LOGO VNBET
TỤNG PHẨM THỨ HAI

1. – Rồi đức Thế Tôn gọi Đại đức Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigama”. “ Xin vâng, bạch đức Thế Tôn”, Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigama. Tại đây, đức Thế Tôn ở tại Kotigama.
 
                                      Bốn sự thật

 
2. – Đức Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
“ Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh Đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các ngươi. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ diệt Thánh đế ..., Khổ tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu
 

* Trang 39 *
device

năm, Ta và các ngươi. Này các Tỷ-kheo, khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ diệt đạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống khác được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa”.
          3. – Đức Thế Tôn thuyết như vậy. Đức Thiện Thệ lại nói thêm:
          “ Chính vì không thấy như thật bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời.
          Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt.
          Khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa”.
          4. – Trong thời gian đức Thế Tôn ở tại Kotigama, Pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Địng cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.

* Trang 40 *
device

5. – Đức Thê Tôn, sau khi ở Kotigam, cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Đại đức Ananda: “ Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika”.
          - “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda đáp đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nadika. Đức Thế Tôn trú ở Nadika, tại ngôi nhà gạch.

                                      Quả chứng tu hành

          6. – Rồi Đại đức Ananda đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:
          “ Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Satha mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo-ni Nanda mệnh chung tại Nadika đã được sanh như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nadika, đã được sanh vào cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Suyata mệnh chung tại Nadika, đã được sanh vào cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nadika, đã được sanh vào cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kalinga... Bạch Thế Tôn, cư sĩ

* Trang 41 *
device

Nikata... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Katissabha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuttha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Bhadda... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nadika và được sanh vào cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?
          7. – “Này Ananda, Tỷ-kheo Satha diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng đạo đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo-ni Nanda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda, nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác. Này Ananda, cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Kalinga... Này Ananda cư sĩ Nikata... Này Ananda, cư sĩ Bhadda... Này Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Này
 
 

* Trang 42 *
device

Ananda, hơn 50 cư sĩ mệnh chung tại Nadika, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn 90 tín nam cư sĩ mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến chánh giác”.

Gương Chánh pháp

          8. – “ Này Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải có mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời, này Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy Ta sẽ giảng Pháp kính (Gương Chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta sẽ chứng quả Dự-lưu, nhất định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác”.
          9. – Này Ananda, Pháp kính ấy là gì Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn

* Trang 43 *
device

sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác”. Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điệu ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với Chánh pháp: “Chánh pháp được đức Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, đưa đến giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn tinh tấn tu hành, chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn chân thực tu hành, chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đời tám vị. Chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời. Chúng Tăng đệ tử đức Thế Tôn cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi thế tình hướng dẫn đến thiền định”.

* Trang 44 *
device

“Này Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta sẽ chứng quả Dự lưu nhất định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác”.
          10. – Khi đức Thế Tôn ở tại Nadika, Pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ,... tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.
          11. – Rồi đức Thế Tôn, sau khi ở Nadika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Đại đức Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesali”.
          - “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn.
          Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-khep đi đến Vesali. Ở đây, đức Thế Tôn trú tại vườn Ambapali ở Vesali.

Chánh niệm, giác tỉnh

          12. – Đức Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, các ngươi phải sống an trú chánh niệm giác tỉnh. Đó là lời dạy của Ta cho các ngươi”.

* Trang 45 *
device

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với thân quán thân, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các quán pháp, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm”.
          13. – “Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo giác tỉnh? Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo giác tỉnh khi đi tới, đi lui, giác tỉnh khi ngó tới, ngó lui, giác tỉnh khi co tay, duỗi tay, giác tỉnh khi mang áo Shanghati (Tăng-già-lê) mang bát, mang y, giác tỉnh, khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, giác tỉnh khi đại tiện tiểu tiện, giác tỉnh khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy vị Tỷ-kheo sống giác tỉnh. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm, giác tỉnh. Đó là lời dạy của Ta cho các ngươi”.

Ambapali và các công tử Licchavi

          14. – Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali được nghe: “Đức Thế Tôn đã đến Vesali và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapali liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cỗ xe thù

* Trang 46 *
device

thắng xuất phát ra khỏi Vesali và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn. Khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapali đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
          Dâm nữ Ambapali sau khi được đức Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch đức Thế Tôn:
          - “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo”.
          Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được biết đức Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về Ngài và từ biệt.
          15. – Các thanh niên Licchavi ở Vesali được nghe: “Đức Thế Tôn đến Vesali hiện ở vườn Ambapali”. Các thanh niên Licchavi liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesali với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh: màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng: màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức

* Trang 47 *
device

màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ: màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng: màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.
          16. – Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali đánh xe Vassakara chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các vị Licchavi nói với dâm nữ Ambapali:
          - “Này Ambapali, tại sao nàng lại đánh xe Vassakara chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe”.
 “Này quý công tử của tôi, tôi vừa mới mời đức Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm”.
          “Này Ambapali, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một tram ngàn”.
          “Dầu quý công tử có cho tôi cả thành Vesali cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này”.
          Các thanh niên Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:
 

* Trang 48 *
device

“Chúng ta bị cô thiếu nữ vườn xoài này đả thắng, chúng ta bị cô thiếu nữ vườn xoài này phổng tay trên”.
          Và các thanh niên Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapali.
          17. – Đức Thế Tôn thấy các vị Licchavi từ xa đi đến liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo, chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.
          18. – Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ đức Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi xuống một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
          Các vị Licchavi sau khi được đức Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch đức Thế Tôn:
- “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo”.
“Này các Licchavi, ngày mai Ta nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapali rồi”.
 
 
 

* Trang 49 *
device

Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ vườn xoài này đả thắng, chúng ta bị cô thiếu nữ vườn xoài này phổng tay trên”.
Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt”.
19. – Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm rồi cho báo tin đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Đức Thế Tôn, buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapali, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapali tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Khi đức Thế Tôn dùng xong, tay rời khỏi bát, dâm nữ Ambapali lấy một chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapali bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu”.
 

* Trang 50 *
device

Đức Thế Tôn nhận lãnh ngôi vườn. Rồi đức Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapali, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy, đi về.
20. – Trong thời gian đức Thế Tôn ở Vesali, tại vườn Ambapali, Pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.
21. – Rồi đức Thế Tôn, sau khi ở Vesali cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Đại đức Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Beluva”.
- “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Beluva. Và đức Thế Tôn trú tại làng này.

Đức Thế Tôn nhuốm bịnh

22. – Đức Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo hãy an cư mùa mưa xung quanh Vesali,
 

* Trang 51 *
device

tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư tại đây, làng Beluva”.
          “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Những vị Tỷ-kheo này vâng đáp đức Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesali, tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn đức Thế Tôn an cư tại làng Beluva.
23. – Trong khi đức Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng đức Thế Tôn giữ chánh niệm, giác tỉnh, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán.
Đức Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”.
Và đức Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy, duy trì mạng căn và tiếp tục sống.
24. – Rồi đức Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật ra khỏi tịnh xá và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ Đại đức Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
 
 

* Trang 52 *
device

Sau khi ngồi xuống một bên, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, con được thấy đức Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy đức Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con có được một chút an ủi rằng, đức Thế Tôn sẽ không diệt độ nếu Ngài chưa có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo”.
25. “Này Ananda, chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các pháp, đức Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một chút ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo” hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời, này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo” hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời, này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng
 
 

* Trang 53 *
device

thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thằng chằng chịt; cũng vậy, thân đức Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không suy niệm đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
          26. – “Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác?”
          “Này Ananda, ở đời vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp quán pháp, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là
 

* Trang 54 *
device

ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
“ Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác, những vị ấy, thời này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”.
 
 
 
 

* Trang 55 *
device

 
Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật