LOGO VNBET
 

THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT VÀ
TRÍ TUỆ BA-LA-MẬT

 
Lộ trình giải thoát giác ngộ tuy có muôn ngàn pháp tu, nhưng hành trang cần thiết để hoàn tất hành trình ấy tựu trung có hai thứ: Phước và Huệ. Trong Lục độ thì bốn độ Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục và Tinh tấn thuộc về tu Phước, còn hai độ Thiền định và Trí tuệ thuộc tu Huệ. Vì thế sau khi tìm hiểu về bốn độ trước, chúng ta không thể không tiếp tục tìm hiểu về Thiền định và Trí tuệ Ba-la-mật.
A. THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT
I. Giới thiệu
Tìm hiểu về lịch sử đức Phật Thích-ca, chúng ta thấy Ngài trải qua quá trình tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh mà chưa tìm ra lối thoát khổ đau cho chính mình và cho chúng sanh. Chân lý chỉ bừng sáng nơi Ngài sau khi Ngài quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh và chuyên tâm thiền quán 49 ngày dưới cội Bồ-đề. Như vậy, chân lý và con đường về chân lý phải là nội dung của sự tu tập Thiền định. Do đó, chúng ta phải trở về con đường Thiền định của Thế Tôn, mới có thể nếm được hương vị giải thoát giác ngộ.

* Trang 92 *
device

II. Nội dung
1. Định nghĩa
Thiền, tiếng Phạn là Samatha, phiên âm là Thiền-na, nghĩa là dùng tâm vắng lặng để quán sát và suy nghiệm chân lý, diệt trừ các vọng duyên điên đảo. Định, tiếng Phạn là Samadhi, phiên âm là Tam-muội, nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý tán loạn; nghĩa là tâm chuyên chú vào một cảnh sở duyên. Vậy, Thiền định là tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất để tâm thể được vắng lặng và có dụng tâm mạnh mẽ, hầu quán sát và suy nghiệm chân lý. Thiền định là chuyên tâm chú ý vào một cảnh nhất định để tìm ra sự thật rồi dựa vào đó mà tu hành.
2. Phân tích
Thiền định là trạng thái tâm lý tịnh lự. Trạng thái này chỉ có ở sắc giới và vô sắc giới. Nói rõ hơn, Thiền thuộc về sắc giới, Định thuộc về vô sắc giới. Thiền và định đều được phân ra bốn cấp từ thấp đến cao, được gọi là Tứ thiền và Tứ định. Tứ thiền và Tứ định là kết quả công phu tu tập của cả Thánh lẫn phàm. Dù tu tập theo phương pháp thiền định của Phật giáo hay của ngoại đạo cũng đều có thể đạt kết quả Tứ thiền và Tứ định. Tuy nhiên, đây thuộc về thế gian pháp vì còn luẩn quẫn trong ba cõi.
Thiền định của chư Phật, Bồ-tát và A-la-hán thuộc về xuất thế gian pháp, đó là trạng thái tịnh lự của những

* Trang 93 *
device

bậc đã thoát ly tam giới. Trạng thái ấy còn gọi là Định vô lậu. Tứ thiền, Tứ định được thành tựu bởi sự đoạn diệt phiền não ở dục giới. Còn muốn đạt Định vô lậu thì phải diệt trừ tất cả phiền não của vô sắc giới.
Thiền và Định là một cặp hệ nhân quả. Thiền là căn bản của Định, nếu không có Thiền thì mọi pháp Định sẽ không hiện hữu. Do đó, Thiền là pháp tối yếu của người học đạo. Đứng về phương diện tu tập thì Thiền được phân thành ba hạng:
a. Thế gian Thiền: có trước thời đức Phật ra đời. Thiền này có hai loại:
- Căn bản vị thiền: là loại thiền có thể làm căn bản cho thiện pháp xuất thế gian. Hành giả tu thiền này còn ưa Thích-cảm giác lạc thọ của thiền. Căn bản vị thiền gồm 12 phẩm phân làm 3 nhóm: Tứ thiền (dành cho người nhàm chán cảnh tán loạn của dục giới), Tứ vô lượng (dành cho người muốn tạo phước lớn) và Tứ không (dành cho người nhàm chán cảnh sắc giới chật hẹp).
- Căn bản tịnh thiền: là loại thiền có thể làm phát sinh vô lậu trí, cũng phân thành hai loại:  Lục Diệu môn (dành cho người có Huệ tánh nhiều) và Thập lục đặc thắng (dành cho người có Định tánh nhiều). Người nào có Định tánh và Huệ tánh bằng nhau thì tu cả hai loại.
 

* Trang 94 *
device

b. Xuất thế gian Thiền: là pháp Thiền của bậc xuất thế. Hành giả lấy các pháp hữu vi làm đối tượng suy nghiệm để ly dục, phát sinh vô lậu trí, gồm có bốn pháp quán: Cửu tưởng quán, Bát bối xả quán, Bát thắng xứ quán và Thập nhất thiết xứ quán.
c. Xuất thế gian thượng thượng Thiền: là pháp Thiền cao tột của bậc đại nhân. Theo Kinh Địa Trì, pháp Thiền này gồm có 9 môn, mỗi môn có chứa nội dung tu tập và có công năng khác nhau, chẳng hạn:
- Tự tánh Thiền: là chỉ quán sát thật tướng của tự tâm, chứ không quán đối tượng bên ngoài.
- Trừ não Thiền: có năng lực diệt trừ phiền não, khổ đau cho chúng sanh.
- Thử thế tha thế lạc Thiền: loại thiền có năng lực làm cho chúng sanh có an lạc trong hiện tại và tương lai.
- Thanh tịnh tịnh Thiền: loại thiền có năng lực đoạn trừ tất cả lậu hoặc, tâm ý hoàn toàn thanh tịnh, chứng được “Tịnh báo đại Bồ-đề”.
3. Công đức Thiền định
Hễ nói đến Thiền định là nói đến năng lực phi thường của nó. Người tu Thiền, dù theo ngoại đạo hay theo Phật giáo, dù chuyên tự lợi hay lợi tha, hễ thực hành

* Trang 95 *
device

đúng pháp đều có thể chứng đắc thần thông. Trong đời thường, có một số người thấy được năng lực phi thường của Thiền nhưng thiếu tính kiên nhẫn và khiêm tốn, không tầm sư học Thiền, vội vả hành Thiền theo ý mình, thế là rơi vào tình trạng “lạc thiền” khiến tinh thần bất thường. Ấy là nguyên nhân chính khiến cho một số người khác nói giễu “thiền đăng” khi thấy hoặc nghe ai tu Thiền.
Thiền định Phật giáo luôn được chánh tri kiến hướng dẫn, vì thế người thực hành Thiền Phật giáo không bao giờ bị lạc thiền, ngược lại thu hoạch được nhiều lợi ích cho mình và cho người. Ví dụ: ngũ căn được tự tại, phiền não được dứt trừ, từ bi được mở rộng, trí tuệ tăng trưởng, cảnh giới giải thoát hiện ở trước mắt.
Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội dạy: “Nếu có vị Bồ-tát an trụ nơi thiền định thì có mười món lợi ích: 1- Tâm không ô trược, 2- An trụ không phóng dật, 3- Được chư Phật trong ba đời ái niệm, 4- Tin làm các giác hạnh, 5- Đối với Phật trí không nghi ngờ, 6- Biết ơn và báo ơn, 7- Không bài bác chánh pháp, 8- Khéo biết ngăn giữ, 9- Đến được Điều phục địa, 10- Chứng bốn món Vô ngại trí”.
B. TRÍ TUỆ BA-LA-MẬT
I. Giới thiệu
Trong kinh Pháp cú thí dụ, đức Phật có dạy: “Làm đau thương không gì hơn lo buồn, bắn tên hại người không

* Trang 96 *
device

gì hơn ngu si, không thể lấy sức mạnh gì trừ hai nỗi khổ đó được, chỉ có thể học nhiều mới có thể trừ diệt. Người mù sẽ nhờ học mà có mắt, người tối sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mới có thể chỉ đường cho mọi người, có học như đem mắt cho người mù. Vậy, phải rời bỏ ngu si, xả bỏ lòng kiêu mạn và sự an hưởng giàu có. Chuộng học nghe nhiều là sự nhóm họp công đức”.
Lại nữa, kinh Bát đại nhân giác, đức Phật dạy: “Vì ngu si nên mới luân hồi sinh tử. Vị Bồ-tát nên học rộng nghe nhiều, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, để giáo hóa hết thảy chúng sanh được an vui sung sướng hoàn toàn”.
Trí tuệ là yếu tố cực kỳ quan trọng như thế, là người Phật tử hành Bồ-tát đạo, tất nhiên chúng ta phải học và hành theo trí tuệ Ba-la-mật. 
II. Nội dung
1. Định nghĩa
Trí tuệ, tiếng Phạn là Pãnna, phiên âm là Bát-nhã, dịch là Trí tuệ. Trí tuệ Ba-la-mật là hiểu biết rõ ràng đúng đắn, thấu triệt chân tướng vạn pháp xuyên qua chân lý Khổ- Vô thường- Vô ngã. Là trí sáng suốt, nhận chân đúng sự thật, biết phân biệt tà chánh, hư ngụy, phá trừ được màn vô minh dày đặc, đã lâu đời lâu kiếp che kín thực thể của vụ trụ nhân sinh.
2. Giải thích

* Trang 97 *
device

Thông thường, từ “Trí tuệ” người ta dùng để chỉ cho mớ kiến thức học hỏi tìm hiểu được trong sách vở hay trong trường lớp… Nhưng trí tuệ mà ta đề cập ở đây là kết tinh của quá trình công phu tu tập, không những trong một đời mà trong vô lượng đời kiếp. Mỗi người có mỗi cấp độ trí tuệ khác nhau, nhưng tựu trung có hai phần: hiện lượng và tỷ lượng.
a. Hiện lượng: là sự nhận thức trực tiếp, không suy luận. Có hai thứ: chân hiện lượng (nhận thức đúng) và tợ hiện lượng (nhận thức sai).
b. Tỷ lượng: là nhận thức qua trung gian suy luận. Cũng có hai thứ: chân tỷ lượng (hiểu biết suy luận đúng) và tợ tỷ lượng (hiểu biết suy luận sai).
Các bậc Thánh nhân thường trú ở chân hiện lượng, còn phàm phu tục tử chúng ta thường sống trong tợ hiện lượng và tợ tỷ lượng. Chính vì thế mà chúng ta trầm luân khổ não muôn đời.
Đứng về phương diện tính chất, trí tuệ cũng có hai loại:
a. Căn bản trí: là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sanh vốn đã có sẵn, nhưng vì bị phiền não che lấp, nên chưa phát chiếu ra được.
b. Hậu đắc trí: là trí tuệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định…
 

* Trang 98 *
device

Theo Duy Thức học, sau khi hành giả chứng đắc “Hậu đắc trí” thì tám thức chuyển thành bốn trí: A-lại-da Đại viên cảnh trí, Mạt-na Bình đẳng tánh trí, Ý thức Diệu quan sát trí, Tiền ngũ thức Thành sở tác trí.
3. Phương pháp tu tập
Luật Sa-di dạy: “Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ”. Vậy, muốn có trí tuệ thì phải hành trì giới luật và tu tập thiền định. Muốn hành trì giới luật và tu tập thiền định đúng pháp thì phải tìm hiểu, học hỏi qua ba giai đoạn Văn - Tư - Tu. Đây chính là phương pháp làm phát sanh trí tuệ.
a. Văn tuệ: do nghe thuyết giảng hay đọc tụng kinh điển mà hiểu được nghĩa lý.
b. Tư tuệ: thường suy nghiệm, tư duy về chánh pháp và chánh lý.
c. Tu tuệ: thực hành, tu luyện theo chánh pháp, chánh lý, thể nhập chân lý.
Văn-Tư-Tu có mối quan hệ tương quan mật thiết với nhau. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì cả ba xem như bất thành. Do đó, kinh Sa-di Thập giới có dạy: “Văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ, ba môn thiếu một không được. Nếu nghe mà không suy nghĩ thì như làm ruộng mà không gieo mạ, suy nghĩ mà không tu thì như làm ruộng mà không tát nước, bừa cỏ, rốt cuộc không có kết quả. Ba tuệ được đầy đủ thì chứng quả Tam thừa”.

* Trang 99 *
device

4. Công năng của trí tuệ
Trong kinh Di giáo, đức Phật có dạy: “Các thầy Tỳ-kheo, nếu có trí tuệ thì không tham trước, thường tự soi sáng, tránh khỏi các lỗi lầm, ở trong chánh pháp của ta, người ấy có thể giải thoát. Nếu không như vậy thì chẳng những không phải là người xuất gia, lại cũng không phải là người thế tục, không biết gọi là gì”.
Kinh lại dạy: “Trí tuệ chân thực là chiếc thuyền kiên cố chở hành giả ra khỏi biển già, đau, chết, là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều thuốc hay chữa hết mọi bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt đứt cây phiền não. Vậy, các người phải lấy sự nghe, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tự tăng ích cho trí tuệ mình”.
Qua đó, chúng ta thấy, đối với sự nghiệp giải thoát giác ngộ, tuy vô cùng rộng lớn nhưng không ngoài 3 ý chính:
a. Dứt trừ phiền não: Phiền não do mê lầm phát sinh, khi trí tuệ phát sinh thì mê lầm biến mất. Cũng như khi đèn sáng thì bóng tối không còn.
b. Chiếu sáng sự vật: Vì bị vô minh che lấp nên chúng sanh thường thấy sự vật là thật có, thường hằng. Do đó mà tham trước sự vật khiến khổ đau chồng chất. Khi trí tuệ phát sanh sẽ nhận chân được sự thật của vạn sự, vạn vật là vô thường, do duyên giả hợp mà có.

* Trang 100 *
device

c. Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh che lấp thì tâm phân biệt hoạt động mạnh mẽ, thấy có sự khác biệt giữa mình và người, mình với vật. Khi trí tuệ bừng sáng thì thấy rõ được mình và người, cũng như mình và vật đều chung một thể tánh chơn không. Do đó mà thể nhập chân lý, giác ngộ hoàn toàn.
C. KẾT LUẬN
Qua nội dung và công năng của Thiền định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật, chúng ta thấy đây là hai yếu tố quan trọng của sự nghiệp giải thoát sanh tử. Và chúng có sự liên kết chặt chẽ với nhau, hễ có một là có hai, mất một là mất cả hai. Chính hai yếu tố này quyết định địa vị con người là Thánh hay phàm. Là người sống trong thế giới hiện tượng đầy triền phược này, trong chúng ta, ai cũng ước muốn có cuộc sống hạnh phúc hơn là khổ đau, tinh thần an lạc hơn là não loạn. Vì thế, không còn con đường nào khác là chúng ta hãy công phu tu tập theo Lục độ, thì không những chúng ta mà cả xã hội, thế giới, nhân loại đều được mãn nguyện.

 

* Trang 101 *
device

 
Phật học khái lược 2