LOGO VNBET


MƯỜI TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO Ở TRUNG HOA
(HOA NGHIÊM TÔNG, TAM LUẬN TÔNG,
CÂU XÁ TÔNG, THÀNH THẬT TÔNG)
 
A. HOA NGHIÊM TÔNG (HIỀN THỦ TÔNG)
I. Duyên khởi thành lập
Tông này thuộc về Đại Thừa, được sáng lập bởi Hòa thượng Đỗ Thuận đời Đường. Ngài đã dựa trên giáo nghĩa mầu nhiệm của kinh Hoa nghiêm để lập ra bộ “Pháp giới quán”, nên Tông này được gọi là Hoa nghiêm tông. Tiếp đó, ngài Trí Nghiễm với “Sưu huyền ký”, “Thập huyền môn”, “Ngũ thập yếu vấn đáp”; ngài Pháp Tạng (Hiền Thủ) với “Thám huyền ký” và nhiều chương số khác, đã làm cho Hoa nghiêm Tông ngày càng thiïnh hành và phát triển. Về sau còn có ngài Trừng Quán, với “Hoa nghiêm sớ sao” đã nâng cao tầm ảnh hưởng của Tông này, nhất là trong giới trí thức Trung Hoa bấy giờ.
II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
1. Pháp giới duyên khởi: Tông này thuộc về Viên giáo, chủ trương các pháp trùng trùng duyên khởi thể

* Trang 257 *
device

hiện qua 4 giai đoạn quy nạp của pháp môn “Sự sự vô ngại pháp giới”.
Sự pháp giới: hình tướng sai biệt của các pháp trong vũ trụ.
Lý pháp giới: phần vô hình bên trong của sự vật.
Lý sự vô ngại pháp giới: lý, sự của mỗi pháp và pháp giới đều nương nhau vô ngại.
Sự sự vô ngại pháp giới: lý và sự không hai, các pháp trong vũ trụ dung thông nhau.
Sở dĩ sự sự được vô ngại, dung thông, là do các pháp có đủ 6 tướng và 10 huyền môn.
2. Sáu tướng viên dung: hết thảy các pháp đều có đủ và viên dung tự tại, tức nhập vô ngại.
Tổng tướng: cái tướng bao trùm tất cả.
Biệt tướng: các tướng riêng biệt.
Đồng tướng: các tướng chung cùng, dung hòa với nhau.
Dị tướng: hình tướng không giống nhau nhưng chung cùng nhiệm vụ
Thành tướng: sự chung cùng để thành tựu một cái gì đó.
Hoại tướng: cái tướng độc lập của các pháp.
 

* Trang 258 *
device

3. Mười huyền môn
Đồng thời cụ túc tương ưng: đồng thời đầy đủ các pháp khi một pháp khởi lên.
Quảng hiệp tự tại vô ngại: rộng và hẹp tự tại không ngại nhờ lý dung thông.
Nhất đa tương dung bất đồng: một, nhiều dung nạp mà không phá tướng riêng.
Chư pháp tương tức tự tại: các pháp cùng dung, cùng tức, không ngăn ngại nhau.
Bí mật ẩn hiện câu thành: mật và hiển trong mỗi pháp đắp đỗi nhau thành tựu.
Vi tế tương dung an lập: các thứ nhỏ nhiệm dung nhau và an lập trong nhau.
Nhơn-đà-la võng cảnh giới: trong mỗi pháp có các pháp như tướng lưới trời Đế-thích.
Thác sự hiểu pháp sanh giải: sự hiểu biết lan rộng, sâu xa qua sự lý, lý sự của các pháp.
Thập thế cách pháp dị thành: các pháp thành tựu dễ dàng, dù thời gian 3 đời cách biệt
Chủ bạn viên minh cụ túc: chủ và bạn nương nhau làm đầy đủ công đức sáng suốt.
III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng

* Trang 259 *
device

1. Ba pháp quán: Ba pháp “Quán pháp giới” có tính trọng yếu và hiệu quả rốt ráo nhất.
Chơn không quán: nhìn thấu sự đối đãi, giả dối của Có-Không, nhận rõ lý của vũ trụ.
Lý sự vô ngại quán: quán tướng hư giả của sự vật để thấy tánh sáng suốt, nhất chơn.
Châu biến hàm dung quán: quán Lý nơi Sự rõ các Sự, quán Sự nơi Lý mỗi Sự dung thông, để nhận chân: các pháp thâu nhiếp, dung thông, trùm chứa cả vũ trụ bao la.
2. Quả chứng: Giải thoát không lìa tướng thế gian, khi hành giả phân biệt chân vọng, khử trừ điên đảo, khiến tâm thanh tịnh, tức được giải thoát. Khi giác ngộ được chân lý trùng trùng duyên khởi, sự sự vô ngại pháp giới tức đạt quả vị Phật vậy.
IV. Kết luận
Hoa Nghiêm Tông căn cứ bộ kinh Hoa nghiêm, thuộc Viên giáo nên thường thích hợp với căn cơ cao. Hành giả nên trạch pháp cẩn thận, nếu cảm thấy khó thấu đáo, thì hãy chọn pháp môn phù hợp với căn cơ của mình. Nếu thấy trí tuệ mình có thể nếm được hương vị thanh cao này, thì hãy cố gắng theo con đường thẳng đứng, khó trèo nhưng mau đến đích.

* Trang 260 *
device

B. TAM LUẬN TÔNG (TÁNH KHÔNG TÔNG)
I. Duyên khởi lập tông
Mục đích Tông này nhằm phá thiên chấp sai lầm của ngoại đạo, Tiểu Thừa và làm sáng tỏ nghĩa lý Đại Thừa. Tông này căn cứ trên ba bộ luận: Trung luận, Thập nhị môn luận (của ngài Long Thọ) và Bách luận (của ngài Đề-bà), nên được gọi là Tam Luận Tông. Nó được thịnh hành ở Trung Hoa nhờ ngài Cưu-ma-la-thập (đời Dao Tần) và đại sư Gia Tường (đời Đường).
II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
Tông này chủ yếu nhằm “phá tà hiển chánh”, tà bị phá tức chánh hiển, trong phá đã có lập.
1. Bốn loại chấp trước: (mà Tông này hướng đến đả phá)
Tà chấp của ngoại đạo: tất cả sự chấp ngã, chấp pháp, chấp tà nhân quả…
Chấp trước của Tiểu Thừa Tỳ-đàm tông: chủ trương ngã không, pháp hữu.
Chấp trước của Thành thật tôn: tuy không chấp ngã - pháp, nhưng lại chấp “không”.
Chấp trước của người tu Đại thừa: còn trước sở đắc, chấp vào pháp “trung đạo”.
2. Bốn loại phá tà hiển chánh: (trích “Tam luận huyền nghĩa”)

* Trang 261 *
device

Phá mà không thâu: hoàn toàn bác bỏ ngôn luận không hợp đạo của đối thủ.
Thâu mà không phá: cách này dành cho chủ trương phù hợp chân lý.
Cũng phá cũng thâu: để phá mê và dứt sự hiểu lầm cho người học đạo còn mê chấp.
Không thâu không phá: trường hợp này đã tiêu trừ 3 loại trên, quy về chân thật tướng.
3. Bát bất Trung đạo: bất sinh - bất diệt, bất thường - bất đoạn, bất nhất - bất dị, bất lai - bất khứ. Đây là điểm cô đọng của chủ trương “phá tà hiển chánh”. Tất cả các pháp tuy là có, nhưng do nhân duyên mà sinh ra giả có. Thật tướng là không, nhưng không thật có cái “không” nào cả. Cho nên, “có” và “không”, hai cái toàn nhiên dung hợp. Trung đạo ra ngoài chỗ chấp có - không, sinh - diệt, còn - mất, giống - khác, đến - đi…
4. Ba thời giáo lý: Theo Tam Luận tông, giáo lý của Phật chia làm ba thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất: phá trừ ngoại đạo, chỉ dạy Tiểu Thừa với giáo lý “tâm cảnh đều có”.
Thời kỳ thứ hai: thông cả Tiểu Thừa - Đại Thừa, giáo lý “cảnh có, tâm không”.
Thời kỳ thứ ba: chỉ có Nhất thừa, “tâm cảnh đều không”, nhưng “chơn không diệu hữu”.
 

* Trang 262 *
device

III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
Muốn thấy rõ chỗ chấp trước sai lầm để phá trừ, cần quán pháp “bát bất” qua từng giai đoạn, và mỗi giai đoạn phải quán theo năm câu:
Thật có sinh có diệt: giả thuyết “có” mà thế gian thường chấp để bác (đơn tục).
Không sinh không diệt: giả thuyết thiên chấp “không” để bác (đơn chơn).
Giả sinh giả diệt: giả lập có sanh diệt từ nơi không sanh diệt (trung đạo về thế tục).
Giả bất sinh giả bất diệt: sanh diệt đã giả, bất sanh diệt cũng giả (trung đạo chơn đế).
Không phải sinh diệt, cũng không phải không sanh diệt: tất cả các tướng sinh, diệt, bất sinh, bất diệt và cả ngôn ngữ, niệm lự, tư duy đều bặt dứt, chỉ dùng trực quan mới đạt tới (hiệp cả tục đế và chơn đế để tìm ra trung đạo).
Ngoài ra, hành giả còn có thể tu tập các pháp môn khác, như: lục độ vạn hạnh… để đạt đến các quả vị tu chứng (xét theo 2 phương diện):
1. Chơn đế: mê ngộ vốn không, nên không có vấn đề chứng hay không chứng.
2. Tục đế: căn cơ không đồng nên sự tu chứng cũng có sai khác, tuần tự qua 52 quả vị:

* Trang 263 *
device

a. Thập tín: tín tâm, tấn tâm, niệm tâm, định tâm, huệ tâm, thí tâm, giới tâm, hộ tâm, nguyện tâm và hồi hướng tâm.
b. Thập trụ: Phát tâm trụ, Trì địa trụ, Tu hành trụ, Sanh quý trụ, Phương tiện trụ, Chánh tâm trụ, Bất thối trụ, Đồng chơn trụ, Pháp vương tử trụ và Quán đảnh trụ.
c. Thập hạnh: hoan hỷ hạnh, nhiêu ích hạnh, vô nhuế hạnh, vô tận hạnh, ly si loạn hạnh, thiện hiện hạnh, vô trước hạnh, tôn trọng hạnh, thiện pháp hạnh và chơn thiệt hạnh.
d. Thập hồi hướng: cứu độ chúng sanh ly tướng hồi hướng, bất hoại hồi hướng, đẳng chư Phật hồi hướng, chí nhất thiết xứ hồi hướng, vô tận công đức tạng hồi hướng, tùy thuận kiên cố thiện căn hồi hướng, đẳng tâm tùy thuận nhất thế hồi hướng, như tướng hồi hướng, vô trước vô phược giải thoát tâm  hồi hướng và pháp giới vô lượng hồi hướng.
e. Thập địa: Hoan hỷ địa, Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa và Pháp vân địa.
f. Đẳng giác: địa vị gần đến quả Phật sau khi đã mãn Thập địa.
 

* Trang 264 *
device

g. Diệu giác: Phật quả - tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn; cũng gọi là Vô học đạo.
IV. Kết luận
Theo chủ trương “lấy phá làm lập”, khi nhận chân rõ sự chấp trước sai lầm để phá tức là đã ngộ, và con đường đạt chân lý là con đường đang đi chứ không đâu xa. Tam luận tông có thể xem như một cửa ải để kiểm soát tất cả tâm lý “chấp trước” cho hành giả nào muốn đi xa vào thế giới Trung đạo hay Viên giáo.
C. CÂU XÁ TÔNG (HỮU TÔNG)
I. Duyên khởi lập tông
Tông này thuộc Tiểu Thừa, phát xuất từ bộ luận Câu-xá của ngài Thế Thân, dựa vào luận Đại Tỳ-bà-sa. Sau khi ngài Huyền Trang dịch bộ luận Câu-xá, và hai bộ luận “Câu-xá thuật ký” (của ngài Phổ Quang), “Câu-xá luận sớ” (của ngài Pháp Bảo) ra đời, tông này mới thịnh hành một thời gian tại Trung Hoa. Nhưng hết đời Đường, tông này dần suy tàn vì không còn thích hợp với triết học và tâm lý của người Trung Hoa.
II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
1. Tôn chỉ: Tông này chủ trương “ngã không pháp hữu”. Tất cả sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều là giả hợp, chứ không có vật gì thật có và bất biến. Ngược

* Trang 265 *
device

lại, bản thể của các pháp, tức nguyên liệu sanh ra các sự vật trong vũ trụ thì thật có và thường tại.
2. Vũ trụ quan: Tất cả vũ trụ vạn hữu được chia làm 2: hữu vi (72 pháp) và vô vi (3 pháp). 75 pháp này bao gồm cả hữu tình thế gian (có sự sống) và khí thế gian (hoàn cảnh).
a. Hữu vi: các pháp chỉ hiện tượng giới, có sanh diệt, gồm: 11 sắc pháp (5 căn, 5 cảnh), 1 tâm vương (6 thức), 46 tâm sở (10 đại địa, 10 đại thiện địa, 6 đại phiền não địa, 2 đại bất thiện địa, 10 tiểu phiền não, 8 bất tịnh địa) và 14 pháp bất tương ưng hành.
b. Vô vi: các pháp lý thể thường trụ, gồm: trạch diệt, phi trạch diệt và hư không vô vi.
c. Thời gian:  vũ trụ vô thỉ, vô chung nhưng trong đó, mỗi thế giới hình thành qua 4 giai đoạn của 1 đại kiếp: thành, trụ, hoại, không. (1 đại kiếp = 1.280.000.000 năm).
d. Không gian: vũ trụ bao la: 1000 thế giới=1 tiểu thiên thế giới, 1000 tiểu thiên=1 trung thiên, 1000 trung thiên=1 đại thiên thế giới, trong vũ trụ có vô số đại thiên thế giới.
e. Về phẩm chất: có ba cõi: dục giới (6 đường), sắc giới (4 thiền) và vô sắc giới (4 không).
 

* Trang 266 *
device

3. Nhân sinh quan: sự có mặt của chúng sanh là do “nghiệp cảm duyên khởi”, tức do mê hoặc tạo nghiệp, từ nghiệp nhân cảm thọ quả báo. “Mê hoặc” gồm:
a. Bổn hoặc và tùy hoặc (căn bản phiền não và tùy phiền não) hay là:
b. Ngũ độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) và ngũ lợi sử (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ).
c. Nghiệp: có 3 nghiệp (thân, khẩu, ý nghiệp), mỗi nghiệp có 3 tánh (thiện, ác, vô ký), mỗi tánh thể hiện ở 10 thứ (thân 3, khẩu 4, ý 3).
d. Quả báo: tùy theo thời gian, tính chất (định, bất định) mà có hiện báo, sinh báo, hậu báo.
e. Giá trị tồn tại: đời là bể khổ bởi sự chấp trước ngã, pháp điên đảo của chúng sanh.
III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
1. Tứ Diệu đế: muốn thoát khỏi bể khổ kia, cần tu theo pháp Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), trải qua từ 3 đời đến 60 kiếp, sẽ chứng quả A-la-hán, một trong 4 quả Thanh Văn (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán).
2. Thập nhị nhơn duyên: với căn cơ lanh lợi thì tu quán “Thập nhị nhơn duyên” (vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử)

* Trang 267 *
device

để chấm dứt cội nguồn sanh tử. Khi dứt hết mê lầm, chứng được chân lý, an vui Niết-bàn, đó là Duyên Giác quả. Vị này được gọi là Bích Chi Phật.
IV. Kết luận
Tông này trình bày khá tận tường giáo lý căn bản, và có thể đại diện 1 cách đầy đủ cho phái Tiểu thừa Phật giáo. Trải qua khoảng 1000 năm lịch sử với nhiều biến đổi nội tại, chắc chắn sự tìm hiểu của chúng ta về tông này chưa được đầy đủ. Cho nên, hành giả hãy xem đây như là một pháp môn trong vô lượng giáo pháp của Phật, chứ không phải là “con đường” tu tập hoàn bị, cần nghiên cứu thêm nhiều để tránh lầm đường lạc lối.
D. THÀNH THẬT TÔNG
I. Duyên khởi lập tông
Tông này thuộc Tiểu Thừa, y cứ vào lý nghĩa của bộ luận Thành Thật của ngài Ha-lê-bạt-ma. Với ý nghĩa chân chánh của chữ “Thành Thật” hàm ý tất cả lý nghĩa trong bộ luận này đúng chân xác với giáo lý căn bản Phật dạy, bộ luận được ngài Cưu-ma-la-thập truyền sang Trung Hoa và dịch sang tiếng Hán từ đời Diêu Tần. Nhưng mãi đến đời Nam Bắc Triều, tông Thành Thật mới thành lập.

* Trang 268 *
device

II. Tôn chỉ và giáo lý căn bản
Vơi chủ trương “nhân không pháp không”, tông này đưa ra 2 môn để giải thích:
1. Thế giới môn: tức là xét theo phương diện tương đối của tục đế, thì thân ta (ngã) và tất cả nguyên liệu cấu tạo, tất cả vũ trụ vạn hữu (pháp) đều phải có, nhưng xét theo: 
2. Đệ nhất nghĩa môn: tức là xét theo phương diện tuyệt đối (chơn đế), thì ngã và pháp đều là giả có chứ không thật. Thân này do năm uẩn đủ duyên thì mới hình thành, và luôn đổi thay, biến chuyển trong từng giây phút. Các pháp cũng tồn tại khi nhân duyên hòa hợp, chỉ là giả có chứ không thuần nhất, bất biến. Theo ý nghĩa đó, “không” ở đây có nghĩa là chơn không chứ không phải là cái “không” đối lập với “có” theo phàm tục thường hiểu.
Tương quan giữa Tục và Chơn: Sở dĩ từ “chơn không” lại phát sanh ra ngã, pháp là do:
Phiền não chướng: là nghiệp chướng về kiến hoặc và tư hoặc, chấp cái ta là thật có.
Sở tri chướng: (cũng gọi là trí chướng) chướng ngại đạo Bồ-đề, chấp các pháp thật có.
3. Tám mươi bốn pháp: khác với Câu xá và Duy Thức, tông này chia nhân sinh, vũ trụ thành 84 pháp:

* Trang 269 *
device

14 sắc pháp: 5 căn, 5 trần, 4 đại.
50 tâm pháp: 1 tâm vương, 49 tâm sở (hơn Câu xá 3 tâm sở, kém Duy Thức 2 tâm sở).
17 phi sắc phi tâm pháp: tức là bất tương ưng hành pháp, hơn Câu xá 3 pháp.
3 vô vi pháp: như Câu xá.

III. Phương pháp tu hành và quả vị tu chứng
1. Hai pháp quán: Theo chủ trương “nhơn không pháp không”, có hai pháp quán:

Ngã không quán: quán thân ta do 5 uẩn giả hợp mà thành chứ không thật có 1 cái ta.
Pháp không quán: quán 5 uẩn và các pháp tạo ra 5 uẩn cũng không thật.

2. Ba tâm và Diệt đế: tương tự như hai pháp quán trên, nhưng cao hơn 1 tầng.

Giả danh tâm: cái tâm chấp những giả danh, trừ tâm này chứng được lý nhơn không.
Pháp tâm: cái tâm chấp pháp thể 5 uẩn thật có, trừ bỏ được thì chứng lý pháp không.
Không tâm: tâm chấp cái “không”, cần trừ bỏ để chứng “chơn không”, đạt Niết-bàn.

3. Quả chứng: có 27 tầng bậc, tức 27 vị Hiền Thánh (phân ra thêm từ 4 quả Thanh Văn):

* Trang 270 *
device

Dự Lưu hướng: có 3 bậc: Tùy Tín Hành, Tùy Pháp Hành và Vô Tướng Hành.
Dự Lưu quả: tức Tu-đà-hoàn quả đã dứt hết Kiến hoặc trong ba cõi.
Nhất Lai hướng: đã dứt hết 5 phần Tư hoặc ở cõi Dục giới.
Nhất Lai quả: đã dứt phẩm Tư hoặc thứ 6 ở Dục giới, nhưng phải trở lại 1 lần cuối cùng.
Bất Hoàn hướng: đã dứt 2 phẩm tư hoặc thứ 7, 8 ở Dục giới, chuẩn bị ra khỏi Dục giới. 
Bất Hoàn quả: có 11 bậc: Trung Ban, Sanh Ban, Hữu Hành Ban, Vô Hành Ban, Lạc Huệ Ban, Lạc Định Ban, Chuyển Thể, Hiện Ban, Tín Giới, Kiến Đắc và Thân Chứng. 11 bậc này không phải là các thứ bậc cao thấp mà hành giả phải tuần tự trải qua. Đây  chỉ là 11 trường hợp khác nhau trong quả Bất Hoàn, do tùy căn cơ nhanh chậm, tùy sở nguyện hay hoàn cảnh khác nhau mà có, đều gọi là A-la-hán hướng.
A-la-hán quả: bậc vô học, hoàn toàn ra khỏi sanh tử; có 9 bậc: Thối pháp tướng, Thủ hộ tướng, Tử tướng, Trú tướng, Khả tấn tướng, Hoại tướng, Huệ giải thoát, Cầu giải thoát và Bất thối tướng.
IV. Kết luận

* Trang 271 *
device

Nội dung Tông này tương đối giống Câu Xá tông, chỉ khác là chủ trương “nhân không pháp không”, có nghĩa là đã tiến thêm một bước gần Đại thừa. Điều này chứng minh rằng, theo thời gian, Tiểu Thừa và Đại Thừa đã tiến lại gần nhau hơn và dần dần thể nhập làm một, không còn danh xưng Đại - Tiểu nữa. Đây là một hoài bão mà từ năm 1964, Phật giáo Việt Nam chúng ta đã thực hiện, với thệ nguyện làm xương minh một Đạo Phật thống nhất.
 
* TỔNG KẾT VỀ MƯỜI TÔNG
Nội dung trình bày về 10 tông phái như trên chỉ là khái quát, không đi sâu vào từng chi tiết vì giới hạn tính chất của bài học. Tuy nhiên, qua đây chúng ta có thể nắm bắt được những điểm chính yếu, căn bản của mỗi tông phái.
Mỗi tông, tuy có một tôn chỉ, chủ trương riêng, nhưng tông nào cũng thờ đức Phật Thích-ca-mâu-ni, và đều dựa trên các kinh điển của Ngài để thành lập. Sự sai khác chẳng qua là ở cách giải thích vũ trụ vạn hữu và phương pháp tu hành, chứ điểm chính thì mọi tông phái đều công nhận: có một Chân như trong suốt, linh diệu bên trong vũ trụ, làm nền móng cho mọi hiện tượng ở thế gian này. Chân như ấy, tuy chúng sanh bị vô minh che ám, nhưng với các phương pháp tu hành

* Trang 272 *
device

mà đức Phật đã dạy, nếu chúng ta thực hành trọn vẹn thì sẽ giác ngộ và thể nhập như đức Phật đã ngộ nhập.
Sở dĩ sự giải thích vũ trụ và phương pháp tu hành có nhiều lối là vì xu hướng, trình độ, căn cơ của chúng sanh không đồng đều. Cũng như vị lương y tùy bệnh nặng nhẹ mà cho thuốc, cốt làm cho bệnh nhân lành bệnh, đó là vị lương y giỏi. Những bệnh nhân vô phước như chúng ta rất không may sanh vào thời mạt pháp, không gặp được lương y giỏi. Nhưng sự giải thích căn bệnh và phương pháp chữa bệnh của các bậc đại lương y, tức giáo lý của các tông phái, vẫn đang còn đó. Chúng ta hãy tự nghiên cứu lấy căn bệnh của chúng ta, và hãy lựa chọn phương thuốc nào thích hợp để sử dụng thì chắc chắn chúng ta sẽ lành bệnh.


 
***

* Trang 273 *
device

 
Phật học khái lược 2