LOGO VNBET


MƯỜI TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO Ở TRUNG HOA
(LUẬT TÔNG, TỊNH ĐỘ TÔNG, THIỀN TÔNG)
 
Khác với các tôn giáo khác, Phật giáo không có những giáo điều thần khải, không có tinh thần cứng nhắc, gò bó trong những nghi thức hẹp hòi, câu nệ; mà trái lại rất phóng khoáng tự do, dễ khoan dung hòa hiệp; nên khi đạo Phật truyền bá đến đâu cũng được áp dụng uyển chuyển tùy theo căn cơ, hoàn cảnh của mỗi địa phương để từ đó Phật giáo trở nên đa dạng, nhiều màu sắc. Như vậy, sự phân chia thành nhiều tông phái là một tất yếu trong quá trình phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng của Phật giáo trên mỗi quốc độ khác nhau.
Ở Trung Hoa, đạo Phật đã được phân thành mười tông phái, mỗi tông đều có đặc điểm khác nhau, nhưng không bao giờ vượt ra ngoài nền tảng giáo pháp của đức Phật. Ví như có nhiều ngã đường khác nhau nhưng chúng đều đưa hành giả đến một đích duy nhất là giải thoát và giác ngộ. Trong phạm vi bài học này, chúng ta không thể đi sâu vào nghiên cứu hết nghĩa lý của mỗi tông được, mà chỉ làm quen với các thuật ngữ

* Trang 223 *
device

để làm cơ sở nhập môn cho quá trình tu tập lâu dài, cũng như tìm hiểu khái quát nội dung cốt tủy của mỗi tông. Chúng ta sẽ lần lượt đi vào nội dung của mười tông phái như sau.
A. LUẬT TÔNG
I. Duyên khởi lập tông
Khi còn tại thế, đức Phật đã tùy căn cơ hoàn cảnh mà chế ra nhiều loại giới luật để răn dạy các đệ tử. Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, các vị đại đệ tử của Ngài, đặc biệt là tôn giả Ưu-ba-ly, đã trùng tuyên lại tất cả giới luật trong kỳ kết tập thứ nhất, và sau đó phát triển dần thành Luật tạng, một trong tam tạng giáo điển Phật giáo. Khi Nguyên Thủy Phật giáo được chia thành nhiều bộ phái thì Luật tạng cũng được phân thành nhiều bộ luật khác nhau, và các bộ luật được nói đến và được áp dụng nhiều nhất là: Thập tụng luật, Tứ phần luật, Tăng kỳ luật Ngũ phần luật. Các bộ luật này về sau được phiên dịch và truyền bá tại Trung Hoa. Ngài Đạo Tuyên, đệ tử của Ngài luật sư Trí Thủ, đã căn cứ trên bộ luật Tứ phần do thầy mình chú giải mà thành lập ra Luật Tông. Bên cạnh đó, cũng có các Luật tông khác hình thành nhưng không thịnh hành và phát triển bằng “Chung Nam Sơn Tông” (một tên gọi khác của Luật tông do ngài Đạo Tuyên thành lập, vì Ngài là người ở Chung Nam Sơn).

* Trang 224 *
device

II. Tôn chỉ và đặc điểm của Luật Tông
Luật tông chủ yếu dựa trên giáo lý nghiệp báo. Nghiệp là động lực chính của vũ trụ nhân sinh, là yếu tố quyết định đời sống của chúng ta dựa trên căn bản ba khía cạnh: thân, khẩu và ý nghiệp. Nếu các nghiệp ấy được thanh tịnh thì chúng ta không thọ quả báo sanh tử luân hồi, tức là giải thoát. Muốn các nghiệp thanh tịnh thì ta phải giữ gìn giới luật. Giữ giới là một trong những phương pháp tu hành mà Phật đã chế ra. Phương pháp này rất thiết thực và hiệu nghiệm trong việc thanh tịnh hóa tâm linh, tầm cầu những thiện quả, thiện báo. Ví dụ như không sát sinh thì khỏi bị đoạ lạc vào ba đường dữ, không trộm cắp thì không bị quả báo nghèo hèn, bị cướp giật…
Nói tổng quát, giữ một giới là ngăn ngừa được một điều tội lỗi, giữ nhiều giới là làm được nhiều điều lành. Bởi thế, giữ giới là pháp tu rất cần thiết cho Phật tử trên hành trình tầm cầu giải thoát. Nhờ giữ giới luật, nên các căn thanh tịnh là điều kiện để tâm thức được định tĩnh, do tâm định mà phát ra trí tuệ sáng suốt hay phá trừ vô minh si ám và kiến tánh thành Phật.
Người tu tại gia có giữ giới mới trở thành Phật tử chơn chánh. Người xuất gia có giữ giới mới trở thành chơn tu, thanh tịnh. Bồ-tát có giữ giới mới là chơn Bồ-tát. Bởi thế trong ba môn vô lậu học, giới đứng đầu tất

* Trang 225 *
device

cả . Lợi ích thiết thực và chắc chắn của việc hành trì giới luật chính là mục đích của Luật tông vậy.
III. Phân loại giới luật
Đức Phật chế giới luật luôn tùy theo từng căn cơ, nhiều cấp bậc khác nhau. Đại thể có hai loại lớn:
1. Giới luật Thanh Văn:  Những giới luật tuy cũng có lợi ích cho cả tự thân và tha nhân, nhưng tự trong nội tâm người trì giới chỉ chú trọng giải thoát tự lợi, mục đích là tránh tội lỗi cho riêng mình. Những Giới thuộc loại này như: 5 giới tại gia, 8 giới Quan trai, 10 giới Sa-di, 6 giới Thức-xoa-ma-na, 250 giới Tỳ-kheo, 348 giới Tỳ-kheo-ni (Bắc Tông); theo Nam Tông thì Tỳ-kheo 227 giới, Tỳ-kheo-ni 311 giới.
2. Giới luật Bồ-tát: Những giới luật có tánh tích cực hơn, nhắm vào lợi tha hơn tự lợi, như 10 giới trọng, 48 giới khinh, Tam tụ tịnh giới của Bồ-tát xuất gia; 6 giới trọng, 28 giới khinh của Bồ-tát tại gia.
Đứng về phương diện hành trì, giới luật được chia thành hai phần lớn là chỉ trì và tác trì. Đây cũng chỉ là sự phân biệt tương đối để dễ dàng trong khi giữ giới, kỳ thật trong “chỉ” có “tác”, trong “tác” có “chỉ”. Cũng vậy, trong tự lợi có lợi tha, trong lợi tha có tự lợi.

* Trang 226 *
device

1. Chỉ Trì: có 2 bộ giới bổn
- Tỳ-kheo giới bổn gồm 250 giới, có thể tùy nghi chia thành 5 thiên, 6 tụ, 7 tụ…
- Tỳ-kheo-ni giới bổn, gồm 348 giới, cũng được chia thiên, tụ như của Tỳ-kheo.
Các giới trên được gọi là Cụ túc giới, nghĩa là giới đem lại cho người thọ vô lượng giới hạnh phước đức. Ngoài các giới bổn ấy, nếu kể đủ thì có đến 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh cho Tăng, và 80.000 oai nghi, 120.000 tế hạnh cho Ni.
Sở dĩ đức Phật lập ra nhiều giới luật như vậy là vì con người phàm phu, từ tâm niệm đến hành vi, có quá nhiều tội lỗi, mỗi giới là để ngăn ngừa một tội lỗi.
2. Tác Trì: gồm có 20 kiền độ, như thọ giới, thuyết giới, an cư, tự tứ…
IV. Các danh từ và phương pháp thực hành
1. Danh, chủng, tánh, tướng
Danh: Tên (danh từ) chỉ mỗi giới, như giới bất sát, giới bất đạo …
Chủng: Chủng loại, như các thiên, tụ đã nói trên …
Tánh: Tâm tánh, tánh chất bên trong của người giữ giới (giới tánh).
 

* Trang 227 *
device

Tướng: Hình tướng bên ngoài thể hiện sự hành trì giới (giới tướng).
Tóm lại, khi phạm một giới nào, hành giả cần biết đó là giới gì, nó thuộc loại nào, tánh hay tướng, và cách trị phạt, sám hối thế nào để được thanh tịnh.
2. Khai, già, trì, phạm
Khai: Khai là mở, làm cho những điều về hình tướng trái với giới bổn, trong những trường hợp đặc biệt như: cứu người, chữa bệnh, hoặc nguy hiểm tánh mạng …
Già: Ngăn cấm, không cho làm.
Trì: Hành trì, giữ gìn giới đã thọ một cách thanh tịnh.
Phạm: Không giữ đúng, vi phạm những giới đã thọ.
3. Chỉ trì tác phạm, chỉ phạm tác trì
Chỉ trì: Những điều thuộc về phương diện đình chỉ điều ác, không gây tội lỗi.
Tác phạm: Các điều ác không giữ được, đã làm cho nên phạm.
Tác trì: Thuộc phương diện các điều thiện, cần phải làm mới là giữ giới.
 

* Trang 228 *
device

Chỉ phạm: Các điều thiện không làm là phạm.
4. Tánh giới, già giới
Tánh giới: Giới để ngăn ngừa các tánh tội vốn có sẵn trong bản tánh chúng sanh như sát, đạo, dâm, vọng. Giới này rất quan trọng và cũng rất khó giữ.
Già giới: Giới để ngăn ngừa già tội do hoàn cảnh huân tập mà phát sanh. Giới này tuy ít quan trọng hơn nhưng lại là tăng thượng duyên rất lớn để giữ trọn tánh giới.
V. Kết luận
Mục đích của giáo pháp đức Phật đã dạy chúng ta là minh tâm, kiến tánh, thành Phật. Tông phái nào cũng đều đưa đến một đích cuối cùng là giải thoát. Không đi ra ngoài mục đích trên, Luật tông chủ trương rằng cứ nghiêm túc hành trì giới luật, thì tâm sẽ định tĩnh, thanh tịnh; tâm thanh tịnh thì trí tuệ sáng suốt, chân tâm, Phật tánh tự nhiên hiển bày.
Những kẻ học rộng hiểu nhiều mà không giữ giới cũng như ngọn đèn trước gió, dù rất sáng nhưng không biết sẽ tắt khi nào. Trái lại, kẻ ít học mà chân thành trì giới thì như ngọn đèn được thắp trong lồng kính, tuy mờ nhưng cháy bền, càng lâu càng sáng. Với chủ trương đó, Luật tông thích hợp với mọi căn cơ, nhất

* Trang 229 *
device

là những căn cơ chậm lụt. Trong số những đệ tử của đức Phật, có ai có địa vị hạ tiện và căn trí chậm lụt như ngài Ưu-ba-ly? Thế mà Ngài vẫn trở thành một bậc Thánh Tăng, chỉ nhờ chuyên trì giới luật. Chúng ta có địa vị và căn trí hẳn không thua kém Ngài, lẽ nào chúng ta không thu hoạch được thành quả tốt đẹp như Ngài, nếu chúng ta cũng chuyên trì giới luật như Ngài! 
B. TỊNH ĐỘ TÔNG
Tông này thuộc về Đại Thừa, chủ trương dạy người chuyên tâm niệm Phật để được sanh về cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, nên có tên gọi là Tịnh độ tông. Đây là một pháp môn dễ tu dễ chứng, rất thích hợp với đại đa số quần chúng, bất cứ thời gian nào, hoàn cảnh nào, cũng có thể tu hành được cả.
I. Duyên khởi lập tông
Tông này được thành lập dựa trên nhiều kinh điển, nhưng quan trọng nhất là được y cứûtên bốn kinh sau:
1. Kinh Vô Lượng Thọ: Kinh này nêu 48 lời nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng (tiền thân đức Phật A-di-đà), nội dung chính là sau khi thành Phật, Ngài sẽ thiết lập một quốc độ hết sức trang nghiêm để tiếp dẫn tất cả chúng sanh nào có duyên muốn sanh về Tịnh độ và chuyên niệm danh hiệu Ngài.

* Trang 230 *
device

2. Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Kinh này nói về 9 phẩm liên trì và 16 phép quán để cầu vãng sanh Tịnh độ.
3. Kinh Tiểu Bổn A-di-đà: Kinh này lược tả cảnh giới cõi Cực Lạc trang nghiêm để khởi lòng hâm mộ và trì danh niệm Phật đến “nhất tâm bất loạn” để được vãng sanh.
Đây là ba kinh chính, gọi là “Tịnh độ tam kinh”. Ngoài ra, còn có các kinh khác như: Kinh Bửu Tích, Đại Bổn A-di-đà, Thập lục quán, Ban Châu niệm Phật, Bi Hoa, Phương Đẳng, Hoa Nghiêm…
Tịnh Độ Tông được xiển dương mạnh mẽ nhờ công đức của Sơ tổ Huệ Viễn, sau đó là các đại sư danh tiếng như: Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo…
II. Bốn cõi Tịnh độ
1. Thường tịch quang tịnh độ: Đây là cảnh giới mà Pháp thân Phật an trụ, đầy đủ ba đức: không sanh diệt, giải thoát và Bát-nhã (Thường, Tịch, Quang). Cõi này chỉ có chơn tâm, không có hình sắc, vì bản thể chơn tâm thường vắng lặng. Chư Phật trú cảnh giới này thì  “thân” và “độ” không hai. Chỉ vì căn cứ ba loại Tịnh độ sau mà gọi cõi này là Pháp Thân (thân) và Thường Tịch Quang Độ (độ).
2. Thật báo trang nghiêm tịnh độ: Đây là cảnh giới của Phật báo thân, được trang nghiêm bởi công

* Trang 231 *
device

đức tu hành trải qua số kiếp và phước báo vô lậu của hành giả.
3. Phương tiện hữu dư tịnh độ: Cảnh giới này không cứu cánh rốt ráo mà chỉ là phương tiện tịnh độ của hàng Nhị thừa. Hành giả ở cõi này chỉ mới dứt được kiến và tư hoặc trong ba cõi, nhưng chưa dứt được vô minh hoặc và trần sa hoặc, nên gọi là Hữu dư.
4. Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ: Đây là cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà ở Tây phương Cực Lạc, có đầy đủ các đức thanh tịnh, trang nghiêm. Nhưng ở đây Phật, Bồ-tát và chư Thượng thiện nhơn sống chung với chúng mới vãng sanh, nên gọi là phàm thánh đồng cư.
Phần đông tín đồ Phật giáo Việt Nam và Trung Hoa tu theo Tịnh độ tông đều có xu hướng cầu sanh về cõi Tịnh độ này. Vì theo kinh Tiểu bổn A-di-đà mô tả, ở cõi này, cả về màu sắc và âm thanh đều quý báu và vi diệu, do đức Phật A-di-đà làm giáo chủ. Ngài thường hay nói pháp, cùng chư Thánh chúng hộ niệm vãng sanh.
III. Tam tư lương Tịnh độ
Muốn cầu sanh về Tịnh độ, hành giả phải chuẩn bị 3 yếu tố quan trọng, đó là Tín, Nguyện và Hạnh. Nếu thiếu một, thì kết quả tu hành e khó thành đạt.

* Trang 232 *
device

1. Tín: Là hành giả cần có lòng tin thật vững chắc, vì lòng tin là mẹ sinh ra muôn công đức, nhờ lòng tin mà quả Bồ-đề dễ dàng thành tựu. Tín có 3:
a. Tin Phật: Tin rằng chư Phật có đầy đủ trí tuệ, với lòng từ bi bao la muốn cứu độ hết thảy chúng sanh thoát khỏi sanh tử, luân hồi. Tin đức Phật Thích-ca thuyết như thật pháp về cõi Tịnh độ, về đức Phật A-di-đà.
b. Tin pháp: Tin pháp môn niệm Phật dễ tu dễ chứng, có công năng thật sự; tin 48 lời nguyện của đức Phật A-di-đà có đầy đủ hiệu lực nhiệm mầu.
c. Tin mình: Tin mình có đầy đủ khả năng, nghị lực, nếu mình thực hành y theo lời Phật dạy, nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, thì sẽ được vãng sanh.
2. Hạnh: Hạnh là thực hành. Nếu có tin, có nguyện mà không hạ thủ công phu thì chỉ là lòng tin suông và những ước nguyện hão huyền. Cho nên, Tín - Nguyện – Hạnh chính là ba yếu tố căn bản của tông Tịng độ. Nói cách khác, phải đầy đủ Tín-Hạnh-Nguyện thì hành giả mới đủ điều kiện vãng sanh Tịnh Độ.
3. Nguyện: Nguyện là chí nguyện, ước ao, mong muốn thực hiện những điều chân chánh. Nguyện là động cơ thúc đẩy cho người tu hành mau chóng đạt mục đích. Do đó, hành giả cần phải lập nguyện cho vững

* Trang 233 *
device

bền, ngày đêm luôn kiên tâm trì chí niệm Phật và thường phát nguyện theo 48 lời nguyện của đức Phật A-di-đà.
IV. Phương pháp tu về Tịnh độ
Vẫn biết rằng, niệm Phật là một pháp môn giản dị, dễ tu, nhưng niệm Phật cũng có nhiều cách, nhiều loại. Sau đây là một số phương pháp căn bản:
1. Trì danh niệm Phật: Hành giả chuyên tâm trì danh hiệu Phật trong mọi lúc đi, đứng, nằm, ngồi sao cho tâm chuyên chú, không xen hở. Ngoài ra, cần phải thực hành thêm “kinh hành niệm Phật” hay “tọa thiền niệm Phật” để việc niệm Phật có hiệu quả hơn. Khi niệm xong, hành giả đều hồi hướng cầu sanh về Tịnh đsộ.
2. Tham cứu niệm Phật: Tựa như tham cứu “thoại đầu” của Thiền tông, hành giả phải nghiên cứu, quán xét câu niệm “Nam mô A-di-đà Phật”, từ đâu đến? đi về đâu? ai niệm? Chuyên tâm như thế, sóng vọng tưởng dần chìm lặng, nước định tâm hiện bày, hành giả được “nhất tâm bất loạn”, lâm chung được sanh về cảnh giới của Phật.
3. Quán tượng niệm Phật: hành giả ngồi trước tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng, quán sát 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của đức Phật mà liên tưởng đến các đức tánh của Phật. Các đức tánh từ bi, hỷ xả, bình đẳng, lợi tha của Phật dần dần được huân tập, thấm nhuần, tâm

* Trang 234 *
device

hành giả dần trở nên thanh tịnh và được vãng sanh về cõi Phật.
4. Quán tưởng niệm Phật: Dù không có tượng Phật, nhưng hành giả vận dụng tư duy quán tưởng hình ảnh đức Phật A-di-đà và thể nhập mình vào ý niệm quán chiếu ấy. Hành giả chuyên chú quán tưởng như vậy, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng không dừng nghỉ, cho đến khi nào, nhắm hay mở mắt đều thấy Phật. Thuần thục như vậy, hành giả khi lâm chung chắc chắn vãng sanh Tịnh Độ.
5. Thật tướng niệm Phật: Niệm Phật đã đạt đến bản thể chơn tâm. Chơn tâm không sanh diệt, không khứ lai, bình đẳng như như nên gọi là “thật tướng”. Bốn pháp niệm trên thuộc về Sự (hình thức), còn pháp “thật tướng niệm Phật” này thuộc về Lý (nội dung). Lúc này hành giả không còn có ý niệm mình đang tu pháp môn niệm Phật, (tức không còn năng sở). Niệm Phật đạt đến như thế mới hoàn toàn rốt ráo.
Tuy nhiên, hành giả cần lưu ý rằng, nhờ có sự, thì lý mới hiểu. Khi thuần thục bốn pháp môn trên, đạt đến “nhất tâm bất loạn”, thì mặc nhiên thành tựu “thật tướng niệm Phật”. Xưa nay, “trì danh” luôn là pháp môn niệm Phật dễ hạ thủ công phu nhất, chỗ nào, lúc nào cũng dễ dàng ứng dụng, thật là pháp môn rất thù thắng.

* Trang 235 *
device

V. Lợi ích của pháp môn niệm Phật
1. Về Sự
Niệm Phật sẽ tiêu trừ được các phiền não. Tâm ta như dòng nước luôn luôn tuôn chảy, nếu cứ bị chi phối bởi các phiền não khổ đau thì dòng nước tâm trở thành đục bẩn; ngược lại, chúng ta pha vào những chất thơm tho, thì nước sẽ trở thành thơm mát. Những chất thơm tho kia chính là hình ảnh chư Phật, câu niệm Phật. Những chất liệu này ngự trị trong tâm càng nhiều thì sự đau khổ, não phiền càng giảm. Nên cổ nhân có câu: “Một câu niệm Phật giải oan khiên”.
Niệm Phật sẽ trừ được niệm chúng sanh. Niệm chúng sanh là nhớ những ý nghĩ tham, sân, si; niệm những lời độc ác, bất chánh; niệm những hành động xấu xa. Nếu chúng ta chuyên niệm Phật thì không còn thời gian và không gian cho những ác nghiệp của thân khẩu ý có cơ hội phát sanh. Niệm Phật tròn đầy, thì niệm chúng sanh dứt sạch.
Niệm Phật sẽ làm cho thân thể được nhẹ nhàng an ổn. Bệnh tật của chúng ta phát sanh, một phần do thể xác, một phần do tinh thần. Nhiều phiền não, uất hận trong tâm trí lâu ngày dồn nén thành bệnh. Nay nhờ niệm Phật cùng với theo dõi hơi thở đều đặn, những não phiền, lo âu dần dần được trút bỏ là điều kiện để bệnh tật tiêu trừ.

* Trang 236 *
device

Niệm Phật sẽ làm cho tâm trí sáng suốt. Nhiều người tâm trí rối loạn như ngọn đèn trước gió lung lay, nhờ chuyên tâm niệm Phật, tâm trí sẽ định tĩnh như ngọn đèn được chắn gió, phát chiếu ánh sáng trí tuệ một cách yên bình.
Niệm Phật, khi lâm chung được sanh về Tịnh độ. Niệm Phật không những được lợi ích ngay trong hiện tại, mà khi lâm chung nhờ tinh thần tỉnh giác, chúng ta sẽ xả báo an tường, được sanh về Tịnh độ, được thấy Phật, nghe pháp… và có nhiều thiện duyên để tu hành đến quả vị Phật.
2. Về Lý
Khi chúng ta niệm Phật đạt đến “nhất tâm bất loạn”, thì vọng tưởng toàn diệt, chơn tâm hiển lộ. Tâm đồng tâm chư Phật, không hư hoại sanh diệt là Thường, luôn thanh tịnh vắng lặng là Tịch, sáng suốt vô cùng là Quang. Lúc ấy, hình ảnh đức Phật A-di-đà và cõi Thường tịch quang tịnh độ ngay tại tâm ta chứ không đâu xa. Vì thế kinh chép: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” là vậy.
VI. Kết luận
Pháp môn niệm Phật mầu nhiệm như thế và lợi ích đạt được vô cùng như thế, cho nên ngay cả chư Đại Bồ-tát như ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Quan Âm,

* Trang 237 *
device

Thế Chí… và các vị Tổ Sư từ Ấn đến Hoa đều quy ngưỡng và hành trì pháp môn Tịnh độ để tự độ, độ tha.
Thời gian thấm thoát như thoi đưa, vô thường rình rập trong từng sát na, khi đã nhận thấy đây là một pháp môn có giá trị thiết thực và chắc chắn, thì hãy chuẩn bị ngay ba món tư lương Tín, Nguyện, Hạnh để thực hành các phương pháp niệm Phật với một thái độ tha thiết chân thành, với một quyết tâm không thối chuyển. Được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ được làm bạn lữ cùng nhau nơi Tây phương Cực Lạc. Hoa sen chín phẩm hóa sanh, được nghe diệu pháp Bảo Thành vân du.
C. THIỀN TÔNG
I. Dẫn khởi
Thiền tông thuộc cả Đại Thừa và Tiểu Thừa, là một tông phái lấy pháp môn tham thiền nhập định làm căn bản tu hành. Thiền, nói đủ là Thiền na, một từ được phiên âm từ tiếng Phạn, dịch là Tịnh lự, tức để tâm lắng đọng, không cho khởi các vọng tưởng. Lại được dịch là Định lự, chữ Định nguyên tiếng Phạn là Samadhi (Tam muội), tức là tập trung tư tưởng một cách duy nhất không cho tán loạn. Hợp chung hai chữ, ta hiểu Thiền Định là tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, để cho tâm vắng lặng, hầu dễ dàng quán sát và suy nghiệm chân lý.

* Trang 238 *
device

Phương pháp Thiền định có hai cách: Chỉ và Quán. Chỉ là đình chỉ vọng tưởng, không cho dấy động, tức là Định. Quán tức là quán sát cho sáng tỏ một vấn đề, tức là Tuệ.
Chủ trương của Thiền Tông là giúp hành giả vén bức màn vô minh lâu đời, lâu kiếp của thất tình, lục dục, bát phong, lục trần… mà quay về tự tâm, thể nhập tánh trí vốn sáng suốt, thanh tịnh. Muốn minh tâm kiến tánh, hành giả phải tu thiền định. Tâm có định mới phát sinh trí tuệ, trí tuệ phát sinh thì vô minh hắc ám được phá trừ và kiến tánh thành Phật. Mới nghe qua chủ trương của thiền tông thì tưởng như dễ dàng, nhưng trái lại, pháp tu thiền định rất khó, cần phải có thiện tri thức dắt dẫn, phải công phu kiên nhẫn trải qua một thời gian dài mới thu được kết quả.
II. Các loại thiền định
1. Ngoại đạo Thiền: Là những loại Thiền của ngoại đạo như đạo Tiên, Bà la môn, lối thôi miên và những tà định với mục đích bất chánh. Sở dĩ gọi là tà định vì mục đích của những thiền định này chỉ nhằm đến kết quả sống lâu, khỏe mạnh, được thần thông biến hóa, phép lạ huyền bí hay mong thành thần tiên để tiêu diêu lạc thú; chứ không phải mục đích trau dồi tâm tánh, dẹp trừ phiền não hữu lậu hay cầu giải thoát Niết-bàn. Nói chung, theo tổ Tôn Mật thì “những người tà

* Trang 239 *
device

kiến chấp trước sai lầm, ưa cõi trên, chán cõi dưới mà tu thiền, đó là ngoại đạo thiền”
2. Phàm phu Thiền: Những người tu theo loại thiền này không có tâm niệm cao thượng, chỉ vì chán ngán cõi Dục là ô trược mà cầu sanh về cõi Sắc và Vô sắc để hưởng thú vui thanh thoát. Như các pháp thiền đạt đến Tứ Thiền, Tứ Không… đều còn lẫn quẫn trong vòng sanh tử của ba cõi, chưa đạt đến hạnh phúc rốt ráo.
Tứ Thiền gồm: Sơ thiền - Ly sanh hỷ lạc địa, Nhị thiền-Định sanh hỷ lạc địa, Tam thiền-Ly hỷ diệu lạc địa, Tứ thiền-Xả niệm thanh tịnh địa.
Tứ Không định gồm: Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
3. Tiểu Thừa Thiền: Là những pháp thiền tuy thuộc về xuất thế gian nhưng chỉ dành cho những người có căn tánh nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác). Pháp thiền này mang tính chất “tuần tự nhi tiến” chứ không đốn ngộ. Hơn nữa, người tu theo Tiểu Thừa thiền, chỉ phá ngã chấp nhưng còn pháp chấp. Họ chưa ngộ rằng các phương pháp tu hành đều là phương tiện giúp hành giả dẹp trừ vô minh phiền não, tiến lên giác ngộ chứ không phải là điểm cứu cánh của thật tu thật chứng. Nhị thừa thiền có rất nhiều phương pháp tu, như: Ngũ đình tâm quán, Cửu tưởng

* Trang 240 *
device

quán, Tứ vô lượng tâm, Tam minh lục thông, Thập nhất thế xứ quán, Bát niệm xứ, Thập quán tưởng, Cửu thứ đệ định và Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
4. Đại Thừa Thiền: Là pháp môn tu tập của hàng Đại thừa. Pháp thiền này chỉ dành cho những bậc thượng căn thượng trí tu tập, như các vị Bồ-tát đã nhiều kiếp tu hành, trừ sạch phiền não, chỉ còn vi tế vô minh. Căn bản của thiền này là trí tuệ, vì theo Đại thừa, chỉ có trí tuệ mới quyết định kết quả của việc tu tập. Các pháp môn tu tập của Đại Thừa thiền cũng rất nhiều: Pháp Hoa Tam-muội, Niệm Phật Tam-muội, Ban châu Tam-muội, Giác Ý Tam-muội, Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội, Trực chỉ thiền, Như Lai thanh tịnh thiền, Tổ sư thiền…
III. Hệ thống truyền thừa của Thiền Tông
1. Tại Ấn Độ: Ở hội Linh Sơn “niêm hoa vi tiếu”, Ngài Ma-ha-Ca-diếp được Thế Tôn ấn chứng cho làm sơ Tổ Thiền tông. Sau đó, Ngài truyền xuống tôn giả A-nan làm nhị Tổ, và cứ thế truyền cho đến ngài Bồ-đề-đạt-ma là Tổ thứ 28.
2. Tại Trung Hoa: Tổ Bồ-đề-đạt-ma đến Trung Hoa vào thời Lương Võ Đế, cửu niên diện bích, xiển dương Tổ sư thiền, và truyền xuống Tổ Huệ Khả làm nhị Tổ tại Trung Hoa, kế tục cho đến ngài Huệ Năng là Tổ thứ 6. Từ đây không còn lệ truyền y bát, nhưng sau đó hình thành

* Trang 241 *
device

nên 2 phái Nam Nhạc, Thanh Nguyên và 5 dòng Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn.
3. Tại Việt Nam: Sơ Tổ Thiền tông là ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Có 6 phái Thiền chính đã lưu hành:
a. Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi: Thiền phái này do Sơ Tổ Lưu-chi, người Ấn Độ, đệ tử của Tam Tổ Thiền Tông Trung Hoa (ngài Tăng Xáng), sau khi đắc pháp với Thầy, đến Việt Nam trụ trì chùa Pháp Vân, truyền bá Phật Pháp và xiển dương Thiền Tông. Sau khi Tổ thị tịch, Ngài Pháp Hiền được truyền tâm ấn và làm nhị Tổ. Về sau, phái này cũng có nhiều Thiền sư xuất sắc, như Pháp Thuận, Vạn Hạnh …
b. Thiền phái Vô Ngôn Thông: Ngài Vô Ngôn Thông họ Tịnh, quê ở Quảng Châu - Trung Quốc, đệ tử của Bách Trượng Thiền sư. Sau khi đắc pháp, Ngài đã đến chùa Kiến Sơ (Phù Đổng - Bắc Ninh) năm 820, trọn ngày diện bích tham thiền. Trước khi thị tịch, Ngài đã truyền cho Ngài Cảm Thành làm nhị Tổ. Sau đó là tam Tổ Thiện Hội, và cứ truyền xuống như thế được 15 đời, cuối cùng là Cư Sĩ Ứng Thuận.
c. Thiền phái Thảo Đường: Ngài Thảo Đường là người gốc Trung Hoa, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu, đến Việt Nam vào thời Lý Thánh Tông, lúc vua chinh phạt Chiêm Thành bắt giữ nhiều tù binh đem về Đại Việt (trong đó có Ngài). Ngài được vua Lý Thánh Tông thỉnh trụ trì chùa Khai Quốc - Thăng Long, truyền bá Thiền Tông được 5 đời, đắc đạo cả thảy 19 vị.

* Trang 242 *
device

d. Thiền phái Trúc Lâm: Đệ nhất Tổ của thiền phái này là vua Trần Nhân Tông. Sau khi truyền ngôi cho Trần Anh Tông, vua xuất gia tu hành với pháp hiệu “Hương Vân Đại Đầu Đà”, đã sáng lập phái Thiền mang trọn bản sắc Việt Nam. Phái này có các Thiền sư nổi tiếng như: Pháp Loa, Huyền Quang.
e. Thiền phái Lâm Tế: Thiền phái này có gốc ở Trung Hoa, do Tổ Lâm tế khai sáng. Đến khoảng hậu bán thế kỷ XVII, Tổ Nguyên Thiều, người họ Tạ, quê ở Quảng Châu (Trung Hoa), thuộc đời thứ 33 dòng Lâm Tế chánh thống, đã cùng với nhiều vị thiền sư khác đem thiền phái Lâm Tế truyền vào Việt Nam và khai sơn chùa Quốc Ân – Huế. Có thể xem ngài Nguyên Thiều là Sơ tổ Thiền phái Lâm Tế ở Việt Nam.
f. Thiền phái Liễu Quán: xuất phát từ Tổ Liễu Quán, người Sông Cầu - Phú Yên, đệ tử đắc pháp của Ngài Minh Hoằng - Tử Dung (khai sơn chùa Từ Đàm - Huế). Xét về nguồn gốc, phái này cũng chỉ là một nhánh nhỏ của phái Lâm Tế - Trung Hoa.
IV. Kết luận
Sự tu chứng và ngộ nhập của Thiền cơ rất nhiệm mầu, những người không hạ thủ công phu khó mà suy nghĩ, luận bàn được. Để hành giả tìm đạo có kết quả, các nhà truyền pháp cần hội đủ ba điều kiện: hợp cơ, hợp thời và hợp pháp.
Tại Việt Nam, xưa kia nước ta chịu ảnh hưởng lớn của Thiền Tông, nhưng qua bao cuộc biến thiên của lịch sử, ngày nay, Thiền Tông không còn thịnh hành và gây ảnh hưởng lớn

* Trang 243 *
device

như trước nữa. Hy vọng từ nay, nhờ sự trao đổi văn hóa và giao thông tiện lợi giữa các nước, nhờ sự gia tâm tu học của toàn thể Phật tử các giới, Thiền Tông sẽ lấy lại sắc thái sung mậu ở Việt Nam như các thời Lý, Trần...

 
***

* Trang 244 *
device

 
Phật học khái lược 2