LOGO VNBET


LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
 
A. MỞ ĐỀ
Lịch sử Phật giáo Ấn Độ bắt đầu hình thành từ lúc đức Phật Đản sanh, cách nay hơn 2500 năm vào sau đó lan rộng khắp thế giới. Phật giáo truyền thới nước nào thì được quốc gia và dân tộc nước ấy tiếp nhận và làm nên trang sử Phật giáo riêng cho nước đó. Bên cạnh trang sử ấy, giáo lý Phật giáo được phiên dịch, hoằng truyền cùng với sư chú giải nghĩa lý sâu, cạn, rộng, hẹp, cao, thấp tuỳ theo từng đối tượng thích ứng với con người, xã hội và văn minh, văn hoá, phong thổ... của nước đó, do vậy trang sử Phật giáo và là phong phú và đa dạng. Riêng  Ấn Độ kể từ khi đức Phật còn tại thế đã có 16 nước (1. Mâagadha, 2.Kosala, 3.Anga, 4. Kasi, 5.Vajji, 6.Malla, 7. Ceti, 8. Vamsa, 9. Kuru, 10. Pancala, 11. Maccha, 12. Surasena, 13. Assaka, 14. Avanti, 15. Gandhara, 16. Kanboja) và đến triều đại Khổng Tước (Chandragupta) thế kỷ III trước Dương lịch thì vua A Dục đã thống nhất đất nước Ấn

* Trang 147 *
device

Độ, mở rộng bờ cõi, lập nên vương quốc rộng lớn từ biển nam Ấn Độ Dương lên đến các vùng Trung Á và Tây Hạ Trung Hoa. Vì vậy, lịch sử Phật giáo Ấn Độ rất rộng và có thể nói nhiều dữ kiện lịch sử xảy ra sau dương lịch. Cho đến nay vẫn còn một vài điều chưa được xác định một cách chắc chắn. Bài học này được soạn một cách khái quát lược sử, để mỗi học viên có thể hiểu được nội dung, đồng thời đưa ra những sự kiện chính trong từng giai đoạn lịch sử quan trọng của Phật giáo.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Văn minh Ấn Độ trước thời đức Phật
1. Văn minh Ấn - Hà (Indus)
Thời Kỳ-này xuất hiện khoảng hơn 2.500 năm trước Dương lịch., được gọi là nền văn minh đồ Đồng. Trung tâm chính là 2 khu vực Ngũ hà (Panjab) và Tín - độ - tộc (Đravidian), chính 2 con sông này dẫn nước cũng như chi phối văn minh tới toàn lãnh thổ sông Hằng (Ganges) và Nam Ấn (Gujarat). Sau đó dân Aryan sớm đồng hoá. Dựa vào đây, sau này các giáo sĩ Bà-la-môn cải biên thành kinh Phệ -đà (Rig - Veda tạo

* Trang 148 *
device

sau) dài 4.000 bài tụng, nội dung gồm nhiều thể loại như suy tư về thần bí, tế lễ, luật pháp, ngôn ngữ, thiên văn học, y học, địa lý học tất cả đều thuộc lãnh vực siêu hình huyền bí nhưng cũng là tư tưởng chủ đạo chi phối toàn bộ hệ thống tôn giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ sau này. Điều đáng chú ý là hệ thống chính trị xã hội như sách luật Mã-não (Manu, tiền thân của Ấn giáo) và bốn giai cấp (Bà-la-môn; Sát-đế-lợi; Tỳ-xá và Thủ-đà-la) cũng hình thành từ kinh điển Phệ-đà.
2. Thời kỳ Bà-la-môn (Bràhmana)
Thời này là thời chủ nghĩa Phạm thiên ra đời vào khoảng 1.000 - 800 trước dương lịch. Và lấy khu vực sông Hằng làm trung tâm, cũng dựa vào kinh Phệ-đà nhưng nhân sinh quan và vũ trụ quan chứa đựng tư tưởng nhất thần giáo tức Phạm thiên, lập xã hội có vua và quan để cai trị, dân cũng phân thành 4 giai cấp và 1 loại phi giai cấp. Năm giai cấp đó là: 1. Bà-la-môn (bràhmana): người cao quý, lo việc tế lễ và tôn giáo, 2. Sát-đế-lợi (kratriya): Vua, quan, binh lính nắm quyền cai trị, 3. Tỳ-xá (Vaisya): dân, nông, thương lo lao động, sản xuất, 4. Thủ-đà-la (Sùdra): Nô lệ, lo phục

* Trang 149 *
device

dịch và cũng là vật để mua bán. Ngoài ra còn co một hạng người không được quyền có giai cấp, là hạng người mà bốn giai cấp kia cho là ô uế, không đáng là người!
Tư tưởng của chủ nghĩa này được chia thành 3 giai đoạn: 1) Quan niệm luận, họ cho rằng thần Prajàpati là đấng sáng tạo ra tinh tú, mặt trời, mặt trăng, trái đất, sau đó tạo thần gió, thần lửa, thần nước và cuối cùng tạo ra con người cũng như vạn vật, hiện tượng. 2) Vũ trụ luận, họ chủ trương Phạm Thiên là Đại ngã (Bràhmana) và mỗi con người là mỗi tiểu ngã (Àtman), tiểu ngã luôn luôn liên hệ với đại ngã nếu người nào biết tu thiện và trả sạch nghiệp. 3) Nhân sinh luận họ cho rằng Phạm thiên vừa duy trì bản chất vĩnh cữu của nó, vừa duy trì mọi hoạt động của tâm và vật. Tâm và vật vừa là Phạm thiên vừa là tác dụng phản ứng của Phạm thiên.
3. Thời kỳ Áo Nghĩa Thư (Upanishad)
Được hình thành khoảng 800 - 600 năm trước dương lịch, họ chủ trương học thuyết Phạm - ngã - đồng - nhất thể tức Tiểu ngã hoà cùng Đại ngã, thoát ly sanh

* Trang 150 *
device

tử. Con đường thực hiện trải qua 3 giai doạn: 1. Giải thoát phải tự tìm ở chính mình, không ở bên ngoài. 2. Giải thoát phải an trụ vào tự tính của trí tụê. 3. Phải điều khiển sự tu tập theo phương pháp Du-già (Yoga) để quán trí phát khởi. Giải thoát tối hậu là nhập vào Đại ngã.
II. Bối cảnh Ấn Độ trong thời đức Phật
1. Tình hình xã hội và chính trị
Vào thời đức Phật tại thế, đất nước Ấn Độ rất rộng gồm nhiều nước (Tích Lan, Đông Hồi, Tây Hồi, Nepal hiện tại), do đó các nước luôn gây hấn và thôn tính lẫn nhau. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 9 trước dương lịch. Vua Paurava cai trị và dời kinh đô về các vùng đồng bằng dọc theo lưu vực sông Hằng, đất đai màu mỡ nên việc nông và chăn nuôi trở nên giàu có hơn, con người biết sở hữu của cải nhiều hơn, vua chúa bóc lột nhiều hơn. Lợi dụng cơ hội này, đạo Bà-la-môn càng ngày càng xen vào việc danh, lợi và dính dáng với trần thế nhiều hơn, tự đánh mất bổn phận từ bỏ thế gian để nhập vào thánh thể Đại ngã Phạm thiên. Khoảng thế kỷ thứ 8 trước dương lịch. Triều đại Nicakau thì cả nước bị nạn lụt rất lớn, dân chúng đói khổ, chiến tranh

* Trang 151 *
device

nổi lên, kinh thành phải chia thành 2 nơi, một dời về Kosambì, một dời về Magadhà mà sau này trở thành hai nước lớn.
Đến thời kỳ đức Phâït, khoảng thế kỷ thứ 6 trước dương lịch, tình trạng xã hội lúc bấy giờ có nhiều khủng hoảng, mỗi nước lớn có những nước chư hầu xung quanh, tạo thành nhiều ý thức hệ khác nhau, nhiều thành phần xã hội khác nhau, mặc dù xã hội là 4 giai cấp nhưng giai cấp thứ 1 không phải ai cũng là người cao quý về đạo đức, giàu có của cải, thông minh, không ngu dốt, khoẻ mạnh và không tật nguyền; 3 giai cấp kia cũng vậy, tự thân mỗi giai cấp đã có trong nó sự mâu thuẫn gay gắt. Bên cạnh đó, đạo Bà-la-môn không gìn giữ được tính tôn giáo thuần tuý theo kinh điển Phệ đà, lại làm chỗ dựa vững chắc cho các bậc bướm chúa khiến cho con người hoài nghi về sự sống chính mình hơn là tìm phương cách thoát ra từ sự sống, vì vậy con người trở nên mất tự chủ, thụ động, chỉ gởi gắm tinh thần vào quy luật tự nhiên mà đấng Phạm thiên đã tạo ra. Ngoài ra, giới thượng lưu trí thức không chấp nhận hoặc bất mãn đời sống, lại không thể giải đáp những vấn dề xã hội như chiến tranh giữa các bộ tộc, đẳng cấp và chuyên quyền... Tất cả những vấn đề

* Trang 152 *
device

đó kích thích sự phản ứng nội tâm của họ: Con người là gì? Ai sanh ra? Sau khi chết sẽ đi về đâu? Ý nghĩa sự sống là gì?... Vì vậy họ từ bỏ gia đình và xã hội, đi lang thang rày đây mai đó để tìm câu trả lời cho sự sống của chính họ. Từ đó, nhiều tư tưởng tôn giáo, triết học ra đời mà cụ thể là Phật giáo và sáu trường phái ngoại đạo.
2. Sáu trường phái ngoại đạo
Cùng thời với đức Phật có 6 nhà ngoại đạo chủ trương mỗi học thuyết khác nhau, đức Phật gọi bọn họ là “Lục sư ngoại đạo”, trong đó có trường phái Kỳ-na giáo là tồn tại lâu, còn 5 phái kia thì 100 năm sau tự biến mất. Cần chú ý, đây là thời kỳ mà tính xã hội không thể thiếu vai trò tôn giáo, một sự phản ứng tư tưởng để tìm một cái mới cho sự sống con người.
a. Phú-an-đà Ca-diếp (Pùrana Kassapa):
Nó chủ trương thuyết vô nghiệp, mọi hành động đều không có thiện hay ác, tốt hoặc xấu đều không có ảnh hưởng quả báo, nghiệp lực.
b. Mạc-già-lê Câu-sá-lợi (Makkhali Gosàla):
Đạo này chủ trương thuyết vô nhân, không cần bố thí, tế tự, không lành, không dữ, không thiện, không ác, không kẻ ngu, không người trí, không đời này, không

* Trang 153 *
device

đời sau, không cha, không mẹ, tất cả đều bình đẳng, không cần tinh tấn, không cần nỗ lực. Kiếp sống con người như cuộn chỉ tung ra và chấm dứt cuối cuộn chỉ.
c. A-xì-đa Xí-xá-khâm-bà-li (Ajita Kéakambàli): Chủ trương thuyết đoạn diệt, không có đạo lý nhân quả, không có tội lỗi, không có phàm phu và cũng không có bậc Thánh, con người chết là hết, tiêu tan, không tồn tại sau khi chết.
d. Ba-phù-đà Ca-chiên-diên (Pakudha Kaccàyana): Chủ trương thuyết định mệnh, tất cả mọi hành động tạo tác, mọi điều tốt, xấu, thiện, ác, khổ đau hay hạnh phúc đều do số mệnh đã định sẵn rồi.
đ. Tán-nhã-di Tỳ-la-lê-phất (Sanjaya Belatthiputta): Chủ trương thuyết hoài nghi hay còn gọi “trường uốn như lươn” hoặc “nguỵ biện luận”, không xác định bất cứ gì, nếu ai hỏi có thế giới không? Không có thế giới? Có sinh vật hay không có? Có sanh và có tái sanh? v.v... Tất cả đều trả lời không xác định, vì họ chủ trương rằng họ không có nói như thế cũng không phải không nói như thế. Tất cả các sự vật, lý lẽ, học thuyết đều là hoài nghi.

* Trang 154 *
device

e. Ni-kiền-tử (Nigantha Nataputta): Chủ trương thuyết khổ hạnh, ép xác hay còn gọi “Phái loã thể”. Thuyết này cho rằng cái khổ con người là do nghiệp cũ báo ứng, muốn dứt trừ khổ phải không để cho nghiệp dấy khởi, bằng cách ép cái thân này đừng cho thọ và tạo nghiệp mới, ngay cả không được giết hại bất cứ sinh vật nào kể cả tắm rửa, và cũng không làm bất cứ điều gì. Họ sống bằng sự hành xác và tin vào chính họ, không tin thần linh hay đấng tối cao, chính phái này làm tiền thân cho đạo Kỳ-na giáo sau này.
III. Cuộc đời đức Phật
1. Lược sử đức Phật Thích-ca: (xem bài “Lược sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni” ở tập I).
2. Kinh điển
Sau khi đức Phật nhập diệt, tất cả đệ tử của Ngài nhận thấy những lời dạy của đức Phật là vô cùng quý giá và rất cần thiết cho con người, vì vậy chư vị Tỷ-kheo đã cùng nhau nhóm họp để tụng đọc và ghi chép lại những gì đức Thế Tôn đã dạy mà lịch sử gọi là 4 kỳ đại hội kết tập kinh điển Phật giáo.
a. Đại hội kết tập kinh điển lần I

* Trang 155 *
device

Về nguyên nhân, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 100 ngày, trong chúng tăng có Tỷ-kheo mới đi tu thời gian ngắn, chưa chứng quả, tên là Tu-ba-đa (Subhadda) khởi lên tà kiến, nói với các Tỷ-kheo khác rằng: “Bây giờ đức Phật không còn để bắt buộc chúng ta là phải làm việc này và không nên làm việc này... từ nay về sau chúng ta được tự do muốn làm việc gì thì làm, tuỳ theo sở thích”. Tin này được loan đi, ngài Ca-diếp (Mahà Kassapa) liền giáo giới Tu-ba-đa và cảnh báo: Vì để Pháp và Luật của đức Thế Tôn được thanh tịnh và an toàn trong tương lai nên triệu tập hội nghị kết tập kinh điển Phật giáo.
Nội dung của lần kết tập này gồm những điểm chính như sau:
Trước khi đại hội được tiến hành ngài Ca-diếp đại diện chúng Tăng-giáo giới:
- Tỷ-kheo Tu-ba-đa (Subhadda) từ bỏ tà kiến và khuyến tấn tu hành.
- Tỷ-kheo Xa-nặc (Channa) ỷ mình có công đánh ngựa giúp Phật xuất gia nên hay khinh thường các Tỷ-kheo khác cần phải từ bỏ.

* Trang 156 *
device

- Tỷ-kheo A-nan phải sám hối 6 lỗi: Vì xin đức Phật cho người nữ xuất gia; vì tâm thiếu cung kính nên khi khâu y cho đức Phật đã giẫm chân lên y Phật, vì không lấy nước cho đức Phật uống lúc Phật cần uống trước khi nhập diệt, khi đức Phật tuyên bố 3 tháng sau đức Phật nhập diệt, vì sao không thỉnh đức Phật trú thế thêm một kiếp để chúng sanh được lợi ích, khi đức Phật nhập diệt, tại sao để người đến đảnh lễ và khóc lóc bi ai làm rơi nước mắt lên chân đức Phật, trước lúc nhập diệt Phật có dạy nên bỏ những điều giới nhỏ nhặt, tại sao không hỏi những giới nào nên bỏ. Ngài A-nan đã sám hối và chứng quả A-la-hán trước lúc đại hội bắt đầu.
Vận động vua A-xà-thế bảo trợ cho 4 việc cúng dường (ẩm thực, y áo, thuốc men và vật ngồi, nằm), không những vua đã đồng ý mà còn phát tâm bảo vệ mọi sự an toàn cho chúng tăng đến khi nào Đại hội chấm dứt.
Chúng tăng suy cử ngài Ca-diếp làm chủ toạ, ngài A-nan (Ananda) tụng lại Kinh tạng: ngài Ưu-ba-li (Upali) tụng lại Luật tạng, và 500 Tỷ-kheo A-la-hán

* Trang 157 *
device

lắng nghe để thêm vào chỗ thiếu, bớt chỗ dư, Ngài chủ toạ đưa ra ý kiến cuối cùng, sau đó toàn thể đại hội biểu quyết. Đại hội này chỉ tụng 2 bộ Kinh tạng và Luật tạng, không viết thành chữ.
Địa điểm gồm những hang động có bóng cây che mát chung quanh động Thất Diệp (Saptapani), núi Vaibhara, thuộc nước Ma-kiệt-đà (Magadha).
Thời gian 7 tháng từ sau đức Phật nhập diệt 100 ngày.
Kết quả của lần kết tập này như sau: Đại hội kết tập kinh điển lần I có nhiều ý nghĩa: 1. Thành lập Kinh tạng, suy cử ngài A-nan chủ trì. 2. Thành lập Luật tạng, suy cử ngài Ưu-ba-li chủ trì. 3. Giáo giới và khuyến tấn các Tỷ-kheo có lỗi cũng như không có lỗi. 4. Củng cố niềm tin 4 chúng (2 chúng xuất gia và 2 chúng tại gia) để nương vào giáo pháp Phật tu hành. 5. Chánh pháp của đức Phật được tồn tại ở thế gian này. 6. Xác định tính lịch sử của Phật giáo.
b. Đại hội kết tập kinh điển lần II
Về nguyên nhân, cách đức Phật nhập diệt 100 năm, Phật giáo được truyền bá khắp nơi và số

* Trang 158 *
device

lượng người theo đạo Phật cũng nhiều hơn, vì vậy Tăng chúng ở xứ Bạt-kỳ (Vajji) chế ra 10 điều luật mà Trưởng lão Da-xá (Yasa) buộc tội đó là những điều phi pháp. Từ đó chia thành 2 đoàn tăng chúng sinh hoạt riêng, chính điều này khiến cho các vị trưởng lão lo lắng và để rút ngắn tình hình đó càng sớm càng tốt nên cả 2 bên đã quyết định tổ chức Đại hội kết tập Kinh điển lần II này.
Nội dung của lần kết tập này gồm:

Vì ngài Da-xá không những đã không chấp nhận 10 điều phi pháp mà còn khuyến khích các vị cư sĩ chỉ trích các Tỷ-kheo Bạt-kỳ nên bị chúng tăng Bạt-kỳ trục xuất Da-xá khỏi trú xứ. Do đó, ngài Da-xá đi đến thành Kiều đàm di (Kosambi) ở phía Tây sông Hằng và Ngài vận động chư Tăng ủng hộ cho quan điểm của mình, trong khi đó chư Tăng Bạt-kỳ ở phía Đông sông Hằng cũng vận động chư Tăng ủng hộ cho quan điểm của mình. Kết quả 2 bên đã đồng ý nhóm họp tại thành Vệ-xá-li (Vesali), tăng chúng phía Tây cung cử 4 vị Trưởng lão Hoà thượng: Ly-bàn-đa, Tam-phù-đà, Da-xá, và Tu-ma-na, tăng chúng phía Đông có

* Trang 159 *
device

4 vị Trưởng lão Hoà thượng: Tát-bà-ca-ma, Sa-lưu, Khuất-xà-tu-tỳ-đa, và Bà-tát-bà-già-mi, tất cả là 8 vị Đại biểu của 700 Tỷ-kheo.
Hội chúng suy cử ngài Ly-bàn-đa làm trưởng đoàn của Phật giáo phía Tây nêu ra những điều luật đã không đồng ý. Phật giáo phía Đông suy cử ngài Tát-bà-ca-ma làm trưởng đoàn để trả lời những điều luật mà Phật giáo phía Tây chất vấn. Cuối cùng toàn thể Đại hội đã biểu quyết và đi đến kết luận 10 điều luật trên là phi pháp, phi luật, hội nghị đồng ý.
Nhóm Tỷ-kheo Bạt-kỳ trả lời 10 điều phi pháp trước đại hội:
1. Giác diêm tịnh (Singilonakappa): Được phép để muối trong sừng cách 1 đêm qua ngày mai ăn với cơm không phạm.
2. Nhị chỉ tịnh (Dvangulakappa): Được phép ăn quá ngọ nếu mặt trời nghiêng bóng quá 2 ngón tay.
3. Tha tụ lạc tịnh (Gamantarakappa): Được phép ăn trước ngọ và đúng ngọ 2 lần nếu 2 chỗ ăn khác nhau.

* Trang 160 *
device

4. Túc xứ tịnh (Avasakappa): Đến ngày bố tát, tăng chúng cùng ở một trú xứ không nhất định phải bố tát chung.
5. Tán đồng tịnh (Anumatikappa): Bất cứ quyết định nào cũng phải thông qua phiên họp của chúng tăng, nhưng vì số thành viên còn lại ít nên tán đồng, không cần phải nhóm họp.
6. Sở tập tịnh (Acinakappa): Được phép giữ những thói quen cũ khi chưa tu như cúng tế thần, đánh đàn, ca hát.
7. Bất tán diêu tịnh (Amathitakappa): Được phép uống thức ăn hoà tan với nước sau giờ ngọ.
8. Vô diên toạ cụ tịnh (Jalogim patum): Được dùng toạ cụ không cần viền, lớn hay nhỏ tuỳ ý.
9. Thuỷ tịnh (Adasakam - nisidanam): Được uống rượu nếu có hoà chung với nước.
10. Kim ngân tịnh (Jataruparajatam): Được nhận giữ vàng bạc.
Đại hội này cũng tụng lại Kinh tạng và Luật tạng.
Thời gian 8 tháng; địa điểm tại thành Vệ xá ly, do các vị cư sĩ tại gia bảo trợ; và thành viên tham dự là 700 Tỷ-kheo.
 

* Trang 161 *
device

Kết quả của lần kết tập này như sau:
Kinh và Luật được tụng lại không để sai sót lời Phật dạy và không bị tà giáo làm biến hoại. Tuy nhiên 10 điều phi pháp vẫn được phục chế sau đó thời gian không lâu, có lẽ vì để thích nghi với hoàn cảnh địa lý và điều kiện xã hội. Có thể nói đây là động cơ cho Phật giáo Ấn Độ phân phái sau này.
c. Đại hội kết tập kinh điển lần III
Về nguyên nhân, cách đức Phật nhập diệt hơn 200 năm, Phật giáo lúc này được 2 chúng tại gia một lòng tín nhiệm, vì vậy số lượng 2 chúng xuất gia càng ngày càng đông hơn. Điều này khiến cho các giáo phái ngoại đạo ganh ghét và tìm cách gây nhiễu, trà trộn vào Tăng-già giả làm kẻ xuất gia để phá hoại đạo Phật, tác động quần chúng Phật tử tại gia mất niềm tin Tam bảo và phản ứng đối khán. Tuy nhiên, tổ chức của đạo Phật luôn lấy chánh pháp Phật-đà làm nguyên tắc chỉ đạo, lấy sứ mệnh cứu khổ làm cương lĩnh hoạt động, lấy tinh thần tự do và tự giác làm kỷ luật và lấy từ bi làm

* Trang 162 *
device

chất liệu sống cho mỗi thành viên, mỗi tổ chức như thế lại đang đứng trước tình hình đồng thau lẫn lộn, tà chánh khó phân như vậy thì việc kết tập Kinh điển lần III đương nhiên phải xảy ra theo quy luật tất yếu. Bằng chứng lịch sử cho thấy đó là kinh luật luận được ghi chép thành chữ làm cơ sở đương đầu với ngoại giáo và đã trở thành bài học “Kinh điển ghi lại bằng chữ” đầu tiên trong lịch sử tôn giáo thế giới.
Nội dung gồm những sự kiện như sau:
Vua A Dục (Asoka) sau khi đánh đuổi quân đội viễn chinh xâm lăng của Hy Lạp. Ông đã thống nhất các nước chư hầu lập thành một vương quốc Ấn Độ rộng lớn, và sau khi vua cha băng hà hoàng tử A Dục chính thức trở thành Đại đế A Dục, cách đức Phật nhập diệt 218 năm. Chính vị Vua này đã trở thành một Phật tử thuần thành và là người bảo trợ cho Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo kỳ III được thành tựu. Điều này các nhà sử học hiện đại đã đi đến những nhận định:
 

* Trang 163 *
device

- Vua A Dục là nhà chính trị khéo léo và thông minh, biết dựa vào lời Phật dạy để lập ra chính sách áp dụng cho các vấn đề nhân sinh và xã hội.
- Vua A Dục trở thành Phật tử, tu theo Phật, ủng hộ đạo Phật cũng có nghĩa là âm thầm ra lệnh khuyên bảo mỗi một người dân của ông nên là Phật tử mà một khi trở thành Phật tử chơn chánh thì đó là người tốt. Vì Vua biết rất rõ rằng con người là thành phần chính của xã hội, một khi con người tốt thì chắc chắn các thành phần khác của xã hội phải ổn định, khi xã hội ổn định thì nhất định kinh tế phát triển.
- Khi một người đã có được sự tột đỉnh về danh lợi và địa vị xã hội thì cái mà người ấy thiếu chính là đời sống tinh thần. Đó là động cơ thúc đẩy vua A Dục quy y theo Phật để giải toả sự mâu thuẫn trong tâm thức của Ông.
Đích thân vua A Dục ra lệnh cho quan đi cầu thỉnh Trưởng lão Mục-liên-tử-đế-tu (Moggaliputta - Tissa) đứng ra đảm trách công việc tổ chức Đại hội kết tập Kinh điển lần này và được vua A Dục bảo trợ.
 

* Trang 164 *
device

Ngài Mục-liên-tử-đế-tu triệu tập 1000 Tỷ-kheo trí đức vẹn toàn, nhóm họp tại kinh thành để tiến hành đại hội. Toàn thể chư Tăng trong hội nghị đã đồng ý tiến hành 4 việc: 1. Tụng đọc và ghi chép lại Kinh tạng, 2. Tụng đọc và ghi chép lại Luật tạng, 3. Tụng đọc và ghi chép lại Luận tạng, 4. Chỉnh lý hàng ngũ Tăng-già, trục xuất 6 vạn Tỷ-kheo dị giáo, và khuyến cáo hàng ngũ tại gia phải tinh tấn thực hành giáo pháp của Phật.
Ngài Mục-liên-tử-đế-tu được suy cử làm chủ toạ, địa điểm tổ chức Đại hội tại Hoa Thị Thành (Pataliputra), thời gian là 9 tháng kể từ giữa thế kỷ thứ 3 trước Dương lịch.
Bản Luận Sự (Kathavathu pakarana) được viết ra trong kỳ Đại hội này để nghị sự với ngoại đạo, phá tà hiển chánh và những gì không phải là lời Phật dạy đều bị khai trừ.
Đặc biệt trong kỳ Đại hội này vua A Dục đã cho các sứ giả Phật giáo đi truyền bá lời Phật dạy đến các nước ngoài Ấn Độ, trong đó có 2 người con của vua xuất gia , Tỷ-kheo Ma-hê-đa (Mahinda) và Tỷ-kheo-ni

* Trang 165 *
device

Từ Tịnh (Sanghamitta) đi về đảo phía Nam, nay là Tích Lan... Ngoài ra, vua còn cho tu bổ các Phật và Thánh tích cũng như khắc lên đá những lời Phật dạy khắp đất nước Ấn Độ để dân chúng noi theo.
Kết quả của Đại hội này như sau:
Tóm lại, Đại hội này đã kết tập gồm đủ tam tạng: Kinh - Luật - Luận bằng chữ viết, củng cố và xây dựng Tăng-già thanh tịnh, tiếp tục hoằng truyền chánh pháp Phật-đà ra ngoài nước. Đại hội này đã mở ra một trang sử Phật giáo sáng chói không những đối với Ấn Độ mà còn đối với thế giới.
d. Đại hội kết tập kinh điển lần IV
Về nguyên nhân, khoảng hơn 100 năm sau dương lịch. Phật giáo đã phát triển rất rộng, từ Trung Ấn đạo Phật lan tới các vùng Trung Bắc Ấn như Ca-thấp-di-la (Kashmir) và Kiền-đà-ra (Gandhàra) mà các vùng đất này đang dưới sự cai trị của vua Ca-nị-sắc-ca (Kanishka). Trước vua Ca-nị-sắc-ca đã có vương triều Sunga và Kànva là 2 vương triều tin theo đạo Ba-la-môn và Kỳ-na giáo nên 2 tà giáo đã phát triển ở tại khu vực này rồi, vì vậy đạo Phật tại đây cũng rất pha tạp và

* Trang 166 *
device

Tăng-già cũng ít còn gìn giữ đời sống phạm hạnh. Chính điều này mà Đại hội kết tập kinh điển kỳ IV phải thành lập.
Nội dung của cuộc kết tập này gồm:
Đại hội kết tập Kinh điển kỳ IV có lẽ thuộc học phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) và người bảo trợ và có công trong việc tổ chức Đại hội này là vua Ca-nị-sắc-ca. Thực sự, Ông vua này đích thân mời ngài Hiếp Tôn Giả (Parsva), ngài Thế Hữu (Vasumitra), ngài Pháp Cứu (Dharmatrata), ngài Thánh Thiên (Buddhadeva) về tại kinh thành để chủ trì Đại hội.
Ngài Thế Hữu được suy cử Chủ toạ và 500  Tỷ-kheo đại biểu tham dự Đại hội.
Tam tạng Kinh - Luật - Luận được biên chép lại bằng chữ Kiền-đà-ra, một loại thổ ngữ tạp chủng mà sau này nó trở thành tiền thân của tiếng Phạn. Bên cạnh đó, Đại hội cũng chú giải toàn bộ Kinh - Luật - Luận hơn 300 bộ.
Phần chú thích có bộ Đại-tỳ-bà-sa luận, nói đầy đủ sự giống nhau và sai khác giữa các bộ phái Phật giáo trước đó, hiện nay vẫn còn.
Kết quả của Đại hội này như sau:

* Trang 167 *
device

Đại hội kết tập Kinh điển kỳ IV mang một ý nghĩa quan trọng là đã thống nhất tư tưởng, học thuyết của các bộ phái Phật giáo và có thể nói Đại hội này là khởi đầu cho sự chấn hưng Phật giáo Đại thừa của ngài Long Thọ và ngài Vô Trước sau này. Bên cạnh đó, ngoài việc kết tập Kinh - Luật - Luận còn có các bản chú giải tạo tiền đề cho nền triết học Phật giáo phát triển mà ngài Thế Thân, và ngài Trần-na (Dignaga) là một chứng minh. Hơn nữa, đây là cứ địa làm bàn đạp cho sự truyền bá Phật giáo vào các nước Trung Á mà trong các nước ấy có Trung Hoa.
IV. Các bộ phái Phật giáo
Song song với sự hình thành 4 kỳ kiết tập, Lịch sử Phật giáo Ấn Độ còn có một sự kiện không kém phần quan trọng khác đó là các Bộ phái Phật giáo, chính đây là sự hình thành và phát triển lịch sử tư tưởng triết học Phật giáo mà khôn phải là sự phân hoá trong hội chúng dẫn tới việc phân chia bộ phái trong tổ chức Phật giáo. Vì mỗi bộ phái đều có tôn chỉ và hướng giải thích Kinh - Luật riêng tuỳ theo từng giai đoạn phát triển tư tưởng của nhân loại nhằm đem giáo lý Phật-đà

* Trang 168 *
device

áp dụng vào đời sống con người và như vậy các bộ phái hình thành đúng theo sự vận hành tất yếu của lịch sử.
Bên cạnh đó, thời gian biến chuyển, không gian biến chuyển, lòng người biến chuyển, không để cho sự thuần nhất nào trường tồn mà không có sự thay đổi. Thay đổi để diệt vong hoặc thay đổi để mở đường phát triển, lẽ nào cũng có. Huống gì giáo hội Tăng-già cách 100 năm sau Phật, về mặt Tín, giải, hành, chứng của chúng đệ tử đâu còn được sống tu tập dưới sự dìu dắt trực tiếp của đức Phật. Trái lại, phương diện nào họ cũng kém, dẫu trước sau một lòng tôn thờ đức Phật và giáo pháp. Nhưng đối trước những di huấn giản dị mà cao siêu làm sao để dược hiểu trọn vẹn với mọi trình độ hầu tránh khỏi mỗi người luận giải mỗi cách. Ai có đủ thẩm quyền tuyệt đối để san phẳng những kiến giải sai thù? Huống nữa đức Phật từng dạy: “Đừng có tin vào sách vở, đừng có tin vào lời người khác nói lại... chỉ nên tin điều gì chính mình suy nghĩ kỹ càng, sáng suốt, nhận thấy có lợi cho mình và cho người...”, thì ai có thể tin rằng mình suy nghĩ sáng suốt trong khi không gặp người sáng suốt hơn thẩm tra lại cho. Thêm vào đó, khi

* Trang 169 *
device

giáo pháp được lan truyền càng ngày càng rộng gặp phải căn cơ thời đại và địa phương đòi hỏi, chư Tăng thì địa thế xa cách, ít có cơ hội trao đổi lẫn nhau và Phật giáo cũng không có một trung tâm nhất định cho mọi người cùng hướng về, vì vậy sanh kiến giải bất đồng lập thành nhiều tôn phái riêng biệt” (Vô Ngã là Niết bàn của HT. Thích Thiện Siêu, NXB TG. 2000, trang 118). Theo các nhà sử học Phật giáo, hiện tại chúng ta chỉ biết có 20 bộ phái và được gom thành 2 loại như sau:
1. Đại chúng bộ (Mahasanghika): gồm có 9 phái.
a. Đại chúng bộ (Mahasaghika): Hình thành khoảng 150 năm trước Dương lịch., tại nước Ương quật đa la, thuộc Trung Ấn, phía Bắc thành Vương xá. Bộ phái này dựa vào kinh điển như Kim Cang, Pháp Hoa, Niết Bàn để lập tông chỉ hoạt động cho bộ phái của mình.
b. Nhất thuyết bộ (Ekavyahàrikàh): Bộ này chủ trương thực hành là chính mà không nhất định là phải dựa hẳn vào Kinh hay Luật. Vì họ cho rằng các pháp thế gian hay xuất thế gian đều là giả danh, không thật có chủ thể.

* Trang 170 *
device

c. Thuyết xuất thế bộ (Lokattaravadiàh):
Cho rằng tất cả pháp thế gian đều là điên đảo, phiền não vì bản chất của chúng là sinh diệt, vô thường và khổ đau. Mặc dù họ chấp nhận chủ trương thực hành của bộ phái 2 nhưng sự thực hành cần phải có phương pháp thì mới có kết quả, do đó họ chủ trương thực hành Pháp và Luật theo tiến trình Giới - Định - Tuệ.
d. Kê dẫn bộ (Kakkutikàh): Cũng còn gọi là Tây sơn trú bộ, chủ trương của bộ này lấy sự giải thích lời Phật dạy làm phương tiện chính để phát khai trí tuệ, vì cho rằng Kinh - Luật là những lời Phật dạy trực tiếp cho đối tượng nghe, hiểu và thực hành không bị sai lạc chính là nhờ đương sự vừa nghe lại vừa phát khởi tín tâm nơi Pháp Thân - Phật. Nhưng sau khi đức Phật nhập diệt thì người nghe phải cần có sự giải thích, giảng dạy mới hiểu, sau đó mới tin và thực hành không gián đoạn cũng không thối chuyển. Tóm lại, nghĩa ý hàm chứa trong Kinh - Luật là chơn thật nghĩa.
e. Đa văn bộ (Bahusrutiyàh): Chủ trương nghe pháp và tư duy, sau đó lấy thiền định làm công

* Trang 171 *
device

phu tu luyện, nhờ định thành tựu thì trí tuệ mới phát sinh.
f. Thuyết giả bộ (Prajnaptivadinàh): Cho rằng tất cả giáo pháp do đức Phật nói cho chúng sanh đó là Phật dùng phương tiện giả thuyết chứ không phải pháp chơn thật. Tuy nhiên, chúng sanh phải nương nhờ cái giả ấy mà thật tánh mới hiển lộ. Sự hiển lộ thật tánh ấy mới là Thật Pháp của Phật thuyết.
g. Chế đa sơn bộ (Jetavaniyàh), Tây sơn trụ bộ (Aparasaiyah), và Bắc sơn trụ bộ (Uttrasailah): Ba bộ này hình thành vào khoảng thế kỷ thứ 3 sau Phật nhập diệt, chủ trương phá nội ma, ngoại chướng và hiển chánh để cứu độ chúng sanh, có thể 3 bộ này là tiền thân của các trường phái Phật giáo phát triển sau này.
2. Thượng toạ bộ (Sthavira): Hình thành ngay sau khi Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ nhất, gọi là “Ngoại kết tập” cũng còn gọi là trường phái thủ cựu, gồm có 11 phái.
a. Thuyết nhứt thiết hữu bộ (Savastivadinah): Chủ trương các pháp ba đời đều thật có, thật thể các pháp hằng có nên họ chủ trương “pháp hữu ngã vô”.
 

* Trang 172 *
device

b. Kinh lượng bộ (Sautratikah): Chủ trương dựa vào Kinh Phật đã dạy mà thành lập và không đồng ý dựa vào Luật tạng. Vì họ cho rằng Kinh là để đối trị mọi căn tánh của chúng sanh, ví dụ: bất cứ ai cũng có tham, sân, si, phiền não, lậu hoặc... nên Kinh là chủ yếu, còn Luật là tuỳ theo từng đối tượng mà có khai, giá, trì, phạm nên không thể lấy luật làm tôn chỉ cho bộ phái để y vào đó tu hành được.
c. Độc tử bộ (Vatsiputriyah): Bộ phái này lấy “Pháp uẩn túc luận” của Tôn giả Xá Lợi Phất làm tôn chỉ, ngoài ra họ cho Pháp Uẩn có 2 loại: Căn bản uẩn và nhất vị uẩn, nhất vị uẩn là thật tánh hằng hữu.
d. Pháp thượng bộ (Dharmottarah), 5. Hiền vũ bộ (Bhadrayaniyah), 6. Chánh lượng bộ (Sammatiyah), 7. Mật lâm bộ (Sannagarikah): Bốn bộ này cho rằng lời giải thích của Độc tử bộ quá rộng, khó có thể chuyển mê khai ngộ được, do đó họ quy các pháp Phật dạy vào Tam pháp ấn (vô thường, khổ, vô ngã) và chỉ giải thích các pháp xuyên qua sự thực hành 3 pháp ấn.
e. Hoá địa bộ (Mahisasakah): Là tên của xứ Hoá địa, xứ này có tập tục và ngôn ngữ theo truyền thống Vệ đà, bộ này cho rằng giảng giải kinh Phật không cố chấp vào bất cứ ngôn ngữ nào nhất định dù đó là ngôn ngữ Phật, do đó họ dùng ngôn ngữ Vệ đà để giải thcíh và giảng giải kinh Phật.
f. Pháp quang bộ (Dharmaguptah): Chủ trương dựa vào cả Kinh và Luật làm tôn chỉ, vì họ cho rằng

* Trang 173 *
device

g. Ẩm quang bộ (Kasyapiyah): Chủ trương Chánh pháp vừa có tác dụng phá tà hiển chánh, vừa có tác dụng tẩy trừ cấu uế, phiền não và khổ đau trong mỗi người tu Phật.
h. Thuyết sơn bộ (Haimavathah): Cũng gọi là “Thuyết chuyển bộ”, nghĩa là chủ trương dựa vào Kinh và chấp nhận thuyết chuyển nghiệp.
Tóm lại, các sự kiện bộ phái Phật giáo có một ý nghĩa nhất định, nó giúp chúng ta hiểu rõ được các giai đoạn phát triển tư tưởng từ các lời dạy của đức Phật ghi lại trong Kinh điển, nhờ đó mà các bộ Luận và các tông phái Phật giáo Đại thừa ra đời theo nhu cầu tất yếu của lịch sử. Những diễn tiến này là một đòi hỏi trí thức và sự tu chứng đối với giáo lý Phật-đà, nếu Phật giáo là đạo tri hành hợp nhất thì sự học hỏi về các bộ phái Phật giáo là để cho mỗi học viên có được phương tiện tìm hiểu lời Phật dạy rõ ràng và sâu sắc hơn.
V. Nhân vật lịch sử của Phật giáo Ấn Độ
1. Vua A Dục
Vua A Dục là con thứ năm của vua Tần-đà-sa-a (Bindhusara) và Hoàng hậu Chánh pháp (Subhadragi), thuộc triều đại Khổng Tước (Chandragupta) tại xứ Ma-

* Trang 174 *
device

kiệt-đà (Maghada). Thiếu thời vua có tính khí khác người, cương trực, mạnh bạo và rất thông minh. Cuối thế kỷ thứ III, quân viễn chinh của nước Hy Lạp do Đại đế Alexander Seleucos đem quân xâm lăng Ấn Độ, lúc bấy giờ ngoài thái tử A Dục có khả năng đánh đuổi thì trong số những anh em của thái tử A Dục không có ai đủ tài trí để chống lại. Sau khi thống nhất được đất nước, vua cha băng hà, thừa cơ hội này thái tử A Dục lên làm vua và nhất định không nhường ngôi cho các người anh lớn cùng cha khác mẹ của ông, nếu ai có ý chống cự ông giết không tha. Cách 8 năm sau, ông đã chinh chiến và dẹp loạn nhiều nơi, trong số ấy có trận chiến ở xứ Yết-lộ-già (Kaliga) là chết chóc nhiều không thể kể xiết. Điều này đã ám ảnh và đánh thức lương tâm của ông, do đó sau khi ông đăng quang làm vua (cách đức Phật nhập diệt 218 năm), việc đầu tiên là ông khắc vào bia đá lời Phật dạy: “Thắng ngàn quân giặc ở chiến trường chẳng bằng tự thắng mình. Tự thắng mình là chiến công ưu việt nhất” (Kinh Pháp cú, kệ 103) và từ đó vua A Dục dừng lại mọi hành động bất thiện, luôn nghĩ và làm điều thiện, quy y Phật, Pháp,

* Trang 175 *
device

Tăng và trở thành một Phật tử chơn chánh. Đối với Phật giáo Vua đã đóng góp rất lớn không những riêng cho Phật giáo Ấn Độ mà còn đối với cả nhân loại trên thế giới. Cụ thể như sau:
Trong 39 năm tại ngôi, vua A Dục làm Phật sự là 27 năm như ra lịnh cho khắc tất cả những lời Phật dạy lên trên đá, trụ đá, đá trong núi, bia đá khắp nơi ở Ấn Độ. Những tài liệu ấy hiện nay vẫn còn, chúng đã và đang đóng góp những nguồn tài liệu quý giá cho lịch sử thế giới nói chung và Phật giáo thế giới nói riêng. Đặc biệt tu bổ 4 nơi Phật tích: nơi Phật đản sanh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật thuyết pháp đầu tiên, nơi Phật nhập diệt. Ngoài ra còn xây dựng Tháp của chư vị Thánh Tăng và nhiều tu viện khác.
Chính vua đã cử các phái đoàn Phật giáo đi ra ngoài nước để truyền bá giáo Pháp Phật, phía Tây có những đoàn truyền bá đạo Phật tới các nước như Hy Lạp, Ai Cập, Syria Thổ, Liên Xô, Trung Hoa, phía Nam có những đoàn truyền bá đạo Phật tới các nước như Tích Lan, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Mã Lai, Indonesia...
Vua đã đem đạo Phật vào đời sống như trồng cây và đào giếng hai bên đường để cho khách bộ hành có thể qua lại buôn bán làm ăn, lập các trại cô nhi và

* Trang 176 *
device

nuôi những người già, xây dựng trạm xá công cộng, bệnh viện để giúp người và thú vật (gia cầm) tật bệnh.
2. Vua Di-lan-đà
Di-lan-đà là tên đạo sau khi quy y theo Phật, còn tên đời là Menander, gốc người Hy Lạp, làm vua cai trị các vùng Tây Bắc Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ II trước Dương lịch. Và lập thủ phủ tại lưu vực sông Ngũ Hà (Nay thuộc biên giới giữa Ấn Độ và Pakixtan). Ngài Na tiên (Nagasena) sớm từ bỏ gia đình quy y theo Phật, xuất gia với ngài Asvagupta và chứng quả A-la-hán, sau đi giáo hoá độ sanh khắp nơi và tiếng đồn được loan đi khắp nơi. Vua Di-lan-đà nghe được tin này liền tìm đến tham vấn, học hỏi mà sau này câu chuyện đàm đạo giữa vua và Trưởng lão Na tiên được chép thành kinh điển có tên là Kinh Na Tiên vấn đáp (Milinda panha) thuộc trường phái Thượng toạ bộ, hiện nay rất quan trọng và khá phổ biến.
3. Tôn giả Thế Hữu
Xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II trước Dương lịch., người nước Càn-đà-ra (Gandhara), là một vị cao Tăng thạc đức, đã trước tác nhiều bộ luận nổi tiếng như

* Trang 177 *
device

Dị bộ tôn luân luận, Tôn bà tu mật Bồ-tát sở tập luận”... Đặc biệt, Ngài đã triệu tập và làm chủ toạ Đại hội Kết tập kỳ 4 tại Kashmir, sau này các sử gia cho rằng Kinh, Luật, Luận của kỳ Kết tập này được viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit), mặc dù Tam tạng lần này chủ yếu vẫn dựa vào Hữu bộ, nhưng cũng là cơ sở phát triển Đại thừa rất mạnh về sau.
4. Vua Ca-nị-sắc-ca
Lên ngôi Vua khoảng đầu thế kỷ thứ nhất Dương lịch (78 - 101), thuộc triều đại Quế Xương Hầu (Kushan). Và đã trở thành vị Vua nhơn từ nhất, rất nhiệt tâm ủng hộ Phật giáo phát triển khắp các nước Bắc Aán như Kashmir, Gandhara và Trung Á Tế Á. Vua đã tu bổ tất cả những Phật Thánh tích để tôn thờ xá lợi Phật khắp nơi cũng như lập thêm nhiều trường học cho mọi tầng lớp nhân dân trong nước, ủng hộ Phật giáo kết tập kinh điển và đã tổng hợp được các Bộ phái Phật giáo thành một.
5. Bồ-tát Mã Minh
Xuất hiện khoảng 100 - 160 Dương lịch. Thuộc dòng dõi Bà-la-môn, người Trung Aán triều đại Ca-nị-

* Trang 178 *
device

sắc-ca. Tuổi trẻ sớm tinh thông các kinh sách ngoại giáo nhưng không thoả mãn nên Ngài đã tìm tới Phật giáo và đã thọ giới Bồ-tát Tỷ-kheo. Sau đó thời gian ngắn Ngài đã tinh thông Tam tạng, Phật học uyên bác và giỏi về ngôn ngữ học cũng như luận lý học, chủ yếu là Phạn ngữ (theo Phật Sở Hành Tán). Bồ-tát Mã Minh đã trước tác nhiều bộ luận nổi tiếng như: Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Kim cang châm luận, Đại thừa khởi tín luận... Đóng góp rất lớn trong việc chấn hưng Chánh pháp Phật-đà cũng như phát triển tư tưởng đại thừa Phật giáo vào thời điểm lúc bấy giờ.
6. Bồ-tát Long Thọ
Xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 2 Dương lịch., người Nam Aán tại xứ Nagar, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn, tuổi trẻ đã học thông các kinh điển Phệ đà, thiên văn, địa lý, huyền thuật, dịch lý, đạo thuật và Du-già, lãnh vực nào Ngài cũng tinh thông nên người đời gọi Ngài là vị Thần Ứng thân. Nhưng vì không giải quyết được vấn đề khổ - ưu - não của chính mình và kẻ khác, nên Ngài quyết định xuất gia theo Phật, thọ giới Tỷ-kheo, học thông Tam tạng và tinh tấn tu tập thiền

* Trang 179 *
device

định. Chẳng bao lâu sau tâm tư Ngài được thanh tịnh, phát trí siêu việt, ngộ nhập không tánh. Có thể nói rằng Ngài là vị Tổ sáng lập Trường phái Trung Quán Phật giáo và trước tác nhiều bộ kinh luận rất quan trọng như: Kinh đại Bát-nhã, Luận đại trí độ, Luận trung quán, Luận thập nhị môn, Luận thập trú  Tỳ-bà-sa...
7. Tôn giả Phật Âm
Cũng gọi Phật Minh, sinh vào khoảng thế kỷ thứ 5, tại nước Ma-kiệt-đà, xuất thân từ gia đình Bà-la-môn. Lúc thiếu thời Ngài học và nghiên cứu kinh điển Phệ đà, tinh thông Du-già (yoga) và số luận... Sau khi xuất gia theo Phật, Ngài học thông cả Tam tạng Kinh điển, chuyên môn chú giải, luận thích dịch thuật và trước tác các kinh luật để xiển dương giáo lý Phật-đà. Các công trình trước tác của Ngài thuộc hệ văn học Pàli như: Luận Phát Trí, Thù Thắng Nghĩa Luận (Atthasalini). Năm 432 Ngài rời Ấn Độ qua Tích Lan, ở tại chùa Mahavihara cùng với Trưởng lão Tăng-già ba la, phiên dịch chú thích kinh văn Pàli, đặc biệt tạo Luận Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) rất phổ biến và nhiều bản sở giải khác.

* Trang 180 *
device

8. Tôn giả Phật-đà-da-ta
Cũng gọi Phật Thọ, quê quán người nước Cola thuộc Nam Ấn Độ, xuất gia theo Phật từ nhỏ, cùng thời với ngài Phật Âm. Sớm qua Tích Lan và chuyên nghiên cứu giáo nghĩa Phật-đà dựa vào Luật tạng sau khi về lại Ấn có hẹn với Tôn giả Phật Âm “Khi nào dịch xong kinh bản bằng tiếng Sanghali thì hãy gửi về Ấn cho tôi kiểm dịch”. Do vậy mà nay trong Đảo sử cho đây là chứng tích lịch sử, quan trọng trong việc tìm lại xuất xứ của kinh điển Pàli. Công trình biên soạn, trước tác, phiên dịch của Ngài rất nhiều như: Tỳ-nại-da quyết trạch luận (Vinaya - vinicchaya), Sắc phi sắc phân biệt luận (Ruparupa - vibhaga)...
9. Bồ-tát Vô Trước
Thường gọi là Bồ-tát Vô Chướng Ngại và cha của Ngài là Kiều-thi-ca (Kausika) và em là Bồ-tát Thế Thân (Vasubhandhu). Xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 4 Dương lịch., thuộc Tây Bắc Ấn Độ, tại nước Kiền-đà-ra (Gandhara), ở xứ Puruna - pura, vào thời đại vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska). Ngài xuất gia từ nhỏ, tinh thông Kinh, Luật, Luận và là Tổ sáng lập Du-già tông và

* Trang 181 *
device

trước tác nhiều bộ luận sớ nổi tiếng: Luận Du-già sư địa, Luận Biện trung biên, Luận thích A-tỳ-đạt-ma tạp tập...
10. Bồ-tát Thế Thân
Cũng gọi là Luận sư Bà-tẩu-bàn-đậu, là em ruột của Bồ-tát Vô Trước, rất thông minh, xuất gia theo trường phái Nhứt Thiết Hữu bộ và sau đó nghiên cứu Đại thừa, có thể nói Ngài chủ trương tư tưởng dung hoà nên những bộ luận của Ngài rất quan trọng trong lãnh vực tu học hơn là phá tà hiển chánh. Cụ thể như: luận Câu Xá, Duy Thức Nhị Thập tụng, Duy thức Tam Thập tụng, Luận Nhiếp Đại Thừa, luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn, luận Đại Thừa Ngũ Uẩn...
11. Bồ-tát Trần-na
Xuất hiện khoảng giữa thế kỷ thứ 5 - 6, người Nam Ấn Độ, xứ Simha - Vaktra, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Xuất gia tại xứ Odivisa, học Phật tại trường Nalanda, thông học không những Phật giáo mà còn ngoại đạo học, đặc biệt là Ngài rất giỏi về môn Luận Lý học Phật giáo. Những tác phẩm quan trọng là Nhân minh chánh lý (Nyaya Pravesa), Luận Chưởng trung

* Trang 182 *
device

(Talantaraka Sastra), Luận Quán sở duyên duyên (Pramanana - samuccaya sastra)... Ngài viên tịch tại Orissa.
12. Luận sư Pháp Xứng
Người xứ Tirumalai thuộc nước Cola, Ngài xuất gia và học Luận lý học Phật giáo với học trò của ngài Trần-na là Isvarasena. Tại đây Ngài đã hàng phục các luận lý học của ngoại đạo, đặc biệt là rất tinh tường về Nhân Minh, Biện chứng và Triết học Phật giáo. Tuy nhiên, những năm tháng trưởng thành nhất của Ngài là những ngày tháng về tại Nalanda và đã làm học trò của ngài Dharmapala học về môn Duy Thức học.
13. Vua Giới Nhật
Thế kỷ thứ 7 Dương lịch,Vua cai trị những vùng thuộc xứ Trung Aán, sau 36 năm tại ngôi Vua đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ Ấn Độ. Cuộc đời tuổi trẻ của vua không được may mắn lắm, sau khi vua cha băng hà, hoàng hậu tức mẹ của vua cũng từ trần theo, tiếp đến anh em hoàng tộc đều bị tai nạn khổ sở và anh của vua cũng chết. Trước sự khủng hoảng tâm lý này, vua bỏ trốn triều đình đi lang thang khắp nơi và thầm mong sao

* Trang 183 *
device

gặp một vị thánh nhân để giải nỗi ưu sầu, cũng trong lúc ấy liền thấy một pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên đang dứng trên bờ sông Hằng, Ngài đến gần pho tượng, lễ lạy và nguyện cầu. Sau đó Ngài về hoàng cung và tỏ ý với quần thần rằng: “Ta không làm vua, chỉ muốn xuất gia sống đời sống ẩn sĩ”. Nhưng sau đó vua gặp ngài Huyền Trang khuyên bảo nên vua quy y theo Phật và phát nguyện làm cư sĩ tại gia để hộ đạo giúp đời (theo Tây vức ký của ngài Huyền Trang). Sự nghiệp của vua đối với Phật giáo rất lớn, như xây dựng các Đại tòng lâm ở các nơi mà trước đây đức Phật đã từng trú ngụ ít nhất một mùa trăng, tu bổ và mở rộng Đại học Nalanda vào lúc mà ngài Huyền Trang đã đến học tại đó. Nhưng không phải vua chỉ ủng hộ Phật giáo mà còn ủng hộ các ngoại giáo khác như Bà-la-môn, Kỳ-na và Aán giáo. Chính trong thời đại này Phật giáo có vẻ như đang thịnh vượng nhưng thực chất đạo tâm của mọi người theo Phật đã bị xói mòn bởi nhiều nguyên nhân khách quan của lịch sử. Năm 630 - 644 ngài Huyền Trang đã chứng kiến cảnh Phật giáo Ấn Độ suy tàn và ghi lại: Lúc này trong Phật giáo xuất hiện nhiều thần

* Trang 184 *
device

thánh quái dị, bùa phép không thiếu, mật chú ô hợp, tăng tục khó phân, chánh tà không biết...
Có lẽ vào thời điểm này Phật giáo Ấn Độ đã bắt đầu suy tàn mà sau này các sử gia Phật giáo đã buộc tội vua Giới Hiền đã cố ý cải biên Phật giáo thành Ấn giáo, làm lạc hướng quần chúng Phật tử đến nỗi họ quan niệm thần Siva, thần Mặt Trời và Phật là một. Vì vậy Phật giáo Ấn Độ đã dọn đường sẵn sàng để đón Hồi giáo sang giết sạch Phật giáo trên đất nước họ vào thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13 mà Phật giáo Aán đến nay vẫn chưa sống lại và càng không thể tái sinh lại nơi quê hương mà đức Phật của chúng ta đã khai sinh ra đạo Phật.
VI. Thời kỳ Phật giáo Ấn Độ suy tàn (1150 - 1250)
Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng tựu trung gồm 2 loại chính:
1. Nguyên nhân chủ quan
a. Đoàn thể Tăng Ni lơ là việc trau dồi giới - định - tuệ, bên cạnh đó không những ít liên hệ với pháp xuất thế gian mà lại dan díu với pháp thế gian ngày càng cao.

* Trang 185 *
device

b. Bốn chúng (2 tại gia và 2 xuất gia) từ từ đánh mất vai trò hoạt động xã hội, dựa vào thế lực chính trị hoặc vua quan, đến khi thể chế chính trị hoặc triều đình đó sụp đổ thì Phật giáo bị sụp theo.
c. Không thống nhất phương pháp “tín ngưỡng” trong truyền thống tôn giáo nên dễ mất sự ủng hộ của quần chúng. Cụ thể như việc thờ cúng tuỳ theo nhu cầu và tự phát, thành thần xuất hiện trong đạo Phật quá nhiều, do đó lễ nghi càng trở nên phức tạp và cuối cùng hướng quần chúng Phật tử không biết đâu là đạo Phật, hoặc không phải đạo Phật.
d. Thành phần tu sĩ phát triển nhanh thì tổ chức Tăng-già càng ngày càng lỏng lẻo, vì người tu theo Pháp và Luật Phật thì luôn nhường nhịn những người đồng tu đang sống với mình, ngược lại người giả tu thì dùng mọi thủ đoạn để phá đạo và như vậy tạo thành tập thể ô hợp đồng thau lẫn lộn, đạo (tăng sĩ) và ngoại đạo (tu sĩ dị giáo) khó phân. Bốn lý do này khiến cho quần chúng mất sự tin tưởng nơi đạo Phạt và dĩ nhiên Phật giáo Ấn Độ bị tiêu diệt mà chưa biết bao giờ mới phục hồi được.
 

* Trang 186 *
device

2. Nguyên nhân khách quan
a. Ngoại đạo thì cố tình đồng hoá Phật giáo, trong khi đó Phật giáo lại thiếu đề phòng và mất cảnh giác.
b. Vua và chính sách của bất kỳ một triều đại nào đó mà muốn tiêu diệt Phật giáo thì Phật giáo chắc khó có thể tồn tại. Điều này có thể chứng minh là khi vua Tỳ-lưu-ly tiêu diệt dòng họ Thích và từ thế kỷ thứ 12 tới thế kỷ 13 người Hồi giáo ở các nước A rập (Arabs) và Thổ Nhĩ Kỳ (Turks) xâm lăng Ấn Độ, người đạo Hồi lên làm vua đã tàn sát Tăng sĩ và toàn bộ di tích không để sót một vật gì có liên quan đến Phật giáo; 10.000 Tăng Ni sinh tại Đại học Phật giáo Nalanda đã bị giết, trường và kinh sách đã cháy suốt 100 ngày đêm. Nói chung tất cả mọi người và cơ sở Phật giáo đều bị phá huỷ mà cho đến hôm nay chỉ còn lại gạch vụn và đất hoang.
C. KẾT LUẬN
Khi học về Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, mặc dù chúng ta không học về lịch sử Ngôn ngữ, Kiến trúc, Nghệ thuật, Âm nhạc Phật giáo tuy nhiên chúng ta thấy

* Trang 187 *
device

rằng: một khi Phật giáo rời khỏi đất Aán cũng có nghĩa là Phật giáo đã không có cơ hội để đóng góp sứ mệnh của mình cho con người và xã hội, vì vậy Ấn Độ mãi đến hôm nay vẫn còn cơ cực và lầm than trong giấc ngủ mê tín siêu hình, bị vây phủ với chủ nghĩa tôn giáo thống trị, thể chế xã hội giai cấp bóc lột, và cũng chưa biết bao giờ mới thức giấc.
Hiện tại cũng có những nhà hoạt động cho Phật giáo quốc tế đã cống hiến rất nhiều cho sự phục hưng Phật giáo Ấn Độ như Dhammapala (cuối thế kỷ 19) thành lập Hội Maha Bhodhi và sau đó có ngài A. Mookerjee đứng ra vận động UNO cùng với các nước Phật giáo trên thế giới chung lo phục hồi Phật giáo Ấn Độ. Nay Phật giáo Ấn Độ đã có lưa thưa một vài ngôi chùa và một ít vị tu sĩ Phật giáo cùng với 0,7% đồng bào Phật tử sinh hoạt chung quanh những nơi có sử tích Phật giáo. Tuy nhiên muốn phục hồi Phật giáo Ấn Độ là cả một vấn đề rất khó và đó cũng là một bài học cho chúng ta hôm nay.


 
***

* Trang 188 *
device

 
Phật học khái lược 2