LOGO VNBET


VŨ TRỤ QUAN PHẬT GIÁO
 
A. MỞ ĐỀ
Một câu hỏi nan giải nhất của nhân loại là: “Vũ trụ từ đâu mà có?” Từ xưa đến nay, câu hỏi này đã làm cho bao nhiêu bộ óc phải bối rối, thắc mắc, nhưng cuối cùng nhân loại vẫn chưa thấy thoả mãn. Các triết gia, có người thì cho vũ trụ này từ nước tạo thành, có người cho là do hơi nóng, có người bảo do tứ đại… tạo thành. Các tôn giáo thì hầu hết dựng lên một Đấng Tạo vật. Đấng này tùy theo mỗi tôn giáo mà có tên khác nhau: Brahma, Ngọc hoàng Thượng đế, Chúa trời, Jéhovah… Vậy, đối với vấn đề này, đạo Phật trả lời như thế nào?
B. CHÁNH ĐỀ
I. Đặt vấn đề tiên quyết
Khác với quan niệm về một Tạo vật chủ của các tôn giáo khác, đạo Phật đã khẳng định tiên quyết rằng vũ trụ hình thành là do tự kỷ nhân quả tiếp nối nhau. Vũ trụ này không do một đấng Sáng tạo hay một phép lạ bên ngoài nào xây dựng nên cả. Đối với Phật giáo, vũ trụ là vô thỉ, nghĩa là không có một nguyên nhân đầu tiên.
Sở dĩ người đời thông thường tin phải có một sự khởi đầu, là do nhận xét giới hạn nên họ thấy cái gì cũng có sự bắt đầu. Từ nhận xét đó, họ luôn có thói quen cắt

* Trang 125 *
device

xén thời gian ra từng giai đoạn, rồi gán ép thành quy trình tồn tại cho mỗi vật. Nguyên nhân thứ hai là ý niệm sai lầm về có và không của con người. “Có” và “không” mà thế gian thường thấy chỉ thuộc phạm trù tương đối. Tức là họ luôn chấp chặt: có là phải có một cái gì, và không là phải không một cái gì. Nghĩa là họ cố xác định lên nó một thời gian, như: “không” trước rồi “có” sau (sự sinh), “có” trước rồi “không” sau (sự diệt). Nếu xét một cách tuyệt đối, trong vũ trụ không có một cái “không” hoàn toàn, mà cũng không tồn tại một cái “có” vĩnh viễn. “Có” và “không” dựa vào nhau, đắp đổi cho nhau mà thành. Mỗi pháp trong vũ trụ đồng thời tồn tại thành, trụ, hoại, không, có nghĩa là “có” và “không” cùng có mặt, không trước không sau. Đã không trước không sau, thì làm gì còn có sự sanh diệt, vô thường. 
Khi đã xác quyết là không có nguyên nhân đầu tiên, thì câu hỏi “Ai sáng tạo ra vũ trụ này?” không tồn tại. Chúng ta phải đặt câu hỏi như thế này mới đúng: Thật thể của cái có và cái không tương đối (tức vũ trụ vạn hữu) là như thế nào? Hay là: Thật tại của vũ trụ như thế nào? Từ thật tại ấy, vũ trụ hình thành và biến chuyển bởi nguyên nhân gì? Vũ trụ này rộng hẹp ra sao và có cùng tận không? Ba phần sau đây sẽ trả lời ba câu hỏi trên.
II. Thật tướng luận
Thật thể hay thật tướng của vũ trụ là Chân Như. Chân như là một thật thể không biến đổi, không sanh

* Trang 126 *
device

diệt, vô thỉ vô chung, rất sáng suốt và có đầy đủ tất cả những diệu dụng đức tánh. “Chân như” có khi còn được gọi bởi những danh từ khác: Chơn tâm, Viên giác, Thắng nghĩa, Phật tánh, Giác tánh, Pháp tánh, Như như, Nhất như … Đây chỉ là những tên gọi tạm thời, chứ ngôn ngữ, văn tự không thể trình bày được nội dung thực tại Chân như. Chỉ có những vị giác ngộ mới trực nhận, thể nhập hay thể chứng mà thôi.
Thái độ đúng đắn nhất để trực nhận Chân như là im lặng, xa lìa ngôn ngữ. Nhưng với mục đích độ sanh, đức Phật đã tạm dùng phương tiện ngôn ngữ để trình bày chân lý, nhưng cũng không phải là khái niệm thông thường, mà chỉ bằng những cách nói gián tiếp. Trong kinh điển, có khi ta nghe rất phi lý: cũng có, cũng không, không phải không, không phải có, không đồng, không khác, không phải một, không phải nhiều, không dơ, không sạch… Nói như thế mà vẫn sợ chúng sanh chấp vào ngôn ngữ, nên Phật lại dạy: “Chân lý như mặt trăng, giáo lý ta dạy như ngón tay chỉ mặt trăng, đừng lầm ngón tay với mặt trăng”, hoặc “Tất cả pháp như chiếc bè qua sông”, hoặc “Y kinh giảng nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”, hoặc “Điều ta biết như lá trong rừng, điều ta nói như nắm lá trong tay”, hoặc “Suốt đời Như Lai chưa nói một lời nào”.v.v.
Tóm lại, mục đích của Thật Tướng luận là muốn cho chúng ta nhận chân rằng: có một Chân như tồn tại

* Trang 127 *
device

như mặt trái của hiện tượng giới. Nhưng cần lưu ý đừng phân biệt mặt trái này là một bề mặt đối lập với mặt phải.
III. Duyên khởi luận (hay Luận về nguyên nhân sanh khởi vũ trụ)
Duyên khởi luận là những lý thuyết nói về nguyên nhân hay lý do sanh khởi của hiện tượng giới. Phật giáo có nhiều thuyết về Duyên khởi, những thuyết này không trái ngược nhau, mà chỉ khác nhau về phương diện sâu cạn, rốt ráo hay không rốt ráo. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu từ cạn đến sâu:
1. Nghiệp cảm Duyên khởi: Là chủ trương của Phật giáo Tiểu Thừa Nguyên thỉ, được rút ra từ giáo lý Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên, và dựa trên động cơ chính là nghiệp, nên gọi “Nghiệp cảm Duyên khởi”. Phật dạy, nguyên nhân của đau khổ, sanh tử luân hồi là do “hoặc” và “nghiệp”, tức là vì mê vọng, chúng ta đã có hành động sai lầm; chính hành động sai lầm là nhân gây ra kết quả khổ đau. Cái vòng nhân quả luân hồi cứ tiếp tục mãi mãi dẫn đến có mặt chánh báo (thân ta) và y báo (sơn hà đại địa). Khi nghiệp nhân biến đổi, thì nghiệp quả cũng biến đổi và chánh báo, y báo cũng biến đổi theo. Kết quả tái sanh thế nào tùy thuộc nghiệp nhân đã tạo, vũ trụ vạn hữu cũng trở nên khác biệt tùy theo tầm mắt và sự hiểu biết của mỗi

* Trang 128 *
device

loài. Vậy, do nghiệp lực mà có thân và thế giới. Cho nên, còn nghiệp là còn hiện tượng giới, dứt được nghiệp là trở về với Chân như, Niết-bàn.
2. A-lại-da Duyên khởi: thuộc Đại Thừa Thỉ giáo, đi sâu hơn một tầng.
Để trình bày rõ hơn về tác nhân nghiệp và đối tượng của nó, Đại Thừa Thỉ giáo đã bổ khuyết thêm hai khái niệm “Mạt-na thức” và “A-lại-da thức”, mà thuyết “Nghiệp cảm” chưa có (chỉ nói đến 6 thức). Mạt-na là thức chuyên chấp lấy sự hiểu biết, tự nhận làm cái ngã và giữ gìn cái ngã ấy. A-lại-da là thức hằng khởi, thường tại, là một kho tàng trùm chứa tất cả mọi chủng tử thiện ác của các pháp. Chức năng của A-lại-da là thâu nhiếp và sanh khởi tất cả pháp. Khi tạo nghiệp, các chủng tử được lưu nhập vào A-lại-da, khi đủ nhân duyên, chủng tử ấy phát ra thành hiện hành. Vì A-lại-da bao gồm hết thảy chủng tử của khách quan giới và chủ quan giới, lại có thể phát hiện được năng lực vô hạn lượng của vạn tượng; nên có thể nói: A-lại-da là cái căn bản của hiện tượng giới. Hiện tượng là do chủng tử phát sinh, và hiện tượng khi đã phát hiện lại là động lực kích thích phát sinh duyên mới. Cứ đắp đổi làm nhân quả qua lại mãi như vậy, mà chúng sanh cứ trôi lăn trong bao kiếp luân hồi.

* Trang 129 *
device

Vì chứa đựng tất cả, nên trong A-lại-da, bên cạnh hạt giống hữu lậu, cũng có hạt giống vô lậu. Hạt giống vô lậu này, đối với ngoại giới biết có hư vọng, nên không để tâm vọng động, do đó có thể đưa đến giải thoát.
3. Chân như Duyên khởi: thuộc Đại Thừa Chung giáo.
Tâm có hai phương diện: về động là “sanh diệt môn”, về tịnh là “Chân như môn”. Chân như vốn thường trụ, bất động, nhưng do vô minh làm duyên mà từ một tâm sanh ra hai môn tương phản, có mặt muôn hình vạn tượng, vũ trụ vạn hữu. Vô minh cũng do từ nơi tâm mà có, vũ trụ vạn hữu cũng do từ tâm sanh. Nhưng trong động có tịnh, trong tịnh có động. Tâm, Chân như và vô minh được ví như biển, nước và sóng; không phải ba cũng không phải một. Tâm tùy duyên nhiễm sanh ra lục phàm, tùy duyên tịnh sanh ra tứ thánh. Từ tịnh trở thành động, là đi vào cửa sanh diệt, đó cũng là nguyên nhân phát triển của vũ trụ vạn hữu. Từ động trở thành tịnh, là đi vào cửa Chân như, đó cũng là nguyên nhân của giải thoát.
4. Lục đại Duyên khởi: là chủ trương của Mật tông hay Chân Ngôn tông.
 

* Trang 130 *
device

Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, không (5 đại thuộc vật lý) và thức (thuộc tâm lý). Sáu đại này mỗi mỗi dung thông, không ngăn ngại nhau, tùy duyên sanh khởi ra vũ trụ vạn hữu. Vật và tâm, hình tướng và năng lực hoạt động, do trí thức phân biệt mà có, chứ bản thể thực tại vẫn là một. Sự còn mất của con người, sự hoạt động của vũ trụ vạn hữu… đều do quá trình kết hợp, ly tán không ngừng của lục đại mà thành. Chân như là thật thể của lục đại, mà lý tánh của ta trừu tượng được. Lìa hiện tượng không có thật thể, lìa vật không có lý. Thánh - phàm, thiện - ác khác nhau ở chỗ biết hay không biết phân biệt Chân như với hiện tượng.
5. Pháp giới Duyên khởi: chủ trương của Đại Thừa Viên giáo (Hoa Nghiêm tông).
Thuyết này cho rằng pháp giới là một sự trùng trùng duyên khởi, nghĩa là các pháp làm nhân, làm duyên cho nhau, nương tựa, tương phản, dung thông nhau mà thành lập. Cái năng lực chủ động của duyên khởi không phải nghiệp lực, A-lại-da hay lý tánh bình đẳng của Chân như, mà là sự dung thông giữa các pháp trong một quy mô vĩ đại, cho nên gọi là “Trùng trùng Duyên khởi”. Như vậy, vũ trụ vạn hữu là một hoạt động từ vô thỉ đến vô chung của hiện tượng. Sở dĩ các pháp làm nhân, làm duyên một cách vô ngại, để hoạt

* Trang 131 *
device

động tạo nên sanh diệt, chuyển biến là do 10 đặc tánh kỳ diệu (10 huyền môn) và 04 pháp giới: lý, sự, lý-sự, sự-sự đã trình bày trong Hoa Nghiêm tông).
Năm thuyết về Duyên khởi trên, tuy khác nhau về tầng bậc cao thấp tùy thuộc theo mỗi căn cơ chúng sanh, nhưng đều có một điểm chung: Đều công nhận Chân như là bản thể của vũ trụ vạn hữu. Cái nguyên nhân sanh khởi của vũ trụ vạn hữu là vô minh. Do đó, muốn giải thoát thì phải diệt trừ vô minh.
IV. Không gian và thời gian của pháp giới
1. Không gian vô cùng tận: Vũ trụ này có vô số thế giới, như quả địa cầu này là một thế giới. Hiệp một nghìn thế giới thành một tiểu thiên thế giới, hiệp một nghìn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới, hiệp một nghìn trung thiên thế giới thành một đại thiên thế giới. Vũ trụ này có vô số đại thiên thế giới như thế. Trong kinh thường gọi là “tam thiên đại thiên thế giới”.
2. Thời gian không thể nghĩ bàn: Mỗi thế giới đều phải theo chu kỳ thành - trụ - hoại - không, sự hoại - không của thế giới này là sự thành - trụ của thế giới khác. Một chu kỳ như thế được gọi là một đại kiếp, mỗi đại kiếp có bốn trung kiếp ứng với một thời kỳ, mỗi trung kiếp có 20 tiểu

* Trang 132 *
device

kiếp, mỗi tiểu kiếp tương đương 16.000.000 năm. Vậy, mỗi thế giới từ khi hình thành đến lúc hoại diệt trải qua: 4 x 20 x 16.000.000 = 1.280.000.000 năm. Do các thế giới trong vũ trụ nhiều như số cát sông Hằng, nên thời gian tồn tại của pháp giới lâu dài, không thể suy tính, nghĩ bàn được.
C. KẾT LUẬN
Dựa vào sự nghiên cứu về các luận thuyết duyên khởi trên và dựa theo căn cơ, nghiệp lực của chúng ta, thì hai thuyết Nghiệp cảm duyên khởi và A-lại-da duyên khởi rất phù hợp để chúng ta cải tạo vũ trụ. Bởi thế giới này thanh tịnh hay bất toàn, đều do chiêu cảm bởi nghiệp lành hay dữ, và do huân tập các chủng tử vô lậu hay hữu lậu trong A-lại-da. Do đó, đối với nghiệp, chúng ta phải có hướng ra khỏi sự hoặc, lý hoặc, dứt các nghiệp ác, hành các nghiệp lành để chiêu cảm chánh báo, y báo đời sau được trang nghiêm, tốt đẹp. Đối với chủng tử, chúng ta nên huân tập các điều chân chánh của Thánh hiền để tu quán các pháp là duy thức và phá trừ ngã chấp, pháp chấp. Được như thế, chắc chắn chúng ta sẽ làm cho thân thể và vũ trụ này trở nên hoàn toàn thanh tịnh.


 
***

* Trang 133 *
device

 
Phật học khái lược 2