LOGO VNBET


LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TRUNG HOA
(CÁC THỜI KỲ SUY VONG)
 
Như chúng ta đã biết, cuộc đời là vô thường, không có một cái gì thoát ra khỏi định luật chung ấy được. Đạo Phật Trung Hoa đã có thời kỳ cực thịnh, tất cũng phải có lúc suy vong, mà chúng ta sắp đề cập sau đây.
Các nhà viết sử Phật giáo Trung Hoa, khi nói đến những thời kỳ suy vong của đạo Phật, thường tóm tắt trong một câu: “Tam Võ Nhất Tôn chi ách”. Câu này muốn nói cái thời vận đen tối của đạo Phật, nằm trong ba đời vua Võ (Thái Võ nhà Hậu Nguỵ, Võ Đế nhà Bắc Chu, Võ Tôn nhà Đường) và một đời vua Thế Tôn nhà Hậu Chu.
I. Pháp nạn thứ nhất: dưới đời Hậu Nguỵ, Thái Võ Đế (439-450)
Gần ba thập niên đầu dưới thời Nam Bắc Triều (420-588), đạo Phật vẫn thịnh hành, vua chúa sùng mộ, giới Tăng sĩ thì mỗi ngày một đông. Nhưng đến niên hiệu Thái Bình Chơn Quân thứ bảy (446), đạo Phật bắt đầu trải qua một cuộc suy vi. Hậu Nguỵ Thái Võ Đế, lúc đầu, cũng như Tiên Đế, vẫn quan

* Trang 215 *
device

tâm tới Phật giáo, nhưng sau khi tin dùng quan tư đồ Thôi Hạo và Đạo sĩ Khâu Khiêm Chi, vua dần dần trở nên phai nhạt với Phật giáo, tin theo Lão giáo. Vì Thôi Hạo là người có hoài bão muốn lấy Nho Giáo làm trung tâm văn hoá của Trung Quốc và Đạo sĩ Khâu Khiêm Chi lại là người tận lực truyền bá Lão giáo, nên cả hai đã phối hợp, quyết dụng tâm tiêu diệt Phật giáo.
Nhân lúc ở Thiểm Tây có loạn Cái Ngộ, vua thân chinh đi dẹp loạn, tình cờ vào một ngôi chùa ở Trường An, khám phá trong chùa có vũ khí, vua nghi ngờ nhà chùa thông đồng âm mưu với Cái Ngộ. Lại thêm lời gièm pha của Thôi Hạo và Khâu Khiêm Chi, nên vua liền hạ chiếu chỉ phế bỏ Phật giáo. Vô số kinh tượng bị thiêu huỷ, toàn bộ chùa tháp bị đập phá, hoặc trưng dụng để làm công sự, có nơi làm chỗ ở cho công hầu khanh tướng. Hàng Tăng lữ bị buộc phải hoàn tục, có một số lẫn trốn vào rừng hoặc chạy sang nước khác để tiếp tục tu hành. Lịch sử Phật giáo Trung Quốc gọi đây là pháp nạn thứ nhất trong “Tam Võ Nhất Tôn pháp nạn”.
Nhưng vận mệnh của kẻ bạo tàn không thể lâu dài được, bốn năm sau khi thi hành thủ đoạn tàn ác trên, Thái Võ Đế từ trần. Văn Thành Đế lên nối ngôi, nhận thấy việc làm tàn ác, vô lý và nguy hại của tiên đế, đã truyền lệnh phục hưng Phật giáo. Nhờ đó đạo Phật dần dần lấy lại thanh thế cũ.

* Trang 216 *
device

II. Pháp nạn thứ hai: dưới đời Bắc Chu, Võ Đế (574)
Sau khi Bắc Nguỵ chia ra Đông Nguỵ và Tây Nguỵ, nước kế tiếp Đông Nguỵ là Bắc Tề và kế Tây Nguỵ là Bắc Chu. Vua Bắc Chu là Hiếu Mẫn Đế và Hiếu Minh Đế cũng tin theo Phật giáo nhưng lấy tư tưởng Nho Giáo làm văn hoá chính. Tới đời thứ ba là Chu Võ Đế, sau khi tức vị, vì có hoài bão thống nhất lễ giáo và thôn tính Bắc Tề để thống nhất thiên hạ, nên vua hạ chiếu chỉ phá huỷ Phật giáo.
Nguyên nhân dẫn đến sự phá huỷ Phật giáo này là do Vệ Nguyên Tung và Đạo sĩ Trương Tân. Trước hết, năm Thiên Hoà thứ hai (567), Vệ Nguyên Tung dâng vua một dự án đề nghị phá huỷ tất cả những chùa viện, chỉ để lại một ngôi chùa lớn là “Bình Đẳng Diên Tự”. Ngôi chùa này sẽ là nơi quy tụ của muôn dân, mà Hoàng đế tức là Như Lai. Vì vậy, nhà vua đã hai ba lần hội họp, bàn bạc với quần thần để giải quyết vấn đề đó, nhưng chưa quyết nghị được.
Đến năm Thiên Hoà thứ tư (569), vua hội họp các bậc cao Tăng, danh Nho và Đạo sĩ, cộng tất cả hơn 200 vị để bàn thảo về lẽ hơn kém của các Đạo nhưng không có kết quả. Vua bèn sắc chỉ cho Yên Bình nghiên cứu về sự hơn kém này. Yên Bình vâng mệnh vua, soạn bộ “Tiểu Đạo Luận” (3 quyển) đệ

* Trang 217 *
device

lên vua. Nội dung của bộ luận này có lợi cho Phật giáo nên vẫn chưa quyết định được sự hơn kém giữa Phật giáo và Lão giáo.
Đến năm Kiến Đức thứ 3 (574), vua cho họp các bậc cao Tăng và Đạo sĩ để đăng đàn thảo luận. Về Phật giáo có ngài Trí Huyền làm đại biểu, Lão giáo có Trương Tân, hai bên lần lượt đăng đàn nghị luận. Kết cuộc, Trương Tân phải khuất phục trước sự hùng biện của ngài Trí Huyền. Thâm ý của vua vốn muốn huỷ diệt Phật giáo, nhưng qua sự kiện này, nhà vua không có cớ để triệt hạ Phật giáo. Cuối cùng vua quyết định hạ chiếu chỉ phế bỏ cả Phật giáo và Lão giáo. Chiếu chỉ vừa ban ra thì kinh tượng, chùa tháp đều bị đốt phá, hoặc trưng dụng làm công sở... Mặc dù có rất nhiều danh Tăng kháng cự nhưng vô hiệu. Cũng như lần pháp nạn trước, Tăng Ni phải hoàn tục hoặc tìm cách ẩn tu nơi rừng núi. Thậm chí, vua còn ra lệnh cấm tín đồ Phật giáo không được thờ Phật. Lần pháp nạn thứ hai này còn bi đát hơn lần thứ nhất nhiều.
Nhưng ít năm sau, Võ Đế mất, Tuyên Đế nối ngôi, lại sắc chiếu phục hưng Phật giáo, truyền dịch kinh luận. Nhờ đó, đến đời Tuỳ, Phật giáo mới trở lại thịnh hành, vua quan đều quy y Phật Pháp. Phật giáo hưng thịnh được khoảng 250 năm thì bị pháp nạn thứ ba.

* Trang 218 *
device

III. Pháp nạn thứ ba
Pháp nạn này được gọi là “Võ Tôn phế Phật” hay “Hội Xương pháp nạn”, dưới thời Võ Tôn nhà Đường (840-847).
Pháp nạn Phật giáo lần thứ ba này xảy ra vào năm Hội Xương thứ 2 (842), cuối đời Đường, nên gọi là “Hội Xương Pháp nạn”. Nguyên nhân xảy ra pháp nạn này trước hết phải nói đến sự quan hệ giữa Phật giáo và Lão giáo.
Trong đời Đường, sở dĩ Lão giáo chiếm được địa vị trọng yếu là vì Lão Tử - thuỷ tổ của đạo Lão - tên Lý Nhĩ, cùng họ với hoàng thất nhà Đường, nên lịch đại triều vua Đường đều tin sùng Lão Tử, xem ông là tổ tiên của Đường thất.
Đầu đời Đường, năm Võ Đức thứ tư (621), có quan Thái Sử Lệnh và Đạo sĩ Phó Tuy dâng sớ tâu vua gồm 11 điều, trong đó có một điều xin vua hạ lệnh thải hồi Tăng Ni và hạn chế việc xây dựng chùa tháp. Họ bảo rằng, có như vậy mới tiết kiệm được ngân khoản quốc gia; nhưng ý chính vẫn là mưu đồ triệt hạ Phật giáo để đưa Lão giáo lên hàng đầu. Nhưng đương thời có Sa-môn Pháp Lâm là nhà đại tài hùng biện, đã soạn ra quyển “Phá Tà Luận” để chỉ trích sự gian nịnh của Lão giáo. Hơn nữa, trong cung lại gặp biến loạn nên sự công kích kia đã bị dập tắt. Từ đó về sau, triều đình áp dụng chính sách

* Trang 219 *
device

khoan dung bình đẳng, nên các tôn giáo được phát triển tự do.
Một nguyên nhân khác xuất phát từ yếu tố nội tại. Phật giáo phát triển quá mạnh và quá nhanh, nên sự kiểm soát không được chặt chẽ. Tình trạng tự làm mất bản chất trong nội bộ Phật giáo đã xảy ra, như chứa chấp tài sản, số đông tu sĩ chỉ lo khu danh trục lợi... Đây là cơ hội tốt cho vua Võ Tôn - vốn là ông vua thâm tín Lão giáo - thẳng tay tiêu diệt Phật giáo. Bên cạnh đó, các Đạo sĩ còn châm thêm những lời sàm tấu, xúi giục, cho nên Phật giáo không thể chống đỡ nổi, mà đành phải bị suy vong. Nhà vua đã hạ sắc lệnh phá huỷ đến 44.600 ngôi chùa, bắt 265.000 Tăng Ni hoàn tục; những chuông, khánh bằng đồng đều bị tịch thu để đúc tiền.
Năm Hội Xương thứ 6 (846), Võ Tôn băng hà, Tuyên Tôn lên nối ngôi, vua liền hạ chiếu chỉ phục hưng Phật giáo. Tuy vậy, truyền thống của các tông phái đều đã bị tan rã, tản mạn khắp nơi. Kinh điển đều bị thất lạc, cho nên Phật giáo cũng theo vận mệnh đời Đường mà đi vào vòng suy thoái.
IV. Pháp nạn thứ tư
Lần pháp nạn này xảy ra dưới đời Thế Tông, nhà Hậu Chu (giữa thế kỷ X)
Sau khi nhà Đường mất ngôi, nước Trung Hoa trở thành miếng mồi xâu xé giữa các chư hầu, chiến

* Trang 220 *
device

tranh nổi dậy khắp nơi. Đạo Phật cũng chịu nhiều ảnh hưởng tai hại lớn về thời cuộc. Thêm vào đó, còn có sự phá phách của một ông vua nhà Hậu Chu là vua Thế Tôn (niên hiệu Hiển Đức thứ 2 - 955).
Vị vua này rất ghét đạo Phật, nên đã sắc chỉ phá huỷ chùa chiền đến 30.336 ngôi, đem tượng đồng, chuông, khánh ra đúc tiền; các kinh tạng đều bị phá huỷ hay thất lạc gần hết. Trước tình trạng đen tối ấy, đạo Phật Trung Hoa tưởng như diệt vong. Nhưng không, nhà Tống sau khi bình được thiên hạ, đã ra sức chấn hưng đạo Phật, sai sứ sang Tây vức thỉnh kinh và thỉnh Pháp sư về Trung Hoa hoằng dương chánh pháp.
* KẾT LUẬN
Cũng như ở Việt Nam, các vị vua khai quốc của các triều đại ở Trung Hoa, phần nhiều là những vị có đức hạnh và sáng suốt; nhận thấy cần phải chấn hưng Phật pháp thì dân chúng mới được thuần lương, nước nhà thịnh trị. Trái lại, các vị vua cuối triều đa số là những vị hôn quân, vô đạo nên đã huỷ phá Phật giáo. Vì thế, nước đã loạn lại càng loạn thêm, ngai vàng của họ cũng sụp đổ theo đà suy vong của Phật pháp.
Đạo Phật Trung Hoa có lúc thịnh, lúc suy. Trong sự thịnh suy ấy, công và tội của các hoàng đế, vương tôn rất lớn, nhưng không phải là tất cả. Vua và triều đình chỉ là tăng thượng duyên, còn nguyên nhân, động cơ chính

* Trang 221 *
device

vẫn là tín đồ và nhất là giới lãnh đạo Phật giáo. Khi tín đồ có đạo hạnh và lòng tin mạnh mẽ, triều đình có muốn phá Đạo cũng chỉ phá được một phần nào thôi. Ngược lại, khi tín đồ thiếu lòng tin, các vị lãnh đạo thiếu đạo hạnh, thiếu sáng suốt và thiếu tinh thần tiến thủ, thì vua chúa có muốn nâng đỡ, cũng chỉ nâng đỡ được phần nào mà thôi.
Cho nên, bao giờ cũng thế, sự xây dựng hay sự phá hoại, trước tiên đều do ở bên trong mà ra. Thật đúng như câu: “Sư tử trung trùng thực sư tử nhục”.

* Trang 222 *
device

 
Phật học khái lược 2