LOGO VNBET


TINH TẤN BA-LA-MẬT  VÀ
NHẪN NHỤC BA-LA-MẬT
 
Con đường “Bồ-tát đạo” dài thăm thẳm nghìn trùng, lại lắm cạm bẫy chông gai, khó khăn cực nhọc, nếu không mang giày tinh tấn, mặc áo giáp nhẫn nhục thì hành giả không thể đến bờ giải thoát, giác ngộ.
A. TINH TẤN BA-LA-MẬT
I. Giới Thiệu
Kinh Pháp Cú dạy:                               
Tuổi trẻ không tu,  
Cũng không kiếm của
Nên khi về già,
Thì như cung gãy
Chỉ còn than thở
Những ngày đã qua
Thật vậy, ở ngoài đời cũng như ở trong đạo, muốn có một cuộc sống an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, chúng ta phải nổ lực siêng năng làm những việc đáng làm, quyết tâm vượt khó, không nản chí ngã lòng khi gặp trở ngại khó khăn. Ngược lại, nếu chúng ta sống với thái độ hững hờ, qua ngày đoạn tháng, làm việc với tinh thần “vui làm buồn chơi”,

* Trang 81 *
device

“thuận làm nghịch bỏ” thì kiếp sống ta sẽ kéo lê thê trong những ngày khổ đau túng quẫn về tinh thần lẫn vật chất. Do đó, bí quyết để mang lại hạnh phúc an lạc cho mình không gì hơn là tu tập tinh tấn Ba-la-mật.
II. Nội Dung
1. Định nghĩa
Tinh tấn, tức là cố gắng không dừng nghỉ để mau mau đạt được quả vị tối thượng trong việc tu hành. Tinh: có nghĩa là tinh thuần. Tấn: là đi tới. Tinh tấn là cố gắng không ngừng, luôn nỗ lực để tiến tới cảnh giới tinh tuần, tức bản thể thanh tịnh.
2. Phân tích
Nội dung của Tinh tấn Ba-la-mật chính là chánh tinh tấn, tứ chánh cần, tấn căn, tấn lực, tinh tấn giác chi. Do đó, tinh tấn luôn đi chúng với chánh kiến và hoạt động theo bốn hướng:
a. Tinh tấn ngăn các điều ác chưa sanh: nghĩa là những điều ác từ trước đến giờ mình chưa làm, thì từ đây trở về sau cũng phải tinh tấn giữ gìn đừng cho nó phát sinh.
b. Tinh tẤn Đoạn trừ các điều ác đã sanh: nghĩa là từ trước đến nay những điều ác mà mình lỡ làm thì phải tinh tấn diệt trừ cho hết.
 

* Trang 82 *
device

c. Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh: nghĩa là từ trước đến nay  có những điều lành chưa thực hiện được, thì nay ta phải tinh tấn thực hiện cho bằng được.
d. Tinh tấn làm cho các điều lành tăng trưởng: nghĩa là các điều lành đã phát sinh rồi, nay ta phải tinh tấn làm cho nó tăng trưởng hơn nữa.
3. Tinh tấn đúng pháp
Cũng như bố thí và trì giới, tinh tấn có hai loại:
a. Tinh tấn chấp tướng: Là thái độ bề ngoài, trước mặt thiên hạ làm ra vẻ  siêng năng, cần mẫn để được tiếng thơm, nhưng khi vắng bóng người lại lười biếng, giải đãi. Hoặc bị thúc đẩy, la rầy hay vì hiếu thắng mới chịu tu tập. Tinh tấn với dụng tâm vì danh lợi, vì sợ hãi, vì kêu căng như thế hoàn toàn trái nghĩa với tinh tấn Ba-la-mật.
b. Tinh tấn không chấp tướng: Là siêng năng tận tụy, chân thành không vì dục vọng mà vì mong cầu sửa đổi tâm tính mình, đạt đến chỗ tận thiện, tận mỹ để giải thoát cho mình và cho tất cả. Là tích cực chiến đấu với giặc nội tâm và ngoại cảnh. Đối với giặc nội tâm hành giả tích cực xoay vọng thức trở lại bản tâm thanh tịnh, không cho rong ruổi theo sáu trần.

* Trang 83 *
device

Tinh tấn giữ tâm thanh tịnh không khởi vọng niệm. Đối với giặc ngoại cảnh hành giả luôn luôn đề phòng xa lánh những cạm bẩy danh lợi tài của, vật thực, sắc dục và quyết tâm đi đến mục đích đã vạch sẵn. Là tích cực hoặc động thuận theo bản tánh chân như, không thấy có pháp tu, không thấy có quả đắc, không cần phải cố gắng hay gượng làm mà vẫn thành công mỹ mãn, hành động tự nhiên như trái đất tự nhiên xoay, mặt trời tự nhiên toả ánh sáng.
4. Công đức của tinh tấn
Tinh tấn là điều kiện cần và đủ để mọi người khiến ước mơ, nguyện vọng trở thành hiện thực. Đối với sự nghiệp vĩ đại ở đời, tinh tấn là yếu tố cần thiết không thể thiếu được. Để nêu lên tầm quan trọng của tinh tấn, các bậc danh nhân Âu, Á đã thốt lên những lời nói bất hủ: “Có những người không dám cất bước vì sợ gãy chân, nhưng nếu vì sợ gãy chân mà không dám cất bước thì có khác gì người gãy chân”; hay: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, dời núi và lấp bể, quyết chí ắt làm nên”; hoặc “Ở đời không có việc gì khó chỉ bởi ở lòng mình không chuyên cần”.
Đối với Đạo quả giải thoát giác ngộ, thì tinh tấn là sức mạnh của tu tập giải thoát, nó là đức tính cần yếu nhất để thành tựu mọi hạnh lành, mọi đức tính khác. Hạnh tinh tấn được đức Phật đề cao với hàng đệ

* Trang 84 *
device

tử qua những lần nhắc nhủ: “Hỡi các con! Hãy tinh tấn lên để giải thoát”; “Như sông Hằng chảy xuôi về phương Đông, tinh tấn được tu tập sung mãn, xuôi về Niết-bàn”; “Tinh tấn đưa đến cõi bất tử, buông lung đưa đến cõi tử vong, người tinh tấn thì không chết, kẻ buông lung thì sống như thây ma”. Trong cuộc sống đồng áng ruộng vườn của dân dã Việt Nam, ông cha ta từ ngàn xưa đã đề cao hạnh tinh tấn qua những lời nói mộc mạc chấc phát, đầy ý nghĩa như: “Có công mài sắt có ngày nên kim”; “Trăm hay không bằng tay quen”; “Cần cù bù thông minh”… Qua trên, xét theo mặt đời, tinh tấn là điều kiện tất yếu để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Xét theo mặt Đạo, tinh tấn là điều kiện tiên quyết và nòng cốt  để đoạn tận các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, chứng đắc các Thánh quả, sau cùng chứng đắc Phật quả.
B. NHẪN NHỤC BA-LA-MẬT
I. Giới Thiệu
Mọi hành động ý tưởng của con người phàm trần như chúng ta, luôn luôn có hai khuynh hướng: hoặc là tiến lên thánh triết, hoặc là thuận theo phàm tình thấp kém, thường được xuất phát từ vùng tâm lý rất nhạy bén và nguy hiểm như sân hận, đam mê. Tai hại của tâm lý sân hận, giận giữ thật là vô cùng vô tận. Đối với tự thân, sân hận biến đổi con người từ hiền lành thành hung ác, hỗn láo, từ người trì giới trở thành kẻ phá giới,

* Trang 85 *
device

từ giàu sang phú quý trở thành nghèo khổ, bần cùng. Đối với gia đình, xã hội, sân hận là nguyên nhân trực tiếp đưa tới cảnh nhà tan cửa nát, vợ chồng cha con chia lìa, tan gia bại sản, oán thù chồng chất, phá làng quậy xóm. Chính vì thế mà Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Một niệm sân hận nổi lên, thì trăm ngàn muôn ức cửa nghiệp chướng mở ra”. Để đối trị lòng sân hận âm ỉ trong con người, đức Phật dạy không gì bằng tu hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật.
II. Nội Dung
1. Định nghĩa
Nhẫn nhục, tiếng Phạn là Khanti, phiên âm là Sằn-đề. Nhẫn là kiên nhẫn chịu đựng những cảnh trái ý nghịch lòng một cách vui vẻ, không một lời ta thán oán trách, hoặc khởi niệm báo oán hận thù. Nhục là điều sỉ nhục, danh dự bị xúc phạm, lòng từ ái bị tổn thương. Nhẫn nhục là đức tính chịu đựng những nghịch cảnh não lòng và gánh lấy những điều phiền muộn do người khác gây ra cho mình mà không tỏ vẻ khó chịu, cũng không thốt ra một lời oán trách kêu ca. Nhẫn nhục Ba-la-mật là một thứ nhẫn nhục cùng tột, không một sự vui buồn, sướng khổ, vinh nhục nào ở đời có thể là lay động, xáo trộn tâm tư được.
2. Giải thích
Xét về thành phần, nhẫn nhục có hai cách. Đứng về mặt chủ thể, có 3 thứ là:

* Trang 86 *
device

a. Thân nhẫn: đối với những nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát đau ốm, hoặc bị người đánh đập hành hạ làm bức não nơi thân mình cũng nhẫn chịu, không phàn nàn hay chống cự lại.
b. Khẩu nhẫn: nghĩa là miệng không thốt ra những lời nguyền rủa độc ác hoặc than vãn kêu ca trước những lời mạ nhục chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay những hành động bạo lực của kẻ khác.
c. Ý nhẫn: là nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không khởi ý phản kháng trả thù. Trong ba thứ nhẫn này, thân nhẫn, khẩu nhẫn thuộc về phần thể xác, dễ hành trì. Ý nhẫn thuộc về phần tinh thần, rất khó hành trì và quan trọng nhất.
Đứng về đối tượng, có 2 loại:
a. Sanh nhẫn: là nhẫn với tất cả chúng sanh, loại này có hai thứ:
- Đối với mọi người dù thân hay sơ, ta đều khởi tâm cung kính, tôn trọng và sẵn sàng nhận lãnh những cử chỉ, lời nói, ý nghĩ bất hảo của họ.
 

* Trang 87 *
device

- Đối với các loài vật, dù nhỏ như ruồi, muỗi, sâu, kiến… làm chúng ta khó chịu nhưng không bao giờ khởi tâm giết hại chúng.
b. Pháp nhẫn: là nhẫn nhục trong mọi hoàn cảnh, cũng có hai thứ:
- Đối với cảnh bên ngoài như nắng, mưa, nóng, lạnh, đói, khát, già bệnh, chết chóc… ép bức thân thể đau đớn, khó chịu mà ta vẫn thản nhiên, không bực tức, không than thở.
- Đối với tự tâm, khi tiếp xúc với cảnh buồn rầu, tủi hổ, ta yên lặng chịu đựng đã đành; trái lại khi gặp những cảnh vui vẻ, vinh dự cũng vẫn bình tĩnh, thản nhiên, thất bại không chán nản, thành công không kiêu hãnh.
3. Nhẫn nhục đúng pháp
Trình độ tu tập nhẫn nhục ở mỗi người mỗi khác, nhưng tổng quát được phân định thành hai loại:
a. Nhẫn nhục chấp tướng: Loại nhẫn nhục còn bị tham, sân, si, mạn thúc đẩy. Chẳng hạn, nhẫn nhục vì sợ quyền thế, nhẫn nhục để được tán thưởng, để cầu quyền cao chức trọng, hay vì khinh bỉ người… Đó là loại nhẫn nhục còn ô nhiễm, chỉ vì muốn yên thân để tránh những bất lợi xảy đến với mình. Nó chưa thật đúng nghĩa nhẫn nhục Ba-la-mật.
 

* Trang 88 *
device

b. Nhẫn nhục không chấp tướng: là thứ nhẫn nhục để tiêu trừ sân hận, kiêu căng, tham lam, vị kỷ. Bình tâm, tự kiểm điểm mình trước những lời mắng nhiếc, phê bình, chỉ trích của người khác. Nghịch cảnh là bước thang giúp người hành đạo mau đến bờ giải thoát. Vì thế, chúng ta luôn luôn niệm ân đối với những lời chỉ trích dù đúng hoặc sai.
Thuận theo bản tánh Chân như, xem tha nhân như mình không khác, do đó hành giả không khởi niệm oán giận đối với nghịch cảnh. Không tham đắm đối với những cảnh thuận lòng đẹp ý, không thấy có người làm nhục và người bị làm nhục là thứ nhẫn nhục được xuất phát từ lòng từ bi hỷ xả, xem tất cả chúng sanh đều là cha mẹ, anh em trong nhiều đời, nhiều kiếp của mình. Hành giả chỉ cảm thấy xót xa và sẵn sàng chịu đựng, không một lời trách móc đối với những tội lỗi họ đã tạo ra cho mình là loại nhẫn nhục không còn chấp ngã chấp pháp. Trong lúc hành trì nhẫn nhục, hành giả không cảm thấy có pháp để tu và có quả để chứng. Nhẫn nhục không chấp tướng này chính là nhẫn nhục Ba-la-mật, hành giả tu Bồ-tát đạo cần phải tu trì, rèn luyện loại nhẫn nhục này.
4. Công đức của nhẫn nhục
Nhẫn nhục là bí quyết xây dựng  xây dựng đạo đức tự thân. Đối với tự thân, nhẫn nhục làm cho lòng từ

* Trang 89 *
device

bi trưởng dưỡng, biết kính trên nhường dưới, tâm hồn thanh tịnh trong sáng, sự nghiệp thành tựu, người người quý trọng, đạo quả viên thành. Đối với xã hội, nhẫn nhục là yếu tố cần thiết để gia đình sum họp hạnh phúc, bạn hữu tương thân, đầy tớ trung tín, đồng bào đoàn kết, thế giới hòa bình…
Kinh Đại bảo tích dạy: Sự nhẫn nhục đem đến 10 công đức: 1. Không có chấp ngã, ngã sở; 2. Không phân biệt giai cấp; 3. Phá trừ kiêu mạn; 4. Việc ác đến không cầu trả báo; 5. Quán tưởng vô thường; 6. Tu pháp từ bi; 7. Tâm không buông lung; 8. Hỷ xả cá việc khổ vui, đói khát; 9. Đoạn trừ sân hận; 10. Tu tập trí tuệ.
Kinh Nguyệt đăng tam muội dạy: Có 10 điều lợi ích đối với Bồ-tát an trụ nơi Từ bi, Nhẫn nhục:
1. Lửa không thể thiêu đốt; 2. Dao không thể cắt; 3. Độc không thể hại; 4. Nước không thể nhận chìm; 5. Được các hàng phi nhơn ủng hộ; 6. Được thân tướng trang nghiêm; 7. Dứt các đường ác; 8. Tùy sở thích; 9. Sanh cõi Phạm Thiên ; 10. Ngày đêm được an ổn, thân tâm luôn an vui.
C. KẾT LUẬN
Qua nội dung tinh tấn Ba-la-mật và nhẫn nhục Ba-la-mật, chúng ta thấy hai hạnh này là năng lực của nội tâm, là sức mạnh của tâm linh không thể thiếu được trên lộ trình giải thoát giác ngộ. Tinh tấn, Nhẫn nhục chỉ được đúng nghĩa Ba-la-mật khi đi kèm với trí tuệ và từ

* Trang 90 *
device

bi, đặt lợi tha trên tự lợi. Nếu thiếu trí tuệ và từ bi thì tinh tấn sẽ trở thành bạo động ngông cuồng, nhẫn nhục sẽ trở thành si lì.
Thông thường, phạm trù hoạt động của tinh tấn, nhẫn nhục là những cảnh trái ý nghịch lòng, gian lao khó nhọc. Nhưng đối với những cảnh thuận lòng hợp ý mà tinh tấn, nhẫn nhục vẫn hoạt động là một sự hành trì tinh thuần.
Sự liên hệ giữa tinh tấn và nhẫn nhục chúng ta có thể xem qua lời dạy của đức Phật: “Im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp”. Phải chăng im lặng chính là nhẫn nhục, nói năng chính là tinh tấn? Do đó, người hành trì tinh tấn, nhẫn nhục Ba-la-mật là người làm chủ được tâm ý, hành động của mình. Biết rõ được nội dung và công đức của tinh tấn, nhẫn nhục Ba-la-mật, chúng ta không thể không học tập, hành trì theo lời Phật dạy.


 
***

* Trang 91 *
device

 
Phật học khái lược 2