LOGO VNBET


NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
 
A. MỞ ĐỀ
Người ta sinh ra ở đời không khác gì trái cây ở trên cành: Có những trái lớn, có những trái nhỏ, có những trái xanh có những trái già... Những trái cây ấy đã có lúc sinh ra tức có ngày rụng xuống, trái rụng trước, trái rụng sau, nhưng trái nào cũng phải rụng xuống hết. Sự có mặt của loài người ở đời cũng như thế: Có người sống 50 tuổi, người 70 tuổi, người 80 tuổi, hy hữu có người sống đến 100 tuổi hay hơn trăm tuổi, nhưng ai cũng phải có ngày qua đời, người trước kẻ sau không ai tránh khỏi. Sự sống thật bấp bênh, nhưng cái chết lại rất chắc chắn. Hơn nữa, suốt quá trình sống và chết con người phải đối đầu với bao khổ đau dồn dập về tâm sinh lý, về tinh thần và vật chất. Vì thế, đã là người không ai không một lần băn khoăn tự hỏi: "Do đâu mà ta có mặt trong cõi đời này?”, "Thực trạng của thân xác ta như thế nào?", "Thân phận ta ra sao?"... Những nỗi băn khoăn về vấn đề sống chết ấy được các triết học gia và tôn giáo gọi chung bởi cụm từ "Nhân sinh quan" và đã trở thành "bài toán khó" đối với bao triết gia và các giáo chủ trải qua nhiều thế kỷ. May mắn thay! Đáp số của bài toán ấy

* Trang 134 *
device

đã được tìm thấy qua lời dạy của Đức Phật Bổn Sư Thích-ca.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Con người do đâu mà có?
Như chúng ta biết, trường phái triết học Duy tâm lấy thế giới ý niệm tuyệt đối làm bản nguyên hình thành con người và thế giới. Trong khi đó, trường phái triết học duy vật thì lại không thừa nhận một thế giới nào có thể tồn tại ngoài thế giới vật chất duy nhất. Nếu căn cứ theo hai trường phái này, dường như chúng ta cảm nhận một điều gì bất ổn trong đó. Đức Phật không bao giờ nói, Ta chỉ thừa nhận thế giới vật chất hoặc chỉ thừa nhận thế giới tinh thần, mà Ngài chỉ bảo rằng con người vốn từ duyên sinh, thế giới cũng từ duyên sinh, nên tất cả đều không có thực ngã. Khi trình bày về thế giới và con người, Đức Phật đã dùng đến 12 chi phần nhân duyên để thuyết minh về quá trình hình thành của con người. Trong 12 nhân duyên, Vô minh là tiếng gọi chung của các thứ phiền não, cũng gọi là “hoặc” (mê lầm). Hành là sự tạo tác của tâm chúng ta, có khi lành, có khi dữ, có khi không phải lành cũng không phải dữ, cũng gọi là “nghiệp” (hành động). Hai thứ Vô minh và Hành là nhân quả của quá khứ mà chúng ta đã gây nên. Thức là một ý niệm đầu tiên do “hoặc - nghiệp” của đời quá khứ xúi giục chúng ta đầu thai ở kiếp này. Khi chúng ta đầu thai, năng lực của tâm thức mạnh hơn tất

* Trang 135 *
device

cả, cho nên giai đoạn đó được gọi là Thức. Danh sắc là một danh từ để chỉ giai đoạn sau khi đã đầu thai, nhưng thân tâm chúng ta chưa hoàn bị. Danh tức tinh thần, Sắc tức hình thể. Vì lúc bấy giờ, tâm thức chúng ta còn mờ ám, hình thể chúng ta chưa vẹn toàn, cho nên không gọi là thân tâm mà gọi là Danh Sắc. Lục nhập là tuy chúng ta còn ở trong thai, nhưng đã có đủ 6 căn, nghĩa là thân thể của chúng ta đã hoàn bị, thì 6 căn ấy sẽ có sự nạp thọ. Xúc là sau khi chúng ta đã ra khỏi thai, rồi đến hai, ba tuổi, chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh chỉ có cái cảm giác đơn thuần chứ không có tâm tình yêu ghét. Thọ là những giai đoạn từ năm tuổi đến mười hai, mười ba tuổi, tâm thức của chúng ta trong thời kỳ đó đã phát đạt dần, đã biết hy vọng về sự ăn uống và đồ chơi, đồng thời cũng có những tình cảm khổ vui. Năm thứ từ Thức đến Thọ là những khổ quả sinh ra trong thời hiện tại của chúng ta. Ái là từ mười bốn, mười lăm tuổi trở lên, đối với tài sắc chúng ta sinh lòng ham đắm. Thủ là tâm ham đắm đã tăng cường, thì chúng ta muốn thâu thủ cho được cái mình ưa thích. Hữu là vì tâm niệm Ái và Thủ xúi giục, nên chúng ta tạo ra nhiều thứ nghiệp nhân, tất nhiên chúng ta phải chịu khổ quả ở tương lai. Ba thứ Ái, Thủ, Hữu chính là nhân của hiện tại mà chúng ta đã tạo nên. Sinh là do cái nhân hiện tại đã gây tạo, chúng ta phải thọ sinh ở đời sau. Lão Tử là từ khi thọ sinh cho đến khi tử diệt ở đời sau. Hai thứ Sinh và Lão Tử là quả ở vị lai của chúng ta. Như thế, từ nhân quá khứ sang quả hiện tại,

* Trang 136 *
device

và quả hiện tại lại làm nhân cho quả tương lai, ba đời cứ nối tiếp xoay vần mãi mãi không dứt, như một bánh xe xoay tròn lên xuống không dừng nghỉ.
Nếu chúng ta xuôi theo dòng sinh tử, thì Vô minh duyên sinh Hành, rồi Hành duyên sinh Thức, Thức duyên sinh Danh Sắc, Danh Sắc duyên sinh Lục Nhập, Lục nhập duyên sinh Xúc, Xúc duyên sinh Thọ, Thọ duyên sinh Ái, Ái duyên sinh Thủ, Thủ duyên sinh Hữu, Hữu duyên sinh Sinh, Sinh duyên sinh Lão, Tử, sầu, bi, khổ, ưu, não, cứ sinh sinh, tử tử luân hồi không ngừng.
Qua cách trình bày 12 nhân duyên, chúng ta thấy con người dưới sự xác định của đức Phật, là con người kết hợp giữa Danh và Sắc, nghĩa là con người đầy đủ cả tâm lý và vật lý. Và con người chẳng những chỉ sống trong một đời hiện tại này mà trong quá khứ đã từng trải qua vô số đời sống rồi, và trong vị lai cũng sẽ còn vô lượng đời sống nữa nếu phiền não chưa được tận diệt.
II. Thực trạng của thân người
Như trên chúng ta đã biết, con người do từ một niệm bất giác mà có mặt trên cõi đời. Nhưng sau khi hình thành, thân con người như thế nào? Đẹp đẽ hay xấu xa, thật có hay giả có, đáng quý hay đáng khinh? Vấn đề này được giải đáp minh bạch trong mọi khía

* Trang 137 *
device

cạnh, từ hẹp đến rộng, từ cạn đến sâu, từ ngoài đến trong... qua những đặc tính sau:
1. Thân thể như y phục
Thân người hoà hợp, do tinh huyết cha mẹ cùng thần thức, tứ đại mà thành, nhưng chủ động là nghiệp thức. Nghiệp thức ấy có ra do bởi sự gây tạo từ đời trước huân tập nơi tự tâm, kết thành công năng có tánh cách người, có thể chiêu cảm thân người. Như vậy là từ nơi tự tâm tạo tác hành nghiệp, các hành nghiệp ấy trở lại huân tập thành công năng nghiệp người nơi tự tâm, cho đến khi công năng nghiệp thức ấy thuần thục, gặp đủ các trợ duyên, chiêu cảm hiện ra có thân người. Vậy, thân thể không phải tự nhiên không nhân mà có, cũng không phải do một đấng tạo hoá nào làm ra, mà chính do tự tâm tạo, tự tâm biến hiện, nên có câu: "Nhất thiết duy tâm", "tam giới hữu tình, giai tùng nghiệp hữu". Thân thể theo nghiệp nhơn mà có, nghiệp nhơn hết hạn định thì thân thể rã rời. Trong khi thân thể còn, từ nơi tự tâm tạo tác các hạnh nghiệp để gây thành công năng chiêu cảm thân sau, và thân sau này sẽ thành hiện tại khi thân trước đã theo nghiệp báo tiêu diệt. Cho nên, Phật giáo đối với sự chết, chỉ là sự xoay biến của nghiệp thức nơi tự tâm. Chết để thay đổi thân mới, sanh để thế thân cũ, quanh quẩn vòng chết và sanh, sanh và chết, thay thân cũ lấy thân mới, lấy thân mới để thế thân cũ như người thay y phục. Cũng là người, tại sao có người xấu có người đẹp? ấy là lúc

* Trang 138 *
device

bình sanh, thân, khẩu, ý đã tạo nghiệp lành hay nghiệp ác. Nghiệp lành cảm thân tốt đẹp, nhơn dữ chiêu cảm quả xấu xa, do tự tâm tạo rồi tự thọ. Kinh Thiện Sanh dạy: "Người nào muốn có thân hình tốt đẹp khoẻ mạnh, an hưởng hạnh phúc trong cuộc đời, thì nên ăn ở hợp pháp trong gia đình về nhơn đạo, lấy năm giới cấm làm căn bản".
2. Thân là cội khổ
Thử nghiệm xem, những sự thống khổ ở trong thế gian từ đâu mà có? Phải chăng do nơi thân thể? Các sự thống khổ như: Lạnh, nóng, đói, mỏi, đau... đều thuộc về nơi thọ, mà thọ có ra là bởi lục căn tiếp xúc với lục trần, thân thể là chỗ nương của lục căn, nên sự khổ thọ lấy thân làm gốc. Vả lại, người đời không có gì khổ bằng: Lúc sanh đau đớn kêu la, khi già lụm cụm run rẩy, lúc ốm đau yếu đuối bức rức, khi chết giãy giụa hãi hùng, bốn việc đại khổ ấy lại là cái khổ sanh, trụ, dị, diệt của thân thể.
Xưa có bốn thầy Tỳ Kheo cho rằng ở đời sự sợ sệt, sự nóng giận, sự dâm dục cùng sự đói khát là khổ nhất. Sự nhận định ấy đã bị Đức Phật quở trách, vì chưa xét đến thân là gốc của muôn điều khổ. Không thân thì các sự khổ: Sợ, giận, dâm, đói ấy từ đâu mà có? Vì thế cổ nhân có câu: "Thân vi bổn khổ", "Thân như oán thù".

* Trang 139 *
device

3. Thân là bất tịnh
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường bẵng quên cái khởi thuỷ tinh cha huyết mẹ và trạng thái bại hoại về sau của thân thể, chỉ cố chấp cái thân trẻ trong hiện tại và lầm tưởng nó thật có, nên ra sức trau chuốt, xông ướp bởi bao lụa là gấm vóc, xạ hương. Thật sự, thân thể chỉ là một túi thịt hôi tanh bất tịnh, chỉ nghĩ đến các chất từ cửu khiếu (9 lỗ cống) trong thân chảy ra cũng đủ thấy quá gớm. Thân thể con người xuất hiện bởi điểm tinh giọt huyết hoà lẫn trong khi nghiệp thức vọng tưởng mê cuồng với sự giao hợp của cha mẹ mà kết thành. Sự dơ dáy của tinh huyết, sự đáng nhờm của bào thai, thật không bút mực nào tả hết. Hơn nữa, sau khi nghiệp thức xa lìa, thân thể sẽ xanh cứng, sình trướng, tan rữa ra và trở thành môi trường sinh sống của đám giòi, ruồi, kiến... Lúc mới kết hợp thì tinh huyết bất tịnh, khi sinh sống thì đàm đạnh, phân dãi, máu mũ bất tịnh, lúc chết thì tan rã hôi tanh bất tịnh. Như vậy, thân người là một vật bất tịnh nhất trong các vật bất tịnh.
4. Thân là vô thường
Mọi vật ở đời không đứng yên một chỗ, mà biến chuyển di động luôn luôn trong từng phút, từng sát na. Thân phút trước không phải là thân phút sau. Cứ trong mỗi phút giây, bao nhiêu triệu tế bào trong người đang chết và bị thay thế. Sự biến chuyển mau lẹ từ tóc xanh

* Trang 140 *
device

đến bạc đầu, từ mạnh mẽ, tươi tắn thành yếu đuối, mệt nhọc, nhăn nheo, chẳng khác gì một giấc chiêm bao. Đã có thay đổi, tất phải có lúc tiêu diệt, không ai có thể ngăn chặn được sự thay đổi nhanh chóng của thân và cũng không thể định hạn "cái chết". Mạng sống con người không khác “chỉ mành treo chuông”. Một hơi thở ra mà không hít vào tức là đời sống của thân không còn, giờ tan rã đến.
5. Thân là vô ngã (hợp tướng)
Con người cũng như mọi vật, sở dĩ có, là do nhân duyên hoà hợp. Con người chỉ là một cái tên, là một giả danh để gọi các hội hợp của 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Khi đủ nhân duyên chúng tập hợp lại thì gọi là sống, khi chúng tan ra thì gọi là chết. Trong năm uẩn ấy, có cái gì là chủ tể, thuần nhất đâu? Vả lại, ngay năm uẩn ấy cũng không có cái nào là thuần nhất, mà cũng lại do sự tập hợp của lục đại. Không thường mà tưởng là thường, không ngã mà tưởng là có ngã, chính là cái mê mờ lớn nhất của con người. Do mê mờ ấy mà con người khổ đau lại càng khổ đau hơn.
6. Thân như huyễn hoá
Thân có là do Thức, Thức có công năng biến hiện, có công năng hiện thân, bởi các nghiệp duyên huân tập nơi Thức mà thành. Nghiệp duyên có ra, lại nương nơi thân mà phát khởi, nên thân thể là pháp hư giả, do Thức biến hiện.

* Trang 141 *
device

Song từ nơi thân thể tạo nghiệp nhiễm hay tịnh, làm duyên huân tập nơi tự tâm, khiến tự tâm chuyển thành công năng nhiễm hay tịnh. Thân thể cùng công năng xoay chuyển làm nhơn duyên cho nhau, có không phải là thật có, không cũng không phải là thật không. Thật như huyễn hoá!
7. Thân mình và vũ trụ là một
Tất cả các pháp đều đắp đổi làm duyên, đối đãi với nhau. Một pháp này có ra, là do đối đãi với các pháp kia, các pháp kia có ra, là do đối đãi với pháp này. Thân thể hiện có là nhờ vũ trụ đối đãi với thân thể mà có. Duyên nơi vũ trụ mà có thân thể, thì thân là tiểu vũ trụ (vũ trụ thu nhỏ). Duyên nơi thân mà có vũ trụ, nên vũ trụ cũng là thân. Vũ trụ và thân thể không hai không khác.
III. Thân phận của con người
1. Địa vị của con người trong vũ trụ
Theo vũ trụ quan của Phật giáo, thế giới gồm có ba tầng bậc: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Sống trong Dục giới là những sanh vật còn bị lòng dục sai sử, điều khiển. Như trước đã nói, con người khởi thuỷ từ sự giao hợp của cha mẹ, do đó, con người là một trong những loài sống trong Dục giới. Dục giới gồm có các cõi: Thiên (Dục Thiên), Nhơn, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Nhìn thân báo của những loài đồng cõi

* Trang 142 *
device

với mình, con người không tránh khỏi ngậm ngùi đắng cay cho thân phận của mình. Đối tượng thường sai khiến con người khởi lòng tham dục, là tài, sắc, danh, thực, và thuỳ (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, thức ăn và ngủ nghỉ). Sống trong một hoàn cảnh mà bị lòng dục làm chủ tể thì thật là bi đát.
2. Cái lầm to lớn của con người
Tất cả mọi sự vật trong thế gian này đều biến chuyển không ngừng: Chúng luôn luôn sanh, trụ, dị, diệt. Thế giới không một vật nào tồn tại vĩnh viễn và có thể đứng yên một chỗ. Con người cũng vậy, vì không nhìn đúng thật tướng của vạn pháp, nên con người sống trong cảnh giả dối, khởi lên tà kiến: Các pháp vô thường chấp là thường, các pháp vô ngã chấp là ngã, các pháp không thanh tịnh chấp là thanh tịnh, khổ đau chấp là an lạc, nên bị luân hồi và đau khổ triền miên. Với thân tâm  nô lệ lòng dục, cộng thêm căn bệnh lầm chấp, con người trở nên khao khát đủ mọi thứ trên đời: khao khát dục lạc, khao khát thú vui, khao khát vật chất, khao khát đời sống vĩnh cữu. Hết ham muốn cái này lại móng khởi ưa thích cái khác, cứ thế suốt cuộc đời rong ruổi tìm cầu lạc thú. Nhưng càng tìm cầu thì sự thèm khát càng cao độ, như người khát nước mà uống nước mặn. Đối với cuộc đời này, con người chưa một lần biết đủ, cảm thấy mình như một người thiếu thốn, họ tìm mọi cách để ôm trọn thế gian này. Nhưng tiếc thay! Sự sống con người thật ngắn ngủi,

* Trang 143 *
device

một trăm năm không đủ bề dày thời gian để làm thoả mãn lòng tham của họ, vì thế đã khổ lại càng khổ hơn, khổ cả một kiếp người.
3. Con người là tối thắng
Sanh ra, lớn lên, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, con người phải tiếp xúc với bao khổ đau cùng tột, khổ đau bởi thân xác, khổ đau bởi mê lầm, khiến họ rơi vào trạng thái bi quan “cầu Trời khẩn Đất”. Con người lại lầm tin rằng chỉ có Chư Thiên mới có thể cứu khổ họ, vì thế, họ tự nguyện làm tôi tớ cho Chư Thiên. Lợi dụng sự cuồng tín ấy, nhiều giáo phái ra sức hành hạ con người hơn. Trước bối cảnh ấy, Đức Bổn Sư Thích-ca đã thị hiện ở đời với Kim ngôn: "Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tối thượng". Với kim ngôn ấy, Đức Phật khẳng định, không có Thượng đế hoặc đấng Tạo hoá nào sinh ra con người, chỉ có con người là tối thắng. Sự sống chết của con người đều do con người quyết định. Cuộc đời của con người như thế nào, sướng hay khổ, sang hay hèn... đều do con người quyết định. Và suốt cuộc đời hoằng pháp độ sanh. Ngài luôn nhắc nhở chúng sanh phải tự giác ngộ lấy mình, mọi hành động đúng sai, thiện ác, khổ đau hay hạnh phúc trong cuộc đời đều do mình làm, tự mình quyết định lấy cuộc đời của mình. Nếu không tự giác ngộ lấy mình, thì bao nhiêu tật xấu sẽ dắt dẫn, chi phối làm chúng ta trở nên xấu xa, ngu muội: "Không cha mẹ,

* Trang 144 *
device

trời đất hay ai làm cho ta cao thượng hay thấp hèn, chỉ có hành động của ta làm cho ta cao thượng hay thấp hèn thôi; không phải ai khác làm cho ta ô nhiễm hay trong sạch, mà chỉ do ta làm cho ta ô nhiễm hay trong sạch mà thôi".
Vả lại, trong số sáu loài chúng sanh sống trong cõi dục, Chư Thiên phước báo hơn người, ít chịu khổ hơn loài người, vì thế họ không chán cuộc sống của họ và khó khởi niệm tu tập dõng mãnh để thoát khỏi tam giới. Còn loài A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỹ, Súc sanh thì không đủ trí tuệ để nhận định đường hướng sống của mình. Do đó, loài người là tối thắng, có đủ điều kiện để thoát khỏi cái khổ tam giới. Đức Phật là tấm gương sáng điển hình để loài người chúng ta noi theo và tin tưởng vào khả năng thăng hoa đời mình. 
Không những chỉ kêu gọi chúng sanh tin tưởng khả năng tự chủ của chính mình, mà Đức Phật còn vạch ra cặn kẻ đường hướng thực hành cho chúng sanh. Muốn được sống một cuộc đời hạnh phúc an lạc trong kiếp người, thì tu trì năm giới. Muốn thoát khỏi cái khổ thai sanh nhớp nhúa và được phước báu hơn người về thân thể ở cõi trời thì tu thập thiện. Muốn thoát khỏi khổ luỵ ở tam giới, thì quán thân là cội khổ, thân là bất tịnh, thân là vô thường, thân là giả hợp. Nhờ đó mà thoát ly sanh tử trong tam giới. Muốn tròn hạnh Bồ-tát cần phải quán thân như huyễn hoá, thân đồng với vũ trụ.

* Trang 145 *
device

Khả năng tiềm ẩn của con người không những chỉ có thể thoát khỏi tam giới, mà còn có khả năng làm Phật, làm thầy của trời người. Điều này được xác định qua lời dạy của Kinh Pháp Hoa: "Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật". Trong các tôn giáo cũng như trong các giáo chủ, chỉ có Phật giáo mới có tinh thần nâng cao giá trị, địa vị con người như thế. ấy chính là nhờ sống theo nguyên lý duyên khởi Vô ngã. Nguyên lý Duyên khởi Vô ngã là chìa khoá phá bỏ cánh cửa ngăn cách giữa người với người, và phá bỏ trạng thái tâm lý tự ty mặc cảm của kiếp người.
C. KẾT LUẬN
Kinh Pháp hoa dạy: "Các Đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời, đó là vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật". Do đó, suốt quá trình hoằng pháp độ sanh, Đức Phật dùng mọi phương tiện khai ngộ cho chúng sanh. Và Ngài thường quở trách những người đệ tử có tâm truy tìm cội nguồn vũ trụ, nhân sinh. Đối với Ngài, ấy là việc hý luận vô ích. Mục tiêu chính của người học Phật, tu Phật, là liễu thoát sanh tử khổ đau, tìm an lạc trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta phải ý thức rõ điều ấy và áp dụng ngay pháp tu đối với bản thân mình. Tiêu đề "Nhân sinh quan Phật giáo" được dùng ở đây chỉ để thích hợp với ngôn ngữ thời đại. Thật ra, nó chỉ đề cập đến những vấn đề sống của con người với mục đích cung cấp, tô bồi cho mọi người niềm tin vững mạnh vào khả năng thành Phật của mình.

* Trang 146 *
device

 
Phật học khái lược 2