LOGO VNBET


LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TRUNG HOA
(TỪ DU NHẬP ĐẾN THỜI KỲ HƯNG THỊNH)
A. THỜI KỲ DU NHẬP
Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, khi đã có sự truyền bá thì chia làm 2 nhánh lớn. Một hướng về phía Nam, tức là Nam Tông Phật giáo. Một hướng về phía Bắc, tức là Bắc Tông Phật giáo ngày nay.
Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, ảnh hưởng mạnh đến các nước phía Bắc từ xưa cho đến bây giờ. Vì vậy, Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc cũng đóng một vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến các nước lân cận.
Theo hướng Bắc Truyền, Phật giáo từ Ấn Độ trước tiên du nhập vào nước Đại Nhục Chi từ rất sớm. Đến đời nhà Đông Hán, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (67 Tây lịch), vua Minh Đế sai một số người sang nước Đại Nhục Chi (là nước ở phía Tây trên đường từ Ấn Độ sang Trung Quốc). Con đường này cũng là con đường giao thông trọng yếu để liên lạc giữa hai nền văn hoá Ấn - Trung.
Giai đoạn đầu tiên, các bậc Phạm Tăng trực tiếp đưa Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Quốc, mà phần nhiều là từ các nước Bắc Ấn Độ và Tây vực truyền sang.

* Trang 189 *
device

Các vị Phạm Tăng đã dùng hai ngã đường bộ và thuỷ. Giai đoạn đầu thì dùng đường bộ, vì có sự mua bán giao thông qua lại. Còn đường thuỷ thì bắt đầu từ hải cảng thuộc tỉnh Quảng Đông, qua các đảo rồi tới Ấn Độ. Trong số các vị Tăng, có Ngài Pháp Hiển đời Đông Tấn, bắt đầu biết dùng đường thuỷ, vì vừa nhanh và vừa tiện lợi, ít gian nan khó nhọc.
Về niên đại du nhập, có nhiều thuyết khác nhau, nhưng chủ yếu có 7 thuyết sau:
I. Thuyết Tây phương Thánh giả của Khổng Tử
Tây phương thánh giả tức là chỉ cho Đức Phật. Thiên Trọng Ni trong sách Liệt tử có chép: "Khâu nghe phương Tây có bậc thánh giả, không trị mà không loạn, không nói mà tự tin, không giáo hóa mà tự làm". Theo thuyết này thì Khổng Tử đã biết đến Phật giáo.
II. Thuyết Thích Lợi phòng đem Phật giáo truyền vào
Năm 243 trước Tây lịch, đời vua Tần Thủy Hoàng năm thứ IV, có vị sa môn tên là Thích Lợi Phòng đem kinh Phật từ Tây vức truyền vào Trung Quốc. Vua Tần Thủy Hoàng cho việc đó là quái gỡ, liền bắt đem bỏ ngục nhưng tới nửa đêm, vua thấy có người thân vàng, cao 1 trượng 6 thước, tới phá ngục cứu ra. Vì thế vua rất sợ hãi và rập đầu kính lễ.

* Trang 190 *
device

III. Thuyết Trương Khiên đã nghe thấy Phật giáo
Sách "Ngụy thư" chép: "Đời Võ Đế nhà Tiền Hán, có tướng Trương Khiên phụng mệnh vua đi sứ sang Tây vực về tâu rằng: ở nước Ấn Độ có đạo Phù Đồ” (Phật giáo).
IV. Thuyết Lễ bái hình người vàng
Năm 121 trước Tây lịch, đời vua Võ Đế nhà Tiền Hán năm thứ II, vua sai tướng Hoắc Khử Bệnh đánh rợ hung nô, bắt được hình người bằng vàng đem về dâng vua, nhà vua liền đem thờ trong cung Cam Tuyền để sớm tối đốt hương lễ bái.
V. Thuyết Lưu Hướng nói đến Phật điển
Đời vua Thành Đế (sau đời vua Võ Đế nhà Tiền Hán 34 năm), vua sai Lưu Hướng chỉnh đốn lại sách vở của triều đình, Lưu Hướng đã thấy bộ "Phật Tổ thống kỷ". Có một đoạn văn dẫn chứng của Lưu Hướng trong cuốn "Liệt tiên truyện" rằng: "Tôi kiểm điểm thư tàng sưu tầm đại sử, để soạn liệt tiên đồ. Kể từ vua Hoàng Đế trở xuống cho tới nay có hơn 700 người được đạo tiên, sau khi xét định thực hư, được 146 người, tổng số đó có hơn 70 người đã thấy kinh Phật".
VI. Thuyết khẩu Truyền Phật giáo của Y Tồn
Niên hiệu Nguyên Thọ năm đầu (Thế kỷ thứ II trước TL), đời vua Ai Đế nhà Tiền Hán, có Y Tồn, sứ

* Trang 191 *
device

giả nước Đại Nhục Chi tới, đem Phật giáo truyền miệng cho Trần Cảnh Hiên.
VII. Thuyết niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10
Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (67 TL), đời vua Minh Đế nhà Hậu Hán, có một đêm, vua nằm mộng thấy người vàng, có hào quang rực rỡ từ phương Tây tới. Vì vậy, nhà vua đoán biết có Phật giáo ở phương Tây, vua liền sai tướng Thái Hâm, Vương Tuân, Trần Cảnh... (18 người) qua Tây vức để thỉnh tượng Phật. Họ vâng lệnh vua đi nửa đường thì gặp 2 bậc Phạm Tăng Ca-diếp Ma-đằng, và Trúc Pháp Lan, chở kinh tượng bằng ngựa trắng đi về phía Đông, họ liền mời hai Ngài đến Trung Quốc. Vua Minh Đế liền sắc dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và làm nơi dịch kinh điển cho hai Ngài.
Trong 7 thuyết trên, thì có 2 thuyết thứ  6 và thứ 7 là đáng tin cậy nhất.
Ngài Ca-diếp Ma-đằng: Người Trung Ấn, học rộng nhớ lâu đến xứ Tây Ấn để giáo hoá, Ngài thường tụng kinh “Kim quang minh''. Gặp đoàn người của Thái Hâm và nhận lời mời sang Trung Quốc.
Ngài Trúc Pháp Lan: Cũng người Trung Ấn, rất nghiêm trì về giới luật, thông hiểu kinh điển, khi đi hành hoá, gặp đoàn của Thái Hâm

* Trang 192 *
device

và cùng ngài Ca-diếp Ma-đằng sang Trung Quốc. Sau khi đến Trung Quốc, hai Ngài chuyên phiên dịch kinh điển. Bộ kinh được dịch đầu tiên ở chùa Bạch Mã là kinh “Tứ thập nhị chương”, sau đó thì có nhiều kinh được hai Ngài phiên dịch.
B. THỜI KỲ SƠ KHAI (Từ du nhập đến năm 220)
Sau hai Ngài Ca-diếp Ma-đằng và Trúc Pháp Lan, có nhiều vị Tăng đến Trung Quốc để hoá độ, Phật giáo dần dần được phổ cập trong dân gian (tương truyền Sở Vương Anh - em cùng cha khác mẹ với Hán Minh Đế - là người tin theo Đạo Phật đầu tiên). Trong số các vị Phạm Tăng đến Trung Quốc, thì có các ngài: An Thế Cao, Chi-lâu-ca-sấm, Chi Diệu, Trúc Phật Sóc... Trong giai đoạn này số kinh được dịch sang tiếng Trung Quốc (Hán) đã lên đến 300 cuốn.
1. Ngài An Thế Cao
Ngài là một thái tử của vua nước An Tức. Khi xuất gia, Ngài chuyên học kinh luận, thông hiểu thiền quán. Niên hiệu Kiến Xương thứ 1 (147 TL) đời vua Hoàng  Đế, Ngài tới đất Lạc Dương. Suốt 20 năm ở đây, Ngài đã phiên dịch kinh điển. Các kinh sách Ngài đã dịch như: ''Tứ đế kinh'', "Chuyển Pháp luân kinh'', ''Bát chánh đạo kinh''. Cuối đời Hậu Hán, vì loạn lạc nên Ngài lánh nạn xuống phương Nam và mất ở tỉnh Triết Giang.

* Trang 193 *
device

2. Ngài Chi-lâu-ca-sấm
Người nước Đại Nhục Chi, đến Trung Quốc sau Ngài An Thế Cao, khoảng niên hiệu Quang Hoà (178 - 183). Trong khoảng 12 năm, Ngài đã phiên dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán những bộ kinh như: ''Kinh Thủ lăng nghiêm''-(2 cuốn), ''Kinh Ban chu tam muội''-(1 cuốn), ''Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác''-(20 cuốn).
Sự nghiệp của 2 ngài đã khai nền đắp móng cho thời kỳ sơ khởi của Phật giáo Trung Quốc. Ở giai đoạn này, ngoài 2 vị trên, còn có các vị Tăng từ Ấn Độ và Tây vức đến Trung Quốc, tham gia vào nghiên cứu và phiên dịch kinh điển như: Ngài Trúc Phật Sóc (người Thiên Trúc Ấn Độ), Ngài Ưu Bà Tắc An Huyền (An Tức), Ngài Chi Diệu (Đại Nhục Chi)... Đặc biệt có ngài Nghiêm Phật Điều là người Trung Quốc. Đây là vị Sa-môn người Hán đầu tiên, và cũng là người tham gia công việc phiên dịch đầu tiên.
Vì ở vào giai đoạn sơ khai, nên Phật giáo ở Trung Quốc bấy giờ chỉ chuyên chú vào công việc phiên dịch kinh điển làm trọng yếu. Tuy vậy, các vị Phạm Tăng đến Trung Quốc ngày càng đông, Phật giáo cũng đã lan rộng trong dân gian. Đây là dấu hiệu cho sự hưng thịnh của Phật giáo Trung Quốc trong những thời gian tới.
C. THỜI KỲ HƯNG THỊNH
Trong giai đoạn lịch sử dài hơn hai ngàn năm, từ sau thời sơ khai, Phật giáo đã tuỳ thuộc vào các triều đại mà có lúc hưng thịnh, có lúc không được như ý. Sự

* Trang 194 *
device

thịnh suy liên tiếp nhau, nếu liệt kê thì khó mà đầy đủ chi tiết. Vì vậy, trong bài này chỉ nêu lên những điểm chính yếu qua các giai đoạn hưng thịnh của lịch sử Phật giáo Trung Quốc:
I. Giai đoạn thứ nhất (Thế kỷ III đến thế kỷ IV)
Sau đời Hậu Hán, Trung Quốc chia thành 3 nước: vùng Giang Bắc, Vua Văn Đế lên ngôi lập ra nước Ngụy đóng Đô ở Lạc Dương, tỉnh Hà Nam (220 - 265). Vùng Giang Nam, Ngô Tôn Quyền chiếm lĩnh Kinh Châu và Dương Châu, lập ra nước Ngô, đóng đô ở Kiến Nghiệp tỉnh Triết Giang (222-280). Lưu Bị thì phù trợ Hoàng Thất nhà Hậu Hán lập ra nước Thục, đóng đô ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Trong khoảng 42 năm, 3 nước Nguỵ - Thục - Ngô chia dân để trị. Lịch sử gọi đây là thời Tam Quốc. Trong thời kỳ này chỉ ở 2 nước Nguỵ và Ngô là Phật giáo được phổ biến, còn nước Thục thì Phật giáo chưa được phổ cập.
Dù vẫn lấy việc dịch kinh làm trọng yếu nhưng các vị cao Tăng trong thời này từ Tây vức vẫn tiếp tục sang Trung Quốc truyền đạo. Ở Bắc Nguỵ có Ngài Đàm-ma-la-ca. Ở Đông Ngô có Ngài Khương Tăng Hội. Ở Tây Thục có Ngài Châu Tử Hàng, người Trung Quốc, sang Tây vức học tiếng Phạn để từ đó dịch sang tiếng Trung Quốc.

* Trang 195 *
device

1. Ngài Đàm-ma-la-ca
Ngài là người Trung Ấn, tới Lạc Dương vào niên hiệu Gia Bình năm thứ II (250 TL) đời nhà Ngụy. Trong khi ở tại Lạc Dương, Ngài đã dịch ra bộ "Tăng Kỳ Giới Bổn". Sau đó 2 năm, lại có ngài Khang Tăng Ngải người nước Khang Cư tới Lạc Dương, dịch kinh "Vô Lượng Thọ". 2 năm sau nữa (254 TL), lại có ngài Đàm Đế đến Lạc Dương, phiên dịch bộ “Đàm Vô Đức Yết Ma”. Sau đó là Ngài Bạch Diên, người nước Khâu Tư, dịch bộ "Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác kinh". Trong việc dịch kinh sau này còn có Ngài An Pháp Hiền (người Tây vức).
2. Ngài Khương Tăng Hội
Ngài là người nước Khang Cư, nhưng cha của Ngài lại sinh sống ở Thiên Trúc, về sau đến đất Giao Chỉ (Bắc Việt Nam) buôn bán. Theo bộ "Xuất Tam Tạng Ký Tập" chép: "Khương Tăng Hội, dòng dõi người nước Khang Cư, nhưng đời đời lập nghiệp ở Thiên Trúc, cha Ngài nhân vì công việc buôn bán, nên đã tới đất Giao Chỉ. Khi Ngài mới lên 10 tuổi, thì cha mẹ mất. Vì lòng báo hiếu nên phát tâm xuất gia cầu đạo và chuyên việc nghiên cứu kinh điển. Đương thời, vua Tôn Quyền thống trị vùng Giang Tả, chưa có Phật giáo. Vì muốn hoằng dương chánh pháp, nên Ngài đến thành Kiến Nghiệp khoảng niên hiệu Xích Ô năm thứ 10 (247 TL) để truyền bá Phật giáo. Vua Ngô Tôn Quyền rất kính trọng Ngài, liền dựng

* Trang 196 *
device

chùa Kiến Sơ để Ngài làm nơi phiên dịch kinh điển”. Từ lý do này, ta có thể thấy ngài Khương Tăng Hội là người truyền bá Phật giáo ở Việt Nam vào giai đoạn đầu.
Sách ghi: Ngài có giọng nói rất hay lại khéo tán tụng, nên thu hút được rất nhiều người tin theo Phật giáo. Từ lúc tới nước Ngô, cho đến đầu niên hiệu Đại Khang (280 TL) đời nhà Tấn, trong khoảng hơn 30 năm, Ngài chú trọng vào việc truyền bá Phật giáo và phiên dịch kinh điển. Những kinh điển mà Ngài đã dịch: Lục Độ Tập Kinh, Tạp Ký Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh (chú thích), Đạo Thụ Vương Kinh (chú thích).
Như vậy, ở thời Tam Quốc, các nhà truyền giáo chỉ lấy việc dịch kinh làm chính yếu. Tuy nhiên, Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến 2 nước Nguỵ và Ngô. Đây là dấu hiệu Phật giáo hưng thịnh vào thời kỳ Tây Tấn.
Đến đời Tây Tấn (265- 317), Phật giáo Trung Quốc đã phát triển khá rực rỡ. Vua Huệ Đế cho dựng Chùa Hưng Thành ở Lạc Dương. Vua Mẫn Đế dựng chùa Linh Thông và chùa Bạch Mã ở kinh thành Trường An... Theo bảng thống kê ở sách ''Biện Chính Luận'' của Vương Lâm, ở giai đoạn này tự viện có 108 ngôi, Tăng Ni có hơn 3.700 vị.
Sau Tây Tấn là thời đại Đông Tấn (317 - 419), giai đoạn này Phật giáo phát triển trên hai phương diện: hình thức tín ngưỡng và tư tưởng Phật học. Có nhiều vị

* Trang 197 *
device

Cao Tăng đến Trung Quốc để giáo hoá như ngài: Phật Đồ Trừng, Đạo An, Cưu-ma-la-thập, Tuệ Viễn, Giác Hiền...
3. Ngài Phật Đồ Trừng (232-348)
Ngài là người Tây vực, đến truyền bá Phật giáo ở nước Khâu Tư. Ngài được xem là một vĩ nhân của Phật giáo lúc bấy giờ. Vì mục đích truyền bá Đạo Phật ở phương Đông, nên Ngài đã tới thành Lạc Dương vào niên hiệu Vĩnh Gia thứ IV (310), đời vua Hoài Đế Tây Tấn. Sau khi Ngài hóa đạo cho Thạch Lặc và Thạch Hổ, hai người này rất kính trọng. Ngài tận lực trong việc truyền bá độ sanh cho đến niên hiệu Kiến Võ thứ XIV (348) nhà Hậu Triệu, thì thị tịch, thọ 117 tuổi. Trong quá trình truyền đạo Ngài không áp dụng lối phiên dịch và trước tác kinh điển, mà chỉ lấy đức độ để cảm hóa con người.
4. Ngài Đạo An
Ngài là người ở vùng Thường Sơn (tỉnh Hà Bắc), xuất gia lúc 12 tuổi. Bẩm tính thông minh, nhưng hình tướng xấu xí, nên không được thầy yêu bạn mến, phải chấp lao phục dịch công việc điền viên trong nhiều năm trời. Sau khi thọ Cụ Túc giới, Ngài mới được du phương học đạo, tới chùa Nghiệp Trung, gặp ngài Phật Đồ Trừng, xin nhập môn theo học. Trong chúng bấy giờ, thấy tướng Ngài xấu xí nên đem lòng khinh thị. Ngài Phật Đồ Trừng thấy vậy liền nói: "Người này có

* Trang 198 *
device

kiến thức cao vời, các ông không có thể sánh kịp". Về sau quả nhiên Ngài là người xuất chúng.
Đời nhà Hậu Triệu có nội loạn, Ngài phải lánh nạn về phương Nam. Giữa đường đi, Ngài gặp bạn đồng học là Trúc Pháp Thải, Đàm Nhất, Đàm Nhị... khoảng hơn 40 người đi về thành Kiến Khang nhà Đông Tấn; Pháp Hòa đi về phía nước Thục; còn Ngài và đệ tử là Tuệ Viễn cùng hơn 500 người đến Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc), trú trì tại chùa Đàn Khê. Ở đây, học đồ bốn phương nghe tiếng Ngài và đến học tập rất đông.
Về sau Phù Kiên đã đón Ngài về Trường An, học đồ của Ngài ở đây lên đến hàng ngàn người. Suốt đời Ngài tận tụy với công việc hoằng dương Phật Pháp, tới niên hiệu Kiến Nguyên thứ 21 (385) nhà Tiền Tần, thì Ngài thị tịch, thọ 72 tuổi.
Trong công việc hoằng dương Phật giáo, điều đáng chú ý nhất là Ngài đã tác thành bộ ''Kinh điển mục lục'', để chỉnh lí lại những kinh điển đã dịch từ ngày Phật giáo mới truyền vào cho đến đời Ngài. Những kinh sách Ngài phiên dịch gồm tất cả là 22 bộ. Ngoài ra, Ngài còn định ra Tăng chế để làm quy luật cho Tăng chúng, căn cứ vào 3 việc: “hành hương định tọa”, “sáu thời hành đạo” và “Bố-tát sám hối”. Đặc biệt, Ngài là người đầu tiên chủ trương lấy họ THÍCH để

* Trang 199 *
device

làm họ cho người xuất gia. Trước đó, những người xuất gia đều lấy họ của Thầy mình.
Như vậy, Phật giáo nhà Hậu Triệu tiêu biểu có ngài Phật Đồ Trừng, Phật giáo nhà Tiền Tần có ngài Đạo An (312-385). Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có nhiều vị Tăng từ Tây phương tới Trung Hoa để phiên dịch kinh sách, như các ngài: Tăng-già-bạt-trừng, Tăng-già-đề-bà (người nước Kế Tân), ngài Đàm-ma-nan-đề, Đàm-ma-tỳ (người Tây Trúc).v.v. Đặc biệt, hầu hết các Kinh Luật của Phật giáo Tiểu Thừa ở thời kỳ này đã được dịch ra chữ Hán.
Đến đời Hậu Tần thì Phật giáo thịnh hành hơn, hầu hết các vị Vua nhiệt thành tín ngưỡng Phật giáo như vua Diêu Trành, Diêu Hưng... Ngài Cưu-ma-la-thập là vị Cao Tăng tiêu biểu ở thời này.
5. Ngài Cưu-ma-la-thập (344 - 413)
Ngài là người nước Khâu Tư, xuất gia lúc 7 tuổi, theo mẹ đến nước Kế Tân, sau đó chu du khắp các nước để nghiên cứu giáo lý Phật giáo. Lúc đầu, Ngài theo học Tiểu Thừa, sau theo Đại Thừa. Khi đối đáp Ngài không thua kém một ai, nên người đời thường gọi Ngài là "Thần đồng". Năm 20 tuổi, Ngài trở về Khâu Tư và thọ đại giới ở đây. Năm 401, niên hiệu Hoằng Thuỷ thứ 3, vua Diêu Hưng sai tướng Diêu Thạc Đức đem quân đánh Hậu Lương rồi rước ngài về Trường An và tôn Ngài làm bậc Quốc Sư. Ở Trường An khoảng 12

* Trang 200 *
device

năm, Ngài chuyên phiên dịch kinh điển, đến niên hiệu Hoằng Thuỷ thứ 13 (413) thì Ngài mất, thọ 70 tuổi.
Sự nghiệp phiên dịch kinh điển của ngài Cưu-ma-la-thập, theo "Xuất Tam Tạng Ký", thì Ngài dịch được tất cả là 32 bộ, hơn 300 cuốn; theo "Lịch Đại Tam Bảo Ký" thì có 97 bộ, 425 cuốn; theo "Khai Nguyên Thích Giáo Lục" thì có 74 bộ, 384 cuốn. Các kinh điển do Ngài dịch hầu hết là kinh điển Đại Thừa. Ngoài việc dịch Kinh sách, Ngài còn mở các lớp để giảng diễn Phật Pháp, vì thế môn đồ của Ngài rất đông (có hơn 3.000 người). Các vị đệ tử tiêu biểu của Ngài như: Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sinh, Đạo Dong... Sự nghiệp của Ngài Cưu-ma-la-thập đã đưa Phật giáo Trung Hoa đến một vị thế vô cùng rực rỡ.
Ở giai đoạn này, đã bắt đầu có những tông phái mới là Tam Luận Tông và Thành Thật Tông, đồng thời đã có sự tín ngưỡng Phật A-di-đà, Phật Di Lặc, Bồ-tát Quán Thế Âm... Bốn bộ Kinh điển trọng yếu đã được phiên dịch:
1. Kinh Bát-nhã và các bộ Luận liên quan đến Bát-nhã: Đại Trí Độ Luận, Trung Luận (Ngài La Thập dịch),
2. Kinh Pháp hoa (Ngài La Thập dịch),
3. Kinh Đại bát Niết-bàn (Ngài Đàm Vô Sấm dịch),
 

* Trang 201 *
device

4. Kinh Hoa Nghiêm (Ngài Giác Hiền dịch).
 
II. Giai đoạn thứ hai (Thế kỷ V đến thế kỷ VI)
Năm 420, niên hiệu Nguyên Hưng thứ 2, nhà Đông Tấn bị Lưu Dụ cướp ngôi lập ra nhà Tống (Lưu Tống), đóng đô ở thành Kiến Khang, đổi niên hiệu là Vĩnh Sơ, tiếp đến năm 439 thì thống nhất Giang Bắc. Từ đó hai dân tộc (Giang Nam và Giang Bắc) đối lập nhau, hình thành hai đại cường quốc của Nam Triều và Bắc Triều. Nam Triều có các nước: Tống, Tề, Lương, Trần kế tiếp nhau tự trị; Bắc Triều có Bắc Ngụy... Phật giáo ở thời kỳ này có lúc hưng thịnh cũng có lúc bị bức hại, nhưng phần nhiều được các vua chúa ủng hộ và lại có nhiều danh Tăng xuất hiện, nên đã phát triển ở mọi phương diện về tư tưởng, tín ngưỡng, sự tổ chức giáo đoàn, cũng như về điêu khắc, kiến trúc...
1. Phật giáo đời Nam Triều
Dưới thời nhà Tống, tuy Cao Tổ Võ Đế có lệnh đào thải Tăng Ni, nhưng đến vua Văn Đế lại hết sức ủng hộ Phật giáo. Ở thời này, có các vị Tăng như: Phật-đà-thập, Cương-lương-da-xá, Cầu-na-bạt-ma, Cầu-na-bạt-đà-la...
Đến đời nhà Tề, nhà Lương, nhà Trần, hầu hết các vị vua đều ủng hộ Phật giáo. Đặc biệt là vua Lương Vũ Đế, một vị vua có niềm tin Phật đứng vào bậc nhất trong lịch đại hoàng đế ở Trung Hoa.

* Trang 202 *
device

Lương Vũ Đế, lúc đầu theo Nho giáo và Đạo giáo nên không quan tâm đến Phật giáo, nhưng sau Ngài biết đến Phật giáo thì lại nhất tâm quy y. Năm 504, niên hiệu Thiên Giám thứ 3, vào ngày lễ Phật đản, mồng 8 tháng 4, vua đã cử hành lễ “Xả đạo phụng Phật”. Ngài còn ra lệnh cho các công khanh, bách quan bỏ Đạo giáo để quy y Phật giáo. Niên hiệu Thiên Giám thứ 10 (511), vua soạn bài văn “Đoạn tửu nhục” để quyết tâm tu trì. Năm 517, vua ra lệnh cấm nhân dân không được cúng tế quỷ thần bằng rượu thịt, mà thay thế bằng hoa quả. Năm Thiên Giám thứ 18 (519), ngày 8 tháng 4, vua phát tâm thọ Bồ-tát giới với ngài Tuệ Ước tại chùa Thảo Đường. Sau đó, các vị công khanh, sĩ thứ cũng noi theo vua và đã thọ giới rất nhiều. Vua còn mở ra nhiều pháp hội để thực hiện Bồ-tát hạnh.
Không chỉ chú trọng vào việc phước thiện, Vua rất siêng năng trong việc nghiên cứu giáo lý, vì vậy sự thấu hiểu đạt đến chỗ cao siêu. Đặc biệt về nghĩa lý kinh Bát-nhã, vua hiểu rất thấu đáo. Ngoài ra, vua còn chú sớ bộ "Ma Ha Bát-nhã Ba La Mật Tư Chú Kinh" (50 cuốn) và giảng giải các bộ Kinh cao siêu cho các quan văn võ, Tăng Ni và nhân dân nghe.
2. Phật giáo đời Bắc Triều
Bắc Triều gồm các triều đại: Bắc Nguỵ, Đông Ngụy, Tây Ngụy và Bắc Tề. Sự suy vi ở thời này đã xảy ra. Vua Thái Võ Đế vì nghe lời sàm tấu của quan

* Trang 203 *
device

Tư đồ Thôi Hạo và Đạo sĩ Khấu Khiêm Chi, nên đã dần dần tỏ thái độ phai nhạt đối với Phật giáo. Đây là thời gian mà Tăng Ni có nhiều vị bị bắt buộc phải hoàn tục, hoặc ẩn lánh nơi núi rừng. Chùa Tháp bị đốt phá hoặc sung làm nơi ở của các công khanh. Lịch sử Phật giáo Trung Hoa gọi đây là pháp nạn thứ nhất. Sau khi Thái Võ Đế mất, con là Văn Thành Đế nối ngôi, lập tức hạ chiếu phục hưng Phật giáo. Nhà vua đã làm mọi việc để sám hối những lỗi lầm do vua cha gây ra.
Đến thời Bắc Nguỵ, nhà vua đã tạo mọi thuận lợi cho các vị Tăng từ Tây Vực và Ấn Độ đến Trung Hoa để phiên dịch Kinh sách và truyền bá Phật giáo như: Ngài Bồ-đề-lưu-chi, Lặc-na-ma-đề, Bát-nhã-lưu-chi, Đàm Diệu... Ngoài ra, còn có các ngài Tôn Văn, Huệ Sinh đã "nhập Trúc cầu Pháp", và thỉnh được khá nhiều kinh luận đem về nước. Đến đời Đông Nguỵ, Tây Nguỵ và Bắc Tề, hầu hết các vị vua đều rất mến mộ Phật giáo. Vua đã trích ra 1/3 thuế khoá ở trong nước để dùng vào việc phụng sự Tam bảo. Đương thời, tự viện có 40.000 ngôi, Tăng Ni có trên 3.000.000 người. Đặc biệt, thời kỳ này có Ngài Bồ-đề-đạt-ma từ Nam Thiên Trúc sang. 

Bồ-đề-đạt-ma: Người dòng Sát-đế-lợi, ở Nam Ấn Độ. Thuở nhỏ Ngài đã có chí siêu việt và tài hùng biện, xuất gia với Ngài Bát-nhã-đa-la. Về niên đại Ngài tới Trung Hoa thì có nhiều thuyết khác nhau, nhưng phổ thống nhất là năm 520.  Thời vua Dị Kiến,

* Trang 204 *
device

sau khi được Ngài nhiếp hoá, vua đã cải tà quy chánh. Một thời gian sau, Ngài sang Trung Hoa bằng đường thuỷ, ở trên thuyền gần ba năm mới đến Quảng Châu. Sau lần đối đáp với vua Lương Võ Đế, Ngài đến Chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi quay mặt vào vách im lặng. Cơ duyên đến, ngài hóa độ Thần Quang và đổi tên là Huệ Khả (Tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa). Tiếng tăm của Ngài ngày càng lan rộng, cho nên kẻ Tăng người tục đã đến yết kiến Ngài rất đông.
Mở cửa phương tiện, Ngài đã giáo hoá cho nhiều đệ tử. Sau chín năm giáo hoá ở Trung Hoa, Ngài đã gọi Huệ Khả đến phú kệ, dạy bảo và an nhiên thị tịch vào ngày 9 tháng 10 năm Bính Thìn (529).
Về mặt tư tưởng, ở thời Nam - Bắc Triều đã có nhiều, chủ yếu là tư tưởng "Không" của Thực Tướng Luận, tư tưởng "Hữu" của Duy Thức Học cũng đã song song phát triển. Bên cạnh đó đã ra đời các tông phái như: Tỳ Đàm Tông, Niết-bàn Tông, Thành Thật Tông, Tam Luận Tông, Tịnh Độ Tông, Nhiếp Luận Tông, Địa Luận Tông, Thiền Tông.
Năm 581, đầu niên hiệu Đại Định đời Bắc Chu, Cao Tổ Văn Đế nhà Tuỳ lên ngôi, đổi niên hiệu là Khai Hoàng. Vua Văn Đế tận lực phục hưng Phật giáo. Ở thời này, Thiên Thai Tông được thành lập, giáo đoàn

* Trang 205 *
device

Tăng Ni đã lên tới 236.000 vị, có 4.000 tự viện. Nhà Tuỳ trị vì thiên hạ được 30 năm.
III. Giai đoạn thứ ba (Thế kỷ VII đến thế kỷ IX)
Năm 618, Đường Công Lý Uyên đem quân tiến đánh Trường An, cướp ngôi nhà Tuỳ, lập ra nhà Đường, tự xưng là Cao Tổ Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Võ Đức, sau 7 năm dẹp xong quần hùng ở khắp nơi và lập ra nước Đại Đường. Trong suốt gần 300 năm, các ngành văn hoá, tôn giáo, nhất là Phật giáo được phát triển rất mạnh. Sử gọi đây là "Hoàng kim Thời đại". Phật giáo đời Đường bước sang một giai đoạn mới, không bị phụ thuộc vào thời Đông Tấn và Nam Bắc Triều, một tư tưởng sáng tạo của Phật giáo Trung Hoa. Được các vị Đế Vương ủng hộ, lại có nhiều bậc Cao Tăng thạc đức xuất hiện, nên Phật giáo hưng thịnh và phát triển lạ thường. Trước hết là Tịnh Độ Giáo của ngài Đạo Xước, Thiện Đạo; Nam Sơn Luật Tông của ngài Đạo Tuyên; Pháp Tướng Tông của ngài Huyền Trang; Hoa Nghiêm Tông của ngài Pháp Tạng; Thiền Tông của ngài Thần Tú, Huệ Năng; Mật Giáo của ngài Thiện Vô Uý... Đây là những tông chính hoạt động không ngừng, đưa vị thế Phật giáo đời Đường tới chỗ tuyệt đỉnh. Ngoài ra, sự nghiệp phiên dịch kinh điển ở đời Đường cũng chiếm một vị trí rất quan trọng, vì trong đời này có ngài Huyền Trang xuất hiện, phiên dịch nhiều tư tưởng mới của Phật giáo nên Phật giáo Trung Hoa cũng bước sang một giai đoạn chuyển biến mới.

* Trang 206 *
device

Ngài Hoằng Nhẫn (602-676): Tổ Hoằng Nhẫn quê ở Châu Kỳ, thuộc huyện Hoàng Mai, sinh vào đời nhà Đường năm 602. Năm lên bảy tuổi, gặp Tổ Đạo Tín và  được Tứ Tổ Đạo Tín truyền tâm ấn. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chuyên tu tập thiền định. Ngài có nhiều đệ tử xuất sắc như Huệ Năng, Thần Tú, Tuệ An, Huyền Trạch... Trong đó Huệ Năng và Thần Tú là hai vị tuấn kiệt nhất. Hai vị này là đại biểu cho Thiền Tông ở đời Đường và chia thành hai vùng để truyền bá Thiền Tông. Ngài Thần Tú truyền bá ở phương Bắc, dùng hai Thành Trường An và Lạc Dương làm trung tâm. Ngài Huệ Năng truyền bá ở phương Nam, lấy tỉnh Hồ Nam và Giang Tây làm trung tâm. Bắc Thiền thuộc lối tiệm tu, tiệm chứng. Nam Thiền theo phương pháp đốn tu, đốn ngộ, nên có danh từ  "Nam đốn - Bắc tiệm".
Ngài Huệ Năng (638-713): Tổ họ Lư, sinh ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638), đời vua Đường Thái Tông, niên hiệu Trinh Quán thứ 21. Tổ tiên ở Phạm Dương sau dời về xứ Tân Châu, thuộc miền Lĩnh Nam, phủ Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông. Thân phụ là Lư Hành Thao, thân mẫu họ Lý. Hành Thao từng làm quan Tả Thần đời Đường Võ Đức sau bị giáng chức, rồi bị bệnh và mất tại Lĩnh Nam khi Ngài mới lên 3 tuổi. Trong thời gian ấy, Ngài làm nghề bán củi nuôi Mẹ. Năm 24 tuổi, trong một lần bán củi, nghe tiếng tụng kinh Kim Cang, tâm liền khai ngộ. Nhờ nhân duyên đó và nhờ người giúp đỡ, Ngài liền đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn xin xuất gia. và được Ngũ Tổ

* Trang 207 *
device

truyền y bát. Môn đệ của ngài có  nhiều vị xuất chúng, như các ngài Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vĩnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải...
Niên hiệu Tiên Thiên (712), một hôm Sư gọi đồ chúng đến bảo:
- Ta ở chổ Tổ Hoằng Nhẫn thọ pháp yếu cùng y bát. Nay chỉ nói pháp mà không truyền y bát, bởi vì các ngươi lòng tin đã thuần thục, không còn nghi ngờ, nên chẳng truyền. Nghe ta nói kệ:
Tâm địa hàm chư chủng
Phổ vũ tất giai manh
Đốn ngộ hoa tình dĩ
Bồ-đề quả tự thành.
Dịch: 
Đất tâm chứa các giống
Mưa khắp ắt nẩy mầm
Hoa tình vừa đốn ngộ
Trái Bồ-đề tự thành.
Ngài dạy tiếp: Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy, đạo kia thanh tịnh cũng không các tướng. Các ngươi dè dặt chớ quán tịnh và tâm kia không. Tâm này sẵn tịnh, không lấy không bỏ, mỗi người tự nỗ lực tuỳ duyên đi an lành.       

* Trang 208 *
device

Sau 40 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài đến chùa Quốc Ân, ở Tân Châu và an nhiên thị tịch vào ngày mồng 2 tháng 8 năm Quý Sửu, niên hiệu Tiên Thiên thứ 2 (713) đời Đường, thọ 76 tuổi. Vua Đường Hiến Tông truy phong ngài là Đại Giám Thiền Sư, tháp hiệu Nguyên Hoà Linh Chiếu. Môn đệ của ngài có 43 vị.
Phật giáo đời Đường có rất nhiều tư tưởng giáo học của các tông xuất hiện, có thể nói đây là thời kỳ toàn thịnh trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Về phương diện phiên dịch kinh điển cũng bước sang giai đoạn cải cách mới, nên được gọi là "Tân dịch thời đại".Trong số các nhà phiên dịch, đáng kể nhất là ngài Huyền Trang, người có công rất lớn trong sự nghiệp truyền bá Phật pháp ở thời kỳ này.

Ngài Huyền Trang (600-664): Người ở Lạc Châu, tỉnh Hà Nam, xuất gia năm 13 tuổi, sau đó chu du khắp nơi, nhưng vì muốn nghiên cứu về giáo nghĩa mới của Phật giáo, nên ngài quyết chí "nhập Trúc cầu Pháp". Xuất phát từ năm Trinh Quán thứ 3 (629), theo đường phía Bắc dãy núi Thiên Sơn, Ngài phải trải qua bao gian nan, nguy hiểm mới tới được Ấn Độ. Bấy giờ, tu viện Na-lan-đà (Nalanda) là một cơ sở căn bản của Đại Thừa Phật giáo, có nhiều danh Tăng thạc đức, đứng đầu là ngài Giới Hiền Luật sư. Ở đây, trong một thời gian dài, Ngài tuần du khắp nước Ấn Độ và sưu tầm nhiều nguyên văn Phạn bản, các Kinh Luận Đại Thừa, Tiểu Thừa và các Triết học ngoại đạo, gồm 659 bộ;

* Trang 209 *
device

Ngài còn thỉnh được nhiều xá lợi Phật. Tới năm Trinh Quán thứ 19 (645), Ngài về tới Trường An. Vua Thái Tông đón Ngài về chùa Hoằng Phúc, thiết lập viện phiên dịch ở chùa Từ Ân. Đầu niên hiệu Lâm Đức (664), đời vua Cao Tông, Ngài tịch ở cung Ngọc Hoa, thọ 63 tuổi. Vua Cao Tông đã bãi triều 3 ngày để làm lễ Quốc tang.
Những kinh điển mà Ngài đã dịch gồm có 76 bộ, 1349 cuốn. Trong đó chủ yếu là: "Đại Bát-nhã Ba La Mật Kinh" (600 cuốn). Ngoài phiên dịch, Ngài còn soạn ra bộ "Đại Đường Tây Vực Ký" (12 cuốn), ghi chép trạng thái tôn giáo, địa lý, lịch sử và phong tục của Ấn Độ và các nước phụ cận đương thời mà Ngài đã trải qua.
Tư tưởng giáo học ở giai đoạn này đều là những tư tưởng triết học cao xa, chỉ thích ứng về mặt nghiên cứu, học hỏi, nên bị giới hạn ở một giai cấp nào đó mà thôi. Còn đối với đại đa số quần chúng thì phải đề cập đến tín ngưỡng, cho nên vấn đề tín ngưỡng cũng được phát triển nhanh chóng, đó cũng là sự thích ứng với hoàn cảnh tâm lý xã hội. Như tin về nhân quả báo ứng, tín ngưỡng Phật A-di-đà và Bồ-tát Quán Thế Âm, tín ngưỡng đức Văn Thù, tín ngưỡng xá lợi Phật...
Về mặt xã hội, các đời vua Trung Hoa trong giai đoạn này đều có những chính sách ưu đãi với Phật giáo.Về giáo đoàn, dù đã được tổ chức từ thời Nam Bắc Triều, nhưng đến thời nhà Đường thì tổ chức mới được hoàn bị. Bên cạnh đó, các mặt văn hoá, xã hội, các pháp hội về

* Trang 210 *
device

nghi lễ, văn học Phật giáo cũng được ra đời và phát triển nhanh chóng.
Sự ra đời và phát triển về các mặt đã đưa Phật giáo Trung Hoa thời kỳ này đến chỗ cực thịnh. Sự huy hoàng này, có thể nói, các thời đại khác trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa không thể sánh kịp.
IV. Giai đoạn thứ tư (thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX)
Sau thời Đường là thời Ngũ Đại (907-960), đó là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu cùng nối tiếp nhau trị vì thiên hạ. Từ đây trở về sau, sử Trung Quốc gọi là "Cận thế thời đại". Phật giáo giai đoạn này cũng được gọi là "Cận thế Phật giáo". Sau thời Đường, Phật giáo dần dần bị suy kém, lại gặp thời chiến loạn Ngũ Đại, nạn phế Phật của nhà Hậu Chu, nên Phật giáo ở giai đoạn này chỉ là thời đại duy trì, không có gì đặc sắc đáng kể.
Thái Tổ đem quân bình định khắp nơi, rồi lập ra nhà Tống (960-1279), Phật giáo thời này tuy có khá hơn thời Ngũ Đại, nhưng kém nhuệ khí, các tông phái lại mất hẳn tính chất độc lập của mỗi tông. Đến đời Nam Tống, các triều vua cũng bảo hộ Phật giáo, nên các tông phái trở lại hưng thịnh như: Thiền Tông, Thiên Thai Tông, Luật Tông, Tịnh Độ Tông...
Công cuộc phiên dịch Kinh điển gần 200 năm đã bị gián đoạn, đến thời này mới được phục hưng lại. Các ngài

* Trang 211 *
device

phiên dịch đáng chú ý gồm Mạn-thù-thất-lợi, Pháp Thiên, Thi Hộ, Pháp Hộ...
Về mặt văn hoá thì chỉ duy trì văn hoá Phật giáo đời Đường. Quan hệ giữa Nho - Phật - Lão đã nảy sinh những tư tưởng bài xích nhau để tranh luận hơn kém. Bên cạnh đó, vào thời gian này, ở khu vực thượng lưu sông Liêu Hà, các bộ tộc thống nhất, nhà Liêu ra đời (907-1124). Lợi dụng giai đoạn nhà Liêu suy yếu, ở một địa vực, nước Mãn Châu nhà Kim lại ra đời (1115-1234). Trung Hoa bấy giờ không còn được thế lực thống nhất như trước.
Đến năm 1279, sau một thời gian bình định đất nước, Hốt Tất Liệt đã thống nhất toàn lãnh thổ Trung Hoa, đổi quốc hiệu là Nguyên. Đối với Tôn giáo, nhà Nguyên chủ trương tự do tín ngưỡng, nên các tôn giáo tự do phát triển. Ngoài 3 tôn giáo chính là Nho - Phật - Lão, còn có các tôn giáo mới được truyền vào như: Lạt Ma Giáo, Hồi Giáo, Gia Tô Giáo... Trong số đó Lạt Ma Giáo vì được triều đình nhà Nguyên hết sức bảo hộ nên được hưng thịnh nhất.
Triều đình nhà Nguyên một phần vì cuồng tín Lạt Ma giáo, một phần bị quyền thần chuyên chế làm hỗn loạn kỷ cương, nhân dân bị nhiều thiên tai đói kém, nên loạn lạc nổi dậy khắp nơi để chống lại chính quyền. Chu Nguyên Chương, người Hán, cầm quân tiêu diệt nhà Nguyên rồi tự lên ngôi, lấy quốc hiệu là Minh, đổi niên

* Trang 212 *
device

hiệu là Hồng Đức vào năm 1368. Nhà Minh trị vì thiên hạ trong gần 300 năm, gồm 20 đời vua. Nhận thấy sự tệ hại của Lạt Ma giáo nên vua đã cho phục hưng Phật giáo, song chỉ dừng lại ở mức độ trung hoà, vì bấy giờ các tôn giáo khác cũng hoạt động khá mạnh và ở nhiều nơi. Tuy nhiên, Phật giáo ở thời kỳ này được chỉnh đốn trang nghiêm nên giáo đoàn rất có trật tự. Ở thời nhà Minh, tuy Thiền tông được thịnh hành, nhưng đa số nhân dân thì lại tín ngưỡng pháp môn niệm Phật.
Năm 1616 đến 1628, Thái Tổ chiếm lĩnh Liêu Dương và Thẩm Dương, sau đó đổi Quốc hiệu là Đại Thanh, trị vì thiên hạ được 300 năm. Tháng 12 năm 1911, Tôn Văn lật đổ vua Tuyên Thống, và Trung Hoa Dân Quốc ra đời năm 1912.
Sau khi không còn chế độ Quân chủ, chính thể Cộng Hoà ra đời. Ngài Kính An vận động và thành lập "Trung Quốc Phật giáo Tổng Hội" tại Thượng Hải, rồi đệ đơn lên Tổng thống Tôn Văn xin bảo hộ Phật giáo. Chính phủ lâm thời đã chấp thuận lời thỉnh cầu đó nên Phật giáo cũng tạm thời được ổn định.
Phật giáo Trung Hoa thời cận đại do sự cải cách của các đoàn thể Tăng-già, cư sĩ, nhất là nhờ tài thao lược, vận động hộ pháp của Thái Hư Đại Sư, nên Phật giáo ở thời này được chấn chỉnh.

Thái Hư Đại Sư (1889-1946): Người huyện Sùng Đức, Tỉnh Triết Giang, xuất gia tại chùa Phổ Đà Sơn. Ngài

* Trang 213 *
device

luôn lưu tâm tới việc cách tân Phật giáo. Năm 1915, ngài trước tác bộ "Chỉnh lý Tăng-già chế độ luận", nêu rõ lý tưởng Tăng-già, lấy giáo dục làm nền tảng. Ngài lập ra "Kim Lăng Học Đường" ở Nam Kinh. Năm 1922, Ngài lại sáng lập "Võ Xương Phật Học Viện" để đào tạo Tăng tài. Đặc biệt, Ngài kiến thiết "Tạng Văn Học Viện" ở Bắc Kinh. Đây là trường học để cho học Tăng chuẩn bị sang Tây Tạng du học.
Sự nghiệp của Thái Hư Đại Sư không những chỉ làm cho Phật giáo Trung Hoa được ổn định, mà còn ảnh hưởng tới các nước trên thế giới, do kết quả từ những lần đi sang các nước, gọi là "viễn du truyền đạo" của Ngài.
D. KẾT LUẬN
Không một sự kiện nào vượt ra ngoài quy luật thịnh suy, vô thường. Phật giáo Trung Hoa cũng vậy, đã có những thời cực thịnh thì chắc chắn sẽ có thời suy vong, nhưng sự thịnh suy chỉ là hiện tượng, còn căn bản về giáo lý Phật-đà thì đã ăn sâu vào lòng con người của đất nước Trung Hoa. Những giai đoạn suy vong của Phật giáo Trung Hoa, chúng ta sẽ tìm hiểu sau.


***

* Trang 214 *
device

 
Phật học khái lược 2