LOGO VNBET


MƯỜI TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO Ở TRUNG HOA
(DUY THỨC TÔNG, MẬT TÔNG, PHÁP HOA TÔNG)
 
A. DUY THỨC TÔNG
I. Duyên khởi thành lập và chủ trương của Duy Thức Tông
Tông này còn gọi là Pháp Tướng tông, thuộc Đại Thừa Duy Thức Tông, phân tích vũ trụ, vạn hữu đều do thức biến hiện; nhằm phá trừ hai món chấp thật ngã và thật pháp. Không nói về tâm tánh chơn như mà đặt nặng nghiên cứu tướng trạng các pháp, và nguyên nhân sanh khởi vạn pháp là “thức”, nên Tông này được gọi là “Pháp Tướng tông” hay “Duy Thức tông”.
Như các Tông phái khác, Duy Thức tông cũng dựa vào Kinh Luận của Phật mà thành lập, chủ yếu là 6 bộ kinh (Giải thâm mật, Hoa nghiêm, Như Lai xuất hiện công đức trang nghiêm, A-tỳ-đạt-ma, Lăng nghiêm, Hậu nghiêm hay Mật nghiêm) và 11 bộ luận (Du-già-sư-địa, Hiển dương thánh giáo, Đại thừa trang nghiêm, Tập lượng, Nhiếp Đại thừa, thập địa, Quán sở duyên duyên, A-tỳ-đạt-ma tạp tập, Nhị thập duy thức, Biện trung biên, Du-già phân biệt). Vị sáng lập ra Duy Thức tông là Di-

* Trang 245 *
device

lặc Bồ-tát, vị có công xiển dương lớn nhất ở Ấn Độ là ngài Thế Thân, và ở Trung Hoa là ngài Huyền Trang. Ba bộ luận chính mà tông Duy thức thường dùng để giảng dạy là: Bách pháp minh môn, Duy thức tam thập tụng Bát thức quy củ tụng.
Chủ trương của Duy Thức tông là phá trừ vọng chấp ngã, pháp (biến kế sở chấp), bằng cách chỉ ra tất cả pháp đều nương thức mà biến hiện chứ không thật có (y tha khởi), với mục đích là đưa hành giả về với tánh chân thật (Viên thành thật). Đó là quá trình quy chư pháp về Duy thức tướng, rồi từ Duy thức tướng quy về Duy thức tánh.
II. Thành phần hiện tượng giới
Hiện tượng giới phân loại theo Duy thức tông, gồm Tâm và Pháp, với 5 loại lớn:
1. Tâm vương: là tướng của thức, mang tính quyết định như các ông vua, có tất cả 8 món:
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức: cái biết của 5 giác quan, gọi là tiền ngũ thức.
Ý thức: cái biết lanh lợi, chỉ đạo 5 thức trước, có khi hoạt động chỉ một mình.
Mạt-na thức: sự chấp ngã tiềm ẩn, làm căn bản cho ý thức.
 

* Trang 246 *
device

A-Lại-da thức: kho tàng chứa tất cả hạt giống thiện, ác của tâm thức.
2. Tâm sở: là các tâm lý phụ thuộc, hoạt động dưới sự điều khiển của tâm vương, gồm có:
Biến hành 5: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư.
Biệt cảnh 5: dục, thắng giải, niệm, định, huệ.
Thiện 11: tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.
Căn bản phiền não 6: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Tùy phiền não 20: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Bất định 4: hối, miên, tầm, từ.
3. Sắc pháp: là những pháp có thể hư hoại và bị chướng ngại, gồm 5 căn và 6 trần.
4. Bất tương ưng hành: gồm 24 pháp không thuộc sắc, tâm nhưng tồn tại theo sắc, tâm.
5. Vô vi pháp: thuộc về tánh của thức, đó là 6 pháp vô ngại, không sanh diệt, bất khả tư nghị: hư

* Trang 247 *
device

không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động diệt, tưởng thọ diệt và Chơn như vô vi.
III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
Khi thực hành 5 pháp, gọi là “Ngũ trùng Duy thức quán” (khiển hư tồn thật, xả lạm lưu thuần, nhiếp mạt quy bản, ẩn liệt hiển thắng, khiển tướng chứng tánh), và trải qua 5 địa vị (tư lương, gia hạnh, thông đạt, tu tập, cứu cánh), hành giả sẽ chứng được 4 trí (thành sở tác trí, diệu quan sát trí, bình đẳng tánh trí, đại viên cảnh trí) hoặc 2 trí (căn bản trí, hậu đắc trí); và thu thập được các lợi ích: biết rõ tự thân, thấy rõ tự tâm, trau dồi đức kiên nhẫn, thái độ rất bình tĩnh và lòng tin được giữ vững.
IV. Kết luận
Sau khi nắm rõ nội dung hiện tượng giới, tâm lý con người cũng như phương pháp tu quán, chúng ta cần hạ thủ công phu để tìm ra đâu là cội nguồn tâm thức. Đối với các tâm sở ác khiến chúng sanh trầm luân sinh tử, cần quyết tâm diệt trừ (tu tâm); với các tâm sở thiện cần tu dưỡng và phát huy mạnh mẽ (dưỡng tánh). Một khi tâm niệm xấu hoàn toàn được tiêu diệt, tâm niệm tốt được trau dồi trọn vẹn, chúng ta sẽ chóng thành Phật quả.

* Trang 248 *
device

B. MẬT TÔNG
I. Duyên khởi lập tông
Tông này còn gọi là Chơn Ngôn tông, thuộc về Đại Thừa, thờ đức Đại Nhật Như Lai (tức Pháp thân Phật – Tỳ-lô-giá-na) làm giáo chủ. Phật có 3 thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng hóa thân. Phật Báo thân và Ứng thân thì có hình tướng, có thuyết pháp gọi là Hiển giáo, còn Phật Pháp thân thì có pháp môn mầu nhiệm, bí mật gọi là Mật giáo. Ngài Kim Cang Bồ-tát được đức Đại Nhật Như Lai làm lễ quán đảnh, đã chép lại kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh, làm Sơ tổ tông này, và truyền thừa xuống nhiều đời, phân thành nhiều phái: Mật tông Trung Hoa, Đông Mật (Nhật Bản) và Tạng Mật (Lạt Ma giáo - Tây Tạng).
II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
1. Lục đại (thuộc về lý tánh): Mật tôn chủ trương lục đại là chơn thật thể của vũ trụ, là bản nguyên sinh ra các tính năng sinh, năng lưu. Đó là: địa, thủy, hỏa, phong, không và thức, sáu đại này làm duyên cho nhau sinh ra các pháp. Lục đại bao hàm 3 phương diện: thể đại, tướng đại, dụng đại. Sáu đại hay ba đại này dung nhiếp lẫn nhau tạo nên lý dung thông vô ngại, châu biến khắp pháp giới của vũ trụ vạn hữu.

* Trang 249 *
device

2. Bốn Mạn-trà-la (sự tướng): Còn gọi là Mạn tướng đại, tức 4 pháp rộng lớn đầy đủ của bản thể, do 6 đại biến hiện ra:
a. Đại Mạn-trà-la: rộng là chỉ sắc tướng của muôn pháp trong vũ trụ, hẹp là chỉ sắc tướng trang nghiêm của Phật, Bồ-tát.
b. Tam-muội-gia Mạn-trà-la: nghĩa rộng là đặc tánh riêng biệt của mỗi pháp, nghĩa hẹp là các pháp khí tiêu biểu cho đặc tánh thù thắng riêng của mỗi đức Phật, Bồ-tát.
c. Pháp Mạn-trà-la: là các chủng tử (như chữ cái (-A, -Hùm…), chơn ngôn (mật chú, danh hiệu, cùng tất cả văn nghĩa trong kinh điển… ) của Phật, Bồ-tát.
d. Yết-ma Mạn-trà-la: hết thảy oai nghi, động tác của chư Phật, Bồ-tát để độ sinh.
III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
Sự tu hành của Mật tông có 2 phương diện:
1. Sự Tướng (Sự): Tất cả những thực hành theo đúng khuôn phép như: tụng chú, kết ấn…
2. Giáo Tướng (Lý): Tất cả những nghĩa lý sâu xa, mầu nhiệm mà chư Phật, Bồ-tát đã rút ra trong sự tướng để chỉ dạy chúng ta.
Hành giả cần hành trì song hành hai phương diện trên. Ngoài ra, cần biết pháp tu trọng yếu của Mật

* Trang 250 *
device

tông là Tam mật - phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân, khẩu, ý; như: tay bắt ấn là “thân mật”, miệng niệm chơn ngôn là “khẩu mật”, và tâm chuyên sâu vào Tam-ma-địa (thiền định) là “ý mật”. Sự tu hành này còn chia ra làm 2 giai đoạn: Tam mật Gia trì (còn sự gia tâm của hành giả và cảm ứng của chư Phật) và Tam mật Du-già (tâm hành giả và ánh sáng Như Lai đã thể nhập làm một).
Hành giả khi thành tựu Tam mật hữu tướng, thông suốt bốn Mạn-trà-la thì luôn rập khuôn theo đúng oai nghi chư Phật, độ sanh một cách tự nhiên, làm tất cả lợi ích mà như không làm, đó là vô tướng tam muội. Lúc này, mọi hành động đều là ấn, mọi lời nói đều là chơn ngôn, hết thảy ý đều là diệu quán. Hành giả đã “tức thân thành Phật” ngay hiện đời.
IV. Kết luận
Mỗi thần chú đều có công năng diệu dụng khác nhau, như: chú Vãng sanh cầu về Tịnh Độ, chú Lăng nghiêm tiêu trừ nghiệp chướng, chú Phổ Am chuyên trừ phục thi cốt khí, chú Đại bi hay Thập Chú để cầu được phước huệ tăng long, tùy tâm mãn nguyện… Và kết quả cùng tột của Mật tông cũng như các tông khác, là thanh tịnh 3 nghiệp. Thân thanh tịnh (ngồi yên, bắt ấn) thì không làm điều ác, miệng thanh tịnh (niệm chú) thì không nói những điều tội lỗi, ý thanh tịnh (quán tưởng chú) thì không nghĩ mông lung.

* Trang 251 *
device

C. PHÁP HOA TÔNG
I. Duyên khởi lập tông
Tông này còn gọi là Thiên Thai tông, khởi xướng từ ngài Huệ Văn, dựa vào Trí độ luận lập ra pháp “nhất tâm tam quán”. Đến ngài Trí Giả, Ngài đã y theo kinh Pháp Hoa, mà hoàn bị pháp quán này và thành lập tông phái tại núi Thiên Thai. Đệ tử của Ngài là Chương An đã dựa theo lời thầy, trước tác nhiều bộ luận làm cơ sở cho Thiên Thai tông, và tiếp tục xiển dương đến các đời sau, qua nhiều vị nổi tiếng như: Trí Oai, Huệ Oai… đặc biệt là ngài Trạm Nhiên. Kinh sách của Thiên Thai tông rất nhiều, nhưng quan trọng nhất là 3 bộ: Pháp Hoa huyền nghĩa, Pháp Hoa văn cú và Ma-ha chỉ quán.
II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
Tông này chủ trương “Chư pháp duy nhất tâm”, ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm. Tâm này được nhận chân ở hai phương diện: Chân đế (xét theo tuyệt đối thì tất cả pháp đều “không”) và Tục đế (về mặt tương đối thì “có”). Không và có là hai phương diện của Tâm, nó tồn tại tương tức lẫn nhau, nếu rời bỏ một là thiên chấp, nên cần phải dung nhiếp cả hai mới là một giáo lý toàn bị. Đó là ý nghĩa “trung đạo”.

* Trang 252 *
device

Như vậy, tâm có đầy đủ các tánh: thiện - ác, tịnh - bất tịnh, Phật - chúng sanh. Trong sanh diệt, vô thường có thường, trong cõi Ta-bà có cảnh giới Phật. Do đó, trong một cảnh giới đều có mặt tất cả pháp giới (tứ thánh, lục phàm). Vì thế tông này chủ trương, không cần từ bỏ cảnh giới này, hay cầu về cảnh giới khác mà vẫn có thể tu hành thành Phật đạo.
III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
1. Ba loại phiền não: Chúng sanh vốn có Phật tánh sáng suốt, nhưng do che lấp bởi quá nhiều vô minh phiền não mà chúng sanh không thể thấy được. Do đó, hành giả muốn gieo nhân Phật, Bồ-tát, tiến đến giải thoát, thì trước hết cần dứt trừ 3 hoặc: kiến-tư hoặc (hai thứ mê lầm về lý và sự làm chúng sanh luân hồi, sanh tử trong tam giới), trần sa hoặc (phiền não rộng lớn, ra ngoài tam giới), và vô minh hoặc (sự mê lầm che lấp chân lý thật tướng của Trung đạo). 
2. Ba pháp quán: (do ngài Tuệ Văn rút ra trong bộ Trung Luận của ngài Long Thọ)
Không quán: quán sát sự vật trên phương diện chân đế để loại trừ kiến - tư hoặc.
Giả quán: quán sát sự vật theo tục đế để thấy tính chất giả huyễn của phiền não, dứt trừ trần sa hoặc, tự tại độ sanh.
 

* Trang 253 *
device

Trung quán: quán sát các pháp trên phương diện Trung đạo đệ nhất nghĩa đế để thấy bản chất vạn pháp không tục, không chân, trừ vô minh hoặc một cách rốt ráo.
Ba pháp quán này, có thể thực hành bằng nhiều cách: quán theo thứ lớp (theo thứ tự Không, Giả, Trung), hoặc quán thông tướng (quán Không cả ba đều Không, quán Giả cả ba đều Giả…) hoặc quán viên dung (một tâm mà viên dung cả ba pháp - gọi là “Nhất tâm tam quán”). “Nhất tâm tam quán” là pháp quán vi diệu nhất, khiến hành giả cùng một lúc trực nhận mọi khía cạnh của tâm (cũng là của vạn pháp).
Khi đã nhận rõ Chân như, tâm và vật quan hệ mật thiết nhau, không một không khác, hành giả dần rõ lý trung đạo, khởi công tu luyện và đạt đến một trong sáu địa vị “tức Phật”:
3. Lục tức Phật: 1. Lý tức Phật (biết rõ lý chúng sanh và Phật tánh đồng), 2. Danh tự tức Phật (lãnh hội được lý tánh vũ trụ qua kinh điển), 3. Quán hạnh tức Phật (thực hành đúng lời Phật dạy), 4. Tương tợ tức Phật (tu hành tâm được yên tĩnh, về lý như đã chứng), 5. Phần chứng tức Phật (phá từng phần vô minh, chứng từng phần trung đạo), và 6. Cứu cánh tức Phật (chứng được chỗ mầu nhiệm cực điểm, chủng trí viên mãn).

* Trang 254 *
device

4. Ba trí: do tu 3 pháp quán thuần thục, hành giả đồng thời thành tựu 3 trí:
Nhất thiết trí: trí do tu không quán, thấy tất cả pháp không có ngã, ngã sở.
Đạo chủng trí: trí do tu giả quán, thấy tất cả pháp do nhân duyên sinh khởi mà có.
Nhất thiết chủng trí: trí do tu trung quán, thông suốt thật tướng trung đạo của các pháp.
5. Ba đức: bên cạnh đó, hành giả còn đạt 3 đức của Niết-bàn (đầy đủ thường, lạc, ngã, tịnh):
Pháp thân: chân tướng vũ trụ mà chư Phật nương theo đó tu hành thành Phật.
Bát-nhã: cái trí sáng suốt của chư Phật, rõ biết các pháp không sanh diệt, bình đẳng.
Giải thoát: không bị ràng buộc, tự tại, vô ngại với tất cả phiền não, nghiệp chướng.
IV. Kết luận
Điểm đặc sắc của tông này là pháp “nhất tâm tam quán”. Nhờ ba pháp quán này, hành giả nhận chân được một cách rõ ràng ba khía cạnh của vũ trụ vạn hữu: Vật, Tâm và Chân Như. Ba thứ này được

* Trang 255 *
device

ví như sóng, nước và tánh ướt, tuy ba mà dung nhiếp quy về một, xét một vẫn có thể thấy cả ba. Đó là ý nghĩa sâu sắc của Thiên Thai tông, mà cũng là lý nghĩa chung của Viên giáo.
Khi chúng ta nghiền ngẫm thấu đáo, thấy rõ lý “tam tức nhất, nhất tức tam”, tức là chúng ta dần dần thâm nhập vào pháp “Nhất tâm tam quán” rồi vậy.


 
***
 

* Trang 256 *
device

 
Phật học khái lược 2