LOGO VNBET


QUÁN NHÂN DUYÊN
 
A. MỞ ĐỀ
Thế gian thường cho rằng: vũ trụ vạn hữu là do tự nhiên mà có, một phần khác quan niệm: thế gian do Thượng đế tạo nên, mọi sự thưởng phạt trên thế gian đều do Thượng đế sắp đặt. Đây là những quan niệm sai lầm có tác hại rất lớn đến tinh thần tự lực, tự cường của con người; đánh mất tính nhân bản tự chủ trong cuộc sống của con người.
Chúng ta biết rằng: muôn sự không tự nhiên mà có, chúng chỉ có khi hội đủ duyên, chỉ hiện hữu giữa các mối quan hệ. Lớp này đến lớp khác trùng trùng vô tận, một làm duyên cho tất cả, tất cả làm duyên cho một, một là tất cả, tất cả là một (Nhất thiết tức nhất, nhất tức nhất thiết - Kinh Hoa Nghiêm). Do cái này có nên cái kia có, do cái này sanh nên cái kia sanh. Mọi sự mọi vật đều không có sự khởi đầu, cũng không có sự kết thúc, nói theo ngôn ngữ Phật giáo là vô thỉ vô chung. Trong kinh Pháp Hoa đức Phật có dạy: “Chư pháp tùng duyên sanh, diệc phục tùng duyên diệt” nghĩa là: các pháp từ duyên mà được sanh ra, cũng tùy duyên mà bị hoại diệt. Dù là loài hữu tình hay vô tình đều không ngoài công lệ ấy. Công lệ đó chính là nhân

* Trang 24 *
device

duyên hay duyên khởi mà hôm nay chúng ta có cơ duyên tìm hiểu trong bài Quán nhân duyên sau đây.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Định nghĩa
Nhân duyên là gì?
Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những vật chính nó làm nhân. Duyên là trợ duyên, chỉ cho những vật gì có tính cách trợ giúp, trực tiếp hay gián tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng, nhân công… là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây lúa. Vậy nhân duyên là điều kiện để cho một sự kiện hiện hữu.
Chữ “nhân duyên” lại có nghĩa thứ hai: các vật đều là nhân, các nhân đó duyên với nhau mà thành ra các vật khác. Như vôi, gạch, ngói, gỗ… là nhân, các duyên này duyên với nhau mà thành ra cái nhà. Vì các pháp tương quan làm nhân làm duyên đắp đổi cho nhau mà sanh thành hay huỷ diệt, nên trong kinh chép: “chư pháp trùng trùng duyên khởi”.
II. Thành phần của nhân duyên
Đoạn trên đã nói: “Các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh”. Vậy những nhân duyên gì sanh ra loài hữu tình? Đó là mười hai nhân duyên sau đây:

* Trang 25 *
device

1. Vô minh: có nhiều nghĩa và nhiều loại:
Theo Đại Thừa giải thích: “không rõ ngộ chân tâm gọi là vô minh”.
Thông cả Đại Thừa và Tiểu Thừa giải thích: “hiểu biết các pháp không đúng như sự thật, nên gọi là vô minh. Như vô ngã chấp là ngã, vô pháp chấp là pháp”.
Ngoài ra, còn có nghĩa thông thường như: vô minh là không sáng, tối tăm, mờ ám, si mê…
Vô minh, lại có khi để chỉ cho các phiền não như tham, sân, si. Vô minh lại phân ra hai loại: căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Như trong mười hai nhân duyên, vô minh đầu là căn bản vô minh, vì nó làm gốc sinh ra các vô minh sau, còn ái, thủ, hữu … là chi mạt vô minh. Nói chung lại, tất cả phiền não hoặc thô hoặc tế của Tiểu Thừa hay Đại Thừa, có tánh cách làm cho chân tâm bị ẩn, gương trí tuệ lu mờ thì gọi là Vô minh.
2. Hành: là hành động tạo tác. Do vô minh phiền não nổi lên làm cho thân khẩu ý tạo tác ra các nghiệp.
3. Thức: là thần thức, chỉ cho phần tinh thần. Do thân, khẩu, ý tạo tác những nghiệp lành hay dữ mà nghiệp ấy dẫn dắt thần thức thọ lãnh quả báo khổ hay vui.

* Trang 26 *
device

4. Danh sắc: là thân thể, trong thân thể con người có hai phần: phần tinh thần (chỉ có tên gọi chứ không có hình sắc) và phần thể chất (có hình sắc nên gọi là sắc).
5. Lục nhập: gọi nôm na là sáu chỗ vào. Khi đã có thân thể rồi, cố nhiên phải có sáu căn là chỗ của sáu trần thâm nhập nên gọi là lục nhập.
6. Xúc: là tiếp xúc. Trong sáu căn, ngoài sáu trần thường gặp gỡ tiếp xúc với nhau, như mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng…
7. Thọ: là lãnh thọ. 6 căn tiếp xúc 6 trần rồi lãnh thọ những cảnh vui buồn…
8. Ái: là ưa muốn. Khi lãnh thọ cảnh vui thì sanh lòng tham, muốn làm sao cho được, khi gặp cảnh khổ thì sân hận muốn làm sao xa lìa. Đây là động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ý tạo tác các nghiệp.
9. Thủ: là giữ lấy, tìm cầu; nói rộng ra là các hành động tạo tác. Do gặp cảnh thuận thì tham cầu, gặp cảnh nghịch thì lại sân si, muốn xa lìa. Mục đích là muốn tìm phương này kế nọ để bảo thủ cho được cái bản ngã của mình. Do đó mà tạo ra các nghiệp sanh tử.
10. Hữu: là có. Vì đời này đã có nhân lành hay dữ do mình tạo ra, thì đời sau quyết định phải có quả khổ hay vui mà mình phải thọ nhận.

* Trang 27 *
device

11. Sanh: là sinh ra. Do ái, thủ, hữu làm nhân hiện tại
12. Lão tử: là già chết. Đã có sinh tất nhiên phải có quả báo già chết.
Mười hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau, vừa làm quả cho nhân trước, vừa làm nhân cho quả sau, nối tiếp không dứt làm cho chúng sanh mãi ở trong vòng sanh tử.
III. Phương pháp quán
Phương pháp quán mười hai nhân duyên có thể chia làm hai phần: Quán lưu chuyển và Quán hoàn diệt.
1. Quán lưu chuyển: là quán sát trạng thái sanh khởi và luân lưu của mười hai nhân duyên, có ba loại:
a. Quán sát trạng thái sanh khởi của 12 nhân duyên trong quá khứ xa xôi, từ vô thỉ. Từ vô thỉ, vì vô minh vọng động làm cho bản tâm thanh tịnh phải ẩn khuất, như mây ám nên trăng mờ. Do đó, các vọng động từ từ sanh khởi thành ra có tâm và cảnh, đủ cả thế giới và chúng sanh. Trong thân chúng sanh có sáu căn là chỗ của sáu trần thường phản ảnh vào, rồi cảm thọ, nhân thọ sanh  ra ưa, vì ưa mới giữ, do đó có hữu, rồi có sanh và già chết.

* Trang 28 *
device

b. Quán sát trạng thái sanh khởi của 12 nhân duyên trong ba đời. Đây là quán sát 12 nhân duyên trong thời gian từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. 12 nhân duyên cũng như sợi dây chuyền có 12 vòng, vòng này móc vào kia, vòng kia móc vào vòng nọ, nối tiếp nhau liên quan cả ba đời. Như trong quá khứ, vô minh và hành làm nhân sinh ra quả hiện tại là “thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ”; từ quả hiện tại trở lại tạo nhân là “ái, thủ, hữu”; nhân hiện tại lại sẽ trở thành quả vị lai là “sanh, lão tử”. Nói tóm lại, do mê hoặc nên tạo nghiệp, vì tạo nghiệp nên chịu quả khổ, nhân chịu quả khổ rồi lại mê hoặc tao nghiệp… Nhân sinh quả rồi quả lại sanh nhân nối tiếp trong ba đời, quanh quẩn trong sáu đường san tử luân hồi, như cái bánh xe lăn tròn trên sợi dây chỉ, có khác là cái bánh xe thật thì chỉ có một cái và biến đổi rất chậm chạp, còn 12 nhân duyên thì vừa chạy tới vừa biến đổi, luôn luôn hoại và thành, thành và hoại… liên tiếp trong ba đời.
c. Quán sát trạng thái sanh khởi của 12 nhân duyên trong một niệm của hiện tại. Nếu lấy một khoảng thời gian ngắn trong hiện tại để quán sát, hành giả cũng có thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của 12 nhân duyên, chứ không cần quán sát cả ba đời. Như khi đối cảnh, không rõ các pháp đều là lưu chuyển (vô minh)

* Trang 29 *
device

mà khởi vọng niệm (hành) phân biệt (thức) các cảnh vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lãnh thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tìm cầu (thủ), do đó tạo ra các nghiệp (hữu) rồi theo nghiệp thọ báo (sanh, lão tử).
Phân tích ba pháp quán trên, hành giả sẽ rút ra được những nhận xét sau:

- Trong 12 nhân duyên, có hai nhóm làm nhân và hai nhóm làm quả, một nhóm nhân quá khứ và một nhóm nhân hiện tại. Về phía quả thì có một nhóm quả hiện tại (thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) và một nhóm quả vị lai (sanh, lão tử).
- Vô minh, hành là căn bản vô minh; ái, thủ, hữu là chi mạt vô minh. Có thể nói vô minh, hành là cái biệt hữu của ái, thủ, hữu; còn thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là cái dị danh của sanh, lão tử. Nói như thế là vì, nếu ta đổi qua, tráo lại, sẽ thấy rõ trong ái, thủ, hữu có vô minh và hành; còn trong sanh, lão tử có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ.
- Vô minh, ái, thủ thuộc về hoặc; hành, hữu thuộc về nghiệp; thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, lão tử thuộc về khổ.

* Trang 30 *
device

2. Quán hoàn diệt: là quán sát sự tiêu diệt của 12 nhân duyên, có 2 cách quán:
a. Diệt vô minh gốc rễ (Căn bản vô minh): Trong phần quán sát trên, hành giả đã thấy rõ: do vô minh mà có hành, do hành mà có thức… Vậy, bây giờ nếu diệt vô minh thì hành sẽ bị diệt… Nói cách khác, do mê hoặc nên tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên mới chịu quả khổ. Vậy, muốn hết khổ lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp thì phải diệt trừ vô minh. Trừ căn bản vô minh có hai cách:
- Đối với các bậc Đại Thừa Bồ-tát, vì thấy rõ thể tánh chân tâm do vô minh vọng động mà có thế giới chúng sanh, ngã và pháp, nên các Ngài dùng trí Bát-nhã mà phá trừ sinh tướng vô minh, để trở lại với bản thể chân tâm. Khi đã ngộ được chân tâm rồi thì cả sanh tử luân hồi đều hết. Như trong Bát-nhã Tâm kinh chép: “Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát khi đi sâu vào trí Bát-nhã Ba-la-mật-đa rồi thì thấy cả năm uẩn đều không, nên khỏi các điều khổ ách…”. Hay như trong Kinh Lăng Nghiêm có chép: “Đối với người tỏ ngộ được chân tâm thì 10 phương thế giới đều tiêu hết”.
- Đối với người không thể phá trừ ngay được căn bản vô minh để trực ngộ chân tâm thì phải lần hồi trải vô số kiếp tu hành, khí đến

* Trang 31 *
device

địa vị Đẳng Giác, dùng trí tuệ Kim Cang phá trừ được sanh tướng vô minh mới chứng quả Diệu Giác.
b. Diệt vô minh ngọn ngành (Chi mạt vô minh): Đối với hàng phàm phu và Tiểu Thừa căn cơ thấp kém thì không thể trực tiếp phá trừ căn bản vô minh, mà chỉ có thể phá được chi mạt vô minh, khi ngọn ngành bị tiêu diệt thì gốc rễ dần dần sẽ bị diệt theo. Cũng có hai cách diệt trừ:
- Quán lý: dùng lý lẽ để nhận thấy rằng các pháp chỉ do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra chứ không có thật nên không tìm cầu chấp thủ (không thủ), đã không chấp thủ thì cũng không tham muốn (không ái). Nghĩa là bắt đầu quán hữu đến thủ, rồi cuối cùng là ái. Nếu ba cái nhân này không có thì cái quả sanh, lão, tử cũng chẳng có.
- Quán sự: là y theo sự tướng mà quán sát rồi thực hành. Hành giả bắt đầu quán ái trước, rồi đến thủ và hữu. Kinh chép: “hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái nhạo hà ưu hà úy!”, nghĩa là bởi có tham muốn mới sinh lo sợ, nếu không tham ái thì còn lo sợ gì! Vì đối với cảnh sanh tâm tham muốn (ái) nên mới tạo ác nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử, luân hồi (hữu). Bấy giờ, nếu đối cảnh không tham ưa (không ái) thì chẳng tìm cầu chấp

* Trang 32 *
device

thủ (không thủ), vì không chấp thủ nên chẳng có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “…Chỉ khi các ông đối cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt, thì tham, sân, si chẳng khởi; tham, sân, si không khởi thì sát, đạo, dâm, vọng không sanh…”. Tóm lại, mê hoặc (ái) hết thì nghiệp (thủ) chẳng có, nghiệp không thì khổ chẳng còn.
Trong bốn cách trừ vô minh, chỉ có cách quán sự này dễ dàng và thiết thực nhất, lại hợp với căn cơ của người tu hành hiện tại.
IV. Hiệu quả của pháp quán nhân duyên
Hành giả sau khi thành tựu pháp quán 12 nhân duyên này thì sẽ trừ được tận gốc cội rễ nguyên nhân của khổ đau và luân hồi của chúng sanh là tâm si mê. Đức Phật dạy:“Sự khổ ở tam đồ chưa phải là khổ, chỉ có người thiếu trí tuệ mới gọi là khổ”. Xem thế thì đủ biết trừ được tâm si mê và làm cho trí tuệ được phát chiếu là một điều quan trọng bậc nhất của kẻ tu hành.
Hơn nữa, hành giả còn nhờ pháp quán 12 nhân duyên này mà sẽ chứng được quả Duyên Giác. Khi Phật chưa đản sanh, đã có nhiều vị tu tập qua phương pháp quán sát sự sanh hoá của vũ trụ mà ngộ đạo. Những vị ấy được gọi là Độc Giác, nghĩa là tự mình tu tập mà được giác ngộ. Sau khi Phật đản sinh- thành

* Trang 33 *
device

đạo, Ngài chỉ dạy pháp quán nhân duyên; y theo phép quán này tu tập, giác ngộ thì gọi là Duyên Giác.
Sự giải thoát của quả vị Duyên Giác và A-la-hán đều giống nhau, nhưng về trí tuệ và thần thông thì quả Duyên Giác cao hơn quả A-la-hán. Sau đây là một ví dụ về sự thành tựu pháp quán 12 nhân duyên cả hai vị đệ tử của đức Phật Thích-ca, là ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên, lược thuật theo kinh Nhân Quả.
Ở thành Vương Xá, có hai người Bà-la-môn rất thông minh và trí tuệ, một người tên là Xá-lợi-phất và một người tên là Mục-kiền-liên. Hai người đều tu theo ngoại đạo, có trên một trăm đệ tử, và có hứa hẹn với nhau rằng: nếu ai nghe được pháp mầu trước thì phải chỉ dạy lại cho người kia.
Một hôm, ngài Xá-lợi-phất đi trên đường, gặp được một vị đệ tử của Phật là Tỳ kheo A-xá-bà-kỳ giảng giải về đạo lý Nhân duyên, đạo lý ấy được tóm tắt qua bài kệ: “Nguồn gốc của tất cả pháp là nhân duyên sinh, không ai làm chủ, nếu ai hiểu được pháp này thì chứng được đạo chân thật”.
Khi nghe xong, ngài Xá-lợi-phất liền xa lìa trần cấu, chứng được đạo quả thanh tịnh. Lúc trở về ngài Xá-lợi-phất giảng nói lại cho ngài Mục-kiền-liên nghe. Ngài Mục-kiền-liên nghe xong cũng chứng được đạo quả. Hai Ngài liền đem 200 đệ tử của mình đến quy y làm đệ tư ûPhật và xin  được xuất gia.

* Trang 34 *
device

C. KẾT LUẬN
Tất cả sự vật, không một vật nào riêng biệt mà tồn tại được. Chúng phải nương tựa vào nhau để thành vật này hay vật khác. Đó là lý nhân duyên hay trùng trùng duyên khởi. Riêng về loài hữu tình như loài người chẳng hạn, thì do 12 nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sanh tử dài vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Tùy theo cái tác dụng của nó mà 12 nhân duyên ấy có thể chia làm 3 nhóm: hoặc, nghiệp và khổ.
Muốn dứt trừ chuỗi sanh tử kéo dài trong biển khổ đau của cõi tục phải quán 12 nhân duyên qua phương pháp Quán lưu chuyển Quán hoàn diệt.
Quán lưu chuyển: Quán hiện tượng sanh khởi và tiến triển của 12 nhân duyên từ vô minh, hành, thức… đến sanh, lão tử. Trong khi quán lưu chuyển, hành giả có thể chỉ quán sát sự sanh khởi và tiến triển của 12 nhân duyên trong quá khứ, trong hiện tại hay cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quán hoàn diệt: Quán theo phương pháp làm cho 12 nhân duyên phải tiêu diệt. Có 2 phương pháp quán hoàn diệt: Bậc đại trí diệt căn bản vô minh và bậc tiểu trí diệt chi mạt vô minh. Quán diệt chi mạt vô minh có 2 cách: quán sự và quán lý. Quán lý là quán các pháp vốn không, nên không chấp thủ, tham ái. Quán sự tức do quán lý mà đối cảnh không tham ái, không tạo các nghiệp ác, không tìm cầu, nên khòng cảm thọ quả sanh tử về sau.

* Trang 35 *
device

Khi hành giả thành tựu Pháp quán 12 nhân duyên này thì sẽ dứt trừ được vô minh, thoát khỏi sanh tử và chứng được quả vị Duyên Giác. Cầu mong cho tất cả chúng ta đều thấu hiểu chân giá trị của Pháp quán này để tinh tấn tu hành và đạt được quả vị quý báu nêu trên.

 
*
*      *

* Trang 36 *
device

 
Phật học khái lược 2