LOGO VNBET
 

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
A. MỞ ĐỀ
Đứng về phương diện tuyệt đối, hay Chơn như môn thì tâm chúng sanh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. Nhưng đứng về phương diện tương đối hay Sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sanh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn … thì tâm trở thành nhỏ hẹp và vị quay cuồng trong lục đạo phàm phu. Còn làm theo lối Tứ đế, Lục độ… thì tâm trở thành rộng lớn, và được giải thoát lên Đại nhân, Tứ thánh. Cũng là một tâm do chúng sanh hay Phật xây dựng, mà có rộng hẹp, lớn bé, ngàn sai muôn khác, cũng như cùng thứ bột, do người thợ làm bánh khéo tay hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, lạt, mặn… Cho nên Tôn cảnh lục có chép:“Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sanh, tâm tạo Thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt sanh khởi, tâm thanh bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba độc trói buộc, tâm Thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhất đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước Cam Lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nên, không phải trời sanh ra,

* Trang 102 *
device

cũng không phải do đất mà có”. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị Thánh nhân, Bồ-tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn: “Tâm vô lượng”.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Định nghĩa tâm vô lượng
Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vở được các thứ quan niệm, chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn, thể bao trùm đến vô lượng chúng sanh, và tìm phương cứu cho tất cả. Tâm vô lượng cũng có nghĩa là “Đẳng tâm”, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt, so đo thấp cao, hơn kém, phổ biến bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt giới hạn.
Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sanh, nên tâm này còn có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm sự kiện căn bản để cảm thành quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ-tát, Phật-đà. Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho chúng sanh, dẫn sinh phước đức và tạo thành quả báo tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra vô lượng thế giới, trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật.

* Trang 103 *
device

Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sanh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ-tát.
II. Thành phần và hành tướng
Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: Từ vô lượng, Bi vô lượng, Hỷ vô lượng và Xả vô lượng.
1. Từ vô lượng
Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là cái vui vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. Vui của thế gian là vui giả tạm, cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn bị phiền não chi phối: khi tham sân si… được thoả mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thoả mãn được !
Còn cái vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền thoát ra ngoài vòng phiền não của tham sân si… nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào sôi nổi, mà vĩnh viễn vì nó thuộc cảnh giới siêu phàm. Muốn được có cái vui này, thì trước tiên phải dứt cho hết các khổ do phiền gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham sân si… hoành hành thì chỉ có thể có được một cái vui nhất thời giả tạm. Bởi thế các vị Bồ-tát ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng Từ Bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn răn nhắc chúng sanh đừng gây tội, dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm.

* Trang 104 *
device

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi trên con đường quang minh chính đại, con đường sáng để đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi. Bi để chỉ nguyên nhân đau khổ, và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân đau khổ. Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui.
Tỷ dụ như khi Bồ-tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết-bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhân của khổ? (tập đế). Sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết-bàn như thế nào (diệt đế) và đưa ra phương pháp để đoạn khổ (đạo đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà tu hành, thì cái vui Niết-bàn sẽ xuất hiện. Như thế động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt đế và tập đế là Từ.
Vì nỗi khổ của chúng sanh là vô lượng, nên lòng Từ Bi cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ-tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ-tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là:
a. Tùy cơ: nghĩa là quán sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào để tùy theo mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc

* Trang 105 *
device

pháp của Bồ-tát cũng vô lượng. Nhưng vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng, nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vị lương y đại tài mới có thể làm được. Các vị Bồ-tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ Trí tuệ sáng suốt, Từ tâm vô lượng, không quản khó khăn, không ngại  gian nguy một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với con, quyết tâm làm cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí tuệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng Từ Bi vô lượng như các vị Bồ-tát, thì khó tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc. Dưới đây là một đoạn văn trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ Hiền:“…Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới… tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kính cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A-la-hán cho đến bực Như Lai đều đồng không khác. Với kẻ bệnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường thì chỉ lối cho họ, với kẻ trong đêm tối thì làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng thì khiến cho họ được gặp của… Bồ-tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế, là vì Bồ-tát nhận thấy rằng: tùy thuận chúng sanh tức là cúng dường chư

* Trang 106 *
device

Phật, nên tôn trọng thừa sự chúng sanh, tức là tôn trọng thừa sự Như Lai…”
b. Tùy thời: tức là thích ứng với thời đại, với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần, cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi nắng khi mưa, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này, khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay bao nhiêu cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ-tát hiểu rõ như thế, biết khi nào là Tượng pháp khi nào là Mạt pháp, để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ.
Tóm lại muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu quả, thì Bồ-tát không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh Tâm địa quán có dạy: “Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc: Một là nói không phải chỗ, hai là nói không phải thời, ba là nói không phải căn cơ, bốn là nói không phải pháp”.
Bởi những lẽ trên nên Bồ-tát trong lúc hóa độ, khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân, lúc làm thuận hạnh, lúc làm nghịch hạnh, khi thì oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của các Bồ-tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sanh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh.

* Trang 107 *
device

Nên nhớ, “tạo cái vui chân thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đường, hay cảnh giới Cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui bằng cách thức tỉnh, dẫn dắt chúng sanh tránh các điều dữ, làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui nhờ các hành động lành ấy mà kết thành quả vui mới thôi.
Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi thì Đại nguyện của Bồ-tát không thành, vì chỉ cứu khổ mà chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử muốn tu hạnh Bồ-tát thì phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên.
2. Bi vô lượng
Bi là lòng thương xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sanh, và quyết tâm làm cho dứt trừ những nỗi khổ đau ấy. Như chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sanh thật là vô lượng, vô biên. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn Thánh.
Khổ nằm trong nhân: trong các kinh điển thường có câu: “Bồ-tát sợ nhân chúng sanh sợ quả”. Chúng sanh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi gây nhân đau khổ thì lại không nhận thấy, hoặc nhận thấy mà cứ thản nhiên

* Trang 108 *
device

như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại cho là vui. Họ hoan hô, tán thán và khuyến khích nhau gây đau khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây đau khổ để cứu khổ. Chẳng khác gì “khát mà uống nước mặn”.
Khổ nằm trong quả: đã gây nhân khổ thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai công nhận như thế, người ta oán trách trời đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc đời đã khổ lại càng khổ thêm.
Khổ bao trùm cả thời gian: từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng chất thêm mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ ngừng nghỉ.
Khổ bao trùm cả không gian: cái khổ không có phương sở, quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì  như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới này, mà còn vô số vô lượng thế giới khác nữa. Khoảng không gian vô tận như thế nào, thì nỗi đau khổ vô tận, mênh mông như thế ấy.
Khổ chi phối cả phàm lẫn Thánh: chúng sanh ở địa ngục, ngã quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng,

* Trang 109 *
device

loài người vì say đắm ngũ dục lạc, và bị tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng trong biển khổ, còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. Cho đến các hàng Thánh như Thanh Văn, Duyên Giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết-bàn nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nỗi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao cân xứng với nỗi khổ đau, và có một chí nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi khổ đau, ấy là tâm Bi vô lượng.
Các vị Bồ-tát nhờ có lòng Đại bi nên đã phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả, các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng ra vào trong sanh tử để hóa độ chúng sanh, nên không chấp trệ ở Niết-bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để:
Làm cho chúng sanh nhận thấy được mặt thật của cuộc đời, biết thế nào là khổ là vui, là tà là chánh.
Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, các điều tội lỗi.
Xem như thế đủ biết Đại Bi chính là động lực để đi đến quả vị Bồ-tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm, đức Bồ-tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: “Nhân vì chúng sanh mà khởi lòng Đại bi. Nhân lòng Đại bi mà phát tâm Bồ-đề. Nhân vì phát tâm Bồ-đề mà tiến thành ngôi Chánh Giác”.

* Trang 110 *
device

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ-đề không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sanh mà thôi”. Vậy chúng ta là Phật tử muốn tu Bồ-tát hạnh, tất cả phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho được một lòng Bi vô lượng.
3. Hỷ vô lượng
Hỷ nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là “vui theo”. “Vui theo” có nhiều cách:
Phóng tâm vui theo những cảnh trần: như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói phóng túng của lòng phàm.
Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là đồng loã với kẻ ác vậy.
Vui theo những việc nhân từ, phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương… ta tán thành, giúp đỡ và vui theo công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế ta nên phân biệt hai trường hợp: nếu

* Trang 111 *
device

lòng mình cũng muốn làm thiện, nên khi thấy người khác làm thì mình hoan hỷ, tán thành, đó là trường hợp tốt, sẽ được nhiều phước báo; còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cũng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái, ngã mạn.
Khác với những lối vui trên là lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh. Thứ vui tuy không có tính cách trụy lạc, ác độc, nhưng theo Chánh giáo thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ Bi rộng rãi và chưa đúng nghĩa “Hỷ tâm Vô lượng”. Đức Phật còn quở đó là cái vui “khôi thân đoạn trí” hay “thu tịch Niết-bàn”.
Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ-tát mới đúng nghĩa “Hỷ tâm vô lượng”. Trong khi thực hành phương tiện Từ Bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sanh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ-tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Đại Thừa Trang Nghiêm, ngài Trần-na Bồ-tát dạy rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sanh được hưởng”. Bồ-tát còn xác nhận rằng: “Nếu làm chúng sanh được vui tức là làm cho tất cả chư Phật vui mừng”. Đó là lời nói của đức Phổ Hiền.
Nên nhớ cái “Hỷ” của Bồ-tát có những đặc điểm sau đây:

* Trang 112 *
device

Chẳng những không làm cho chúng sanh mê lầm, mà còn giác ngộ cái mê, được giải thoát.
Không còn hạn cuộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại làm cho chúng sanh thoát khỏi thế gian.
Thoát ra khỏi phạm vi tự lợi, mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn ở lòng Từ Bi mà phát ra. Lòng Từ Bi rộng lớn bao nhiêu, thì cái Hỷ này rộng lớn bấy nhiêu.
Chúng ta là Phật tử tu hạnh Bồ-tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị Bồ-tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui ích kỷ, ô nhiễm của phàm phu.
4. Xả vô lượng
Xả là xả bỏ, không chấp trước. Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì hay tự hào đắc chí, đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình cãi vả, xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này với nhóm khác, cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy mà ra. Nguyên nhân của tánh chấp trước này là do sự chấp ngã, chấp pháp.
Phàm phu vừa thấy mình có làm (chấp ngã), vừa thấy có công việc, kết quả mình đạt được (chấp pháp), nên cứ bị trói buộc trong cái phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu.

* Trang 113 *
device

Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới, chứng được Hữu dư y Niết-bàn, các Ngài xem như đó là phần thưởng xứng đáng của bao nhiêu công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử.
Chỉ có các vị Bồ-tát là những bậc đã chứng được pháp không, nên đã trừ được pháp chấp. Khi các Ngài cứu khổ cho chúng sanh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên giữa các Ngài với chúng sanh. Các Ngài dùng trí Vô phân biệt để được bình đẳng, phổ biến theo “đồng thể đại bi”.
Chúng sanh có hưởng được vui chăng! Bồ-tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sanh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha, tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ Bi của Bồ-tát thoát khỏi vòng ái kiến và chấp trước, tức là Xả vậy. Đến như lòng Hỷ cũng thế, Bồ-tát vui vì lòng Từ Bi, thấy chúng sanh được vui chứ không phải lối vui tự đắc. Vui vì thành thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ-tát và chúng sanh, chứ không phải vui vì đắm mến riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ ở đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần “Xả”.
Như vậy, Xả là một tâm lượng cao cả. Ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đều

* Trang 114 *
device

bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả, chứng mà không thấy có mình chứng và có quả để chứng. Cho nên, kinh Tứ Thập Nhị Chương có chép: “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành mới là hành, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy mới là gần Đạo, mê mờ không rõ là xa Đạo”.
Làm như thế tức là Xả; xả hết tất cả mới thật là Bồ-tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ-tát. Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy: “Này ông Tu Bồ-đề, nếu có vị Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ-tát”.
Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần cho được cái tâm Xả ấy. Thành tựu được tâm Xả một cách hoàn toàn tức là chứng quả Bồ-đề.
III. Sự đối trị của tứ vô lượng tâm
Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ-tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của Phật tử tu hạnh Bồ-tát.
Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: thiện và ác. Hai xu hướng này luôn luôn xung đột nhau, hễ thiện thắng thì ác lùi và ngược lại.

* Trang 115 *
device

Khi lòng giận hừng hẩy thì tâm Bi bị lấn át. Khi lòng sân bừng dậy thì tâm Từ bị che khuất. Khi ưu não đầy dẫy thì tâm Hỷ không phát hiện. Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh thì lòng hận phải yếu mòn. Khi tâm Từ lan rộng thì lòng sân phải lùi. Khi tâm Hỷ bừng lên thì lòng ưu não phải dẹp xuống. Khi tâm Xả phát triển thì lòng ái dục nhẹ đi.
Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục cho đến khi toàn thắng mới dừng nghỉ. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thoả mãn và dừng nghỉ thì giặc cướp sẽ tái phát và hoành hành trở lại.
Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục, chúng ta phải tiếp tục chiến đấu cho đến toàn thắng mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi Từ bi, Hỷ xả đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ-tát. Đó là ý nghĩa “phiền não tức Bồ-đề”.
C. KẾT LUẬN
Vì thấy chúng sanh vô cùng khổ sở nên thương xót chúng sanh. Vì thương xót chúng sanh nên ra tay cứu chúng sanh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sanh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần

* Trang 116 *
device

phải tiếp tục làm cho chúng sanh được vui (Từ). Khi chúng sanh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ). Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn, nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một cái vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước nhân, ngã, bỉ, thử… (Xả)
Đó là nói về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng là phải vô lượng. Có vô lượng thì mới đủ sức cứu độ vô lượng chúng sanh. Có vô lượng mới lấn át được tất cả phiền não.
Phải công nhận rằng có được bốn món tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sanh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà vội lùi bước. Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành nên phát bốn lời thệ nguyện rộng lớn ấy rồi cứ kiên nhẫn mà tu tập cho đến khi thành tựu. Cầu mong quý vị Phật tử phát tâm dõng mãnh tu bốn món tâm vô lượng này.


 
***

* Trang 117 *
device

 
Phật học khái lược 2