãnh địa ở phía Tây sông hình như tiêu tan hoàn toàn”. Và truyện Tây Vực, mục nước Áp-đạt trong Châu thư13 quyển 50 nói rằng: “Người nước ấy hung hãn, giỏi chiến đấu, Vu-điền, An Tức v.v… hơn 20 nước lớn nhỏ đều thuần phục họ”. Xem đây thì thời đại tộc Áp-đạt hưng khởi phải vào thế kỷ thứ V Tây lịch, mà An Tức vẫn bảo trì được hình thái quốc gia của họ, chẳng qua là nô dịch lệ thuộc với Áp-đạt thôi.
Vậy từ khi triều đại Sassanids hưng khởi trở về sau, căn cứ địa nước An Tức nằm ở đâu? Truyện Tây Vực trong Tùy thư (quyển 83) nói:
“An quốc thời Hán là nước An Tức. Họ vua là Chiêu Vũ, cùng chủng tộc với vua nước Khương, tự là Thiết-lực-đăng, vợ là con gái vua nước Khương, đô thành ở phía Nam sông Na-mật.”
Truyện Tây Vực trong Đường thư (quyển 221) nói: “‘An’, một gọi là Bố-khoát, hai gọi là Bổ-hát”.
Sông Na-mật, nay là sông Zarafshan, Bố-khoát hay Bổ-hát tức là dịch âm của Bokhara. Căn cứ theo đây thì biết, từ năm 224 Tây lịch, hoặc năm 227 Tây lịch trở về sau, người An Tức đã di dời đến đất phía Đông sông Amu Darya, phía Nam sông Zarafshan, lấy Bokhara làm trung tâm kiến quốc vào thời Lục Triều. Vận mạch nước ấy như sợi dây gai chưa
 

13 Châu thư: Xem cht. 21, tr. 200.
 

* Trang 355 *
device

tuyệt hẳn, đến thời Tùy mới hoàn toàn diệt vong. Ông Bạch Điểu Khố Cát cho rằng vị trí An Tức thời Hán và An Tức thời Nam Bắc Triều hoàn toàn khác biệt. Người nước An Tức được ghi trong Tăng truyện từ đời Lương trở về sau, bản thân của nước ấy chẳng phải là An Tức của thời Hán, còn nước An Tức của thời Nam Bắc triều, Tùy, và Đường thì không thể khảo sát.
Đến khoảng giữa thế kỷ thứ II Tây lịch trở về sau, quê hương của các vị Đàm-vô-đế, An Pháp Hiền, An Pháp Khâm đến Trung thổ tự nhận là An Tức của thời Nam Bắc Triều. Tuy nhiên, thời kỳ giữa và thời kỳ sau thế kỷ thứ II Tây lịch, nước gốc của ngài An Thế Cao và ngài An Huyền đến Trung thổ hình như là nước An Tức của thời Hán, tức là nơi mà Hậu Hán thư gọi là thành Hòa Đàm — đại khái tức là Asterābād ngày nay — là trung tâm nước ấy, phía Đông tiếp giáp với Ba-tư.
Đến thời ngài Huyền Trang, thế lực Hỏa yêu giáo (Zoroastrianism) của Ba-tư rất thịnh, ngài Huyền Trang gọi tôn giáo đó là ngoại đạo Đề-na-bạt (Dinapati).14 Trong phạm vi thế lực của tôn giáo ấy, Phật giáo Tiểu thừa Hữu bộ vẫn còn lưu hành, nhưng chẳng qua chỉ có vài trăm Tăng đồ mà thôi. Tương truyền vương cung đất này có cất giữ bình bát của Phật, qua đó có thể thấy được vùng đất ấy thuở xưa tình hình Phật giáo rất hưng thịnh. Nên ngài An Thế Cao, ngài An Huyền v.v… du hóa ở Trung Quốc thời Hán có thể đoán chắc là người của vùng đất đó, nghĩ không lầm lẫn lắm.
Tuy nhiên, thời kỳ người An Tức di cư đến sông Amu Darya trở về phía Đông, Phật giáo bắt đầu thịnh hành lúc nào,
 

14 Dinapati là từ Phạn, nghĩa là mặt trời.
 

* Trang 356 *
device

 
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực