LOGO VNBET


QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT
 
A. MỞ ĐỀ
Hầu hết người đời đều tin rằng: mỗi người từ khi lọt lòng mẹ cho đến chết và cả sau khi chết nữa, đều có một linh hồn duy nhất, bất biến, làm chủ tất cả ý nghĩ, hành động của mình. Nói theo thuật ngữ Phật giáo thì tin như thế gọi là “ngã chấp”, nghĩa là tin có một cái ngã riêng biệt tồn tại bất biến. Từ cái chấp ngã ấy sinh ra “ngã ái”, nghĩa là yêu thương, chăm sóc, giữ gìn cái ngã, bất chấp phải trái, hay dỡ; và “ngã mạn” nghĩa là ngạo mạn, cho cái ta của mình là cao quý, hơn bao nhiêu cái ta khác, đối lập với tất cả những gì không phải là ta hay trái ý với ta.
Do sự chấp ngã ấy mà cuộc sống đáng lẽ phải rộng rãi vô biên, trường tồn bất diệt, lại bị ngăn cách chia xẻ, giam hãm trong những cái vỏ cứng là cái ta riêng biệt; và người đời hay nói rộng hơn, tất cả chúng sanh đều phải sống chết, quay cuồng điêu đứng, riêng biệt, mà họ tưởng lầm là thuần nhất, bất biến ấy. Nhưng thật ra, có một cái “ta” như thế không? Nếu có thì cái “ta” đó ở đâu? Trong sáu căn, hay trong sáu trần, hay trong sáu thức? Muốn hiểu rõ vấn đề này một cách tường tận, chúng ta phải quán giới phân biệt, là một trong Ngũ đình tâm quán.

* Trang 37 *
device

B. CHÁNH ĐỀ
I. Định nghĩa
Quán giới phân biệt: giới có nghĩa là giới hạn, là phạm vi phân chia phần này với phần khác, như: loại âm thanh, màu sắc, mùi vị…; bộ phận này với bộ phận khác, như mắt, tai, mũi… trong thế giới Ta-bà gồm những vật hữu tình hay vô tình này, mặc dù có thiên hình vạn trạng, nhưng theo triết lý của đạo Phật thì có thể chia ra làm mười tám giới. Vận dụng trí tuệ để quán sát, nhận định từng phạm vi, từng giới một trong mười tám giới ấy, để xét xem thử có một cái ngã trường tồn, bất biến, duy nhất hay không, đó tức là “Quán giới phân biệt”.
II. Phân giải mười tám giới
Mười tám giới được chia làm ba loại: 6 căn, 6 trần và 6 thức.
1.Sáu căn: Căn tức là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nảy nở, phát sinh, 6 căn ở đây gồm:
a. Nhãn căn: tức là 2 con mắt, bộ phận để làm chỗ nương tựa cho sự nhận thấy của người được rõ ràng khi tiếp xúc với cảnh vật xung quanh.
 

* Trang 38 *
device

b. Nhĩ căn: 2 lỗ tai, bộ phận làm chỗ phát sinh cho sự nghe biết được rõ ràng khi tiếp xúc với tiếng động xung quanh.
c. Tỷ căn: 2 lỗ mũi, bộ phận làm chỗ nương tựa cho sự ngửi biết của người được xác thực khi tiếp xúc với các mùi hương ở xung quanh.
d. Thiệt căn: tức là cái lưỡi, bộ phận làm chỗ nương tựa cho sự nếm biết của người được rõ ràng khi tiếp xúc với các chất vị cảnh ở xung quanh.
e. Thân căn: tức là da bao bọc con người, bộ phận làm cho nhận biết được cảm giác nóng, lạnh, cứng, mềm của các vật xung quanh.
Năm căn này là năm bộ phận thuộc về thể chất nằm ở bên ngoài, dễ tiếp xúc với ngoại vật. Chúng có hình tướng do tứ đại hợp thành, có thể thấy được, chỉ được, sờ mó được. Duy Thức học liệt chúng về “nội căn sắc pháp”. Nội căn sắc pháp này có thể phân tách ra làm hai phần: phù trần căn (hình tướng thô phù hiện ra bên ngoài, như tròng mắt, vành tai…) và tịnh sắc căn (phần ẩn phục, hoạt động của năm căn, tức hệ dây thần kinh của con người). Hai phần này rời nhau, năm căn sẽ trở thành vô dụng.

* Trang 39 *
device

f. Ý căn: bộ phận để cho sự phân biệt phát sanh, tức là thức thứ sáu. Phần này thuộc về tinh thần, nên không có hình sắc như 5 căn trước.
2. Sáu trần: trần nghĩa đen là bụi, bụi thì nhơ nhớp, luôn luôn thay đổi, lăng xăng, tụ tán không ngừng. Nghĩa bóng: chỉ cho phần vật chất tồn tại chung quanh con người. Sáu trần là:
a. Sắc trần: màu sắc, đường nét hình dáng, những gì mắt có thể thấy,
b. Thanh trần: tiếng do vật hữu tình hay vô tình tạo ra, do tai nghe được.
c. Hương trần: là mùi do vật hữu hình hay vô hình tạo nên, do mũi ngửi được.
d. Vị trần: là chất vị trong vật hữu tình hay vô tình, do lưỡi nếm được.
e. Xúc trần: là những thứ mềm, cứng, trơn, nhám… của vật hữu hình hay vô hình tạo nên, những vật mà thân tiếp xúc được.
f. Pháp trần: là những hình ảnh màu sắc hương vị… trừu tượng của 5 trần lưu lại sau khi đã bị 5 căn duyên, chính là cảnh bị duyên của ý căn. Màu sắc tiếng tăm hương vị ở đây không phải là vật thật của ngoại cảnh mà chỉ là những hình bóng,

* Trang 40 *
device

âm vang… của ngoại cảnh sau khi đã lọt vào 5 giác quan và đang bị ý căn duyên.
Có thể ví dụ: sắc trần là cảnh vật bên ngoài, nhãn căn như cái máy quay phim, pháp trần như những hình ảnh đã được giữ trong cuốn phim, ý căn dụ như người xem hình trong cuốn phim chiếu lên.
3. Sáu thức: thức là sự phân biệt, hiểu biết do 6 căn tiếp xúc 6 trần mà phát sinh. Nó thuộc về tâm pháp. 6 thức là:
a. Nhãn thức: là sự phân biệt, hiểu biết phát sinh do nhãn căn tiếp xúc sắc trần.
b. Nhĩ thức: là sự phân biệt, hiểu biết do nhĩ căn tiếp xúc thanh trần.
c. Tỷ thức: là sự phân biệt, hiểu biết do tỷ căn tiếp xúc hương trần.
d. Thiệt thức: là sự phân biệt, hiểu biết do thiệt căn tiếp xúc vị trần.
e. Thân thức: là sự phân biệt, hiểu biết do thân căn tiếp xúc với xúc trần.
f. Ý thức: là sự phân biệt, hiểu biết, phê phán ý căn tiếp xúc với pháp trần.
Có thể ví dụ: Sáu thức như một cuộc thi về văn nghệ, nữ công gia chánh của một hội đồng giám khảo gồm sáu người: một chủ tịch và năm thành viên chuyên

* Trang 41 *
device

môn về năm ngành (hình ảnh, âm thanh, mùi hương, chất vị, xúc giác). Sau khi lấy khả năng chuyên môn của mình để phân tách phê phán rồi, năm thành viên trình sự nhận xét của mình lên ông chủ tịch, ông này thu góp tất cả những nhận xét làm tổng kết và tuyên bố kết quả của cuộc thi ấy. Ông chủ tịch chính là thức thứ sáu vậy.
III. Phương pháp quán
Sau khi chúng ta đã biết được rõ ràng phạm vi và công năng của mỗi giới trong mười tám giới, đến đây chúng ta có thể bắt đầu thực tập phương pháp quán. Pháp này gồm có hai phần:
1. Quán sát sự liên hệ giữa căn, trần và thức
Vẫn biết căn là nội sắc, trần là ngoại sắc, hai thứ riêng biệt nhau, nhưng chúng quan hệ nhau rất mật thiết. Căn là phần chủ động, có khả năng duyên được với trần, còn trần là phần bị động được duyên với căn. Nhờ có phù trần căn và tịnh sắc căn nên con người mới có thể nhận biết các cảnh vật xung quanh trong sự sống hằng ngày. Nếu không có căn dĩ nhiên không có thức, thì con người không phải là con người. Họ không thể sáng tác, xây dựng, cải cách, tiến hóa và thế giới này là thế giới chết, mờ mịt không có ý nghĩa. Nếu không có trần con người cũng không sống nổi. Ngoại cảnh là trường hoạt động của con người. Nó dạy khôn, dạy khéo cho con người trong cuộc sinh hoạt và làm cho

* Trang 42 *
device

con người có ý thức về cuộc sống của mình. Thức lại tác động vào căn và trần làm cho cuộc sống càng thêm tiến bộ, sung túc thịnh vượng. Ba thứ này ảnh hưởng lẫn nhau như cây quẹt, chất điện và đốm lữa. Sự liên quan này chứng minh một cách hùng hồn sự không độc lập của sắc pháp và tâm pháp, cả về phương diện cá thể lẫn phương diện tổng thể.
Mười tám giới này, như đoạn đầu đã nói gồm cả thế giới và nhân sinh, cả vật vô tình và vật hữu tình. Một khi chúng ta đã không tự lập thì trong vũ trụ này, không có một vật gì do chúng cấu tạo ra lại có thể biệt lập, thuần nhất được.
2. Quán sát sự giả dối của căn, trần và thức
Phần trên, chúng ta đã thấy cái ngã không thể do tổng hợp của căn, trần và thức mà có được một cách thuần nhất. Đến đây chúng ta sẽ đi sâu vào một tầng nữa, quán sát xem cái ngã có thể có trong một phần nào của căn, trần và thức không?
a. Sáu căn là ngã chăng? Trước tiên, chúng ta hãy xét bản chất của sáu căn là gì? Chính là những khối xương da máu thịt, hợp lại có trật tự, có tổ chức chứ không gì khác. Mà đã là thịt da xương máu thì không có gì bền bỉ, thuần nhất. Từ khi trắng răng đến thuở bạc đầu thử xem con người đã mấy lần thay đổi. Và sau một trăm năm, thử hỏi thể xác ấy còn lại gì ngoài “nắm cỏ khâu xanh rì”?

* Trang 43 *
device

Giả sử có một cái ngã ở sáu căn thì thử hỏi: Nếu cái ngã ở mắt thì năm căn kia không phải là ngã? Lần lượt xét cả sáu căn, chúng ta không thể nói được cái ngã ở phần nào trong sáu căn. Nếu cho rằng sáu căn đều là ngã, thì thành ra con người có sáu cái ngã, nói thế chắc không ai công nhận được. Còn nếu bảo rằng: do sáu căn hòa hợp mà có cái ngã thì trái với định nghĩa về ngã, là thuần nhất và bất biến. Vả lại, khi đã cho rằng, cái ngã do nhiều thứ hợp lại, thì cũng phải công nhận luôn rằng cái ngã ấy là không thật, là giả hợp. Do đó, Duy Thức học bảo “nhân vô ngã”.
b. Sáu trần là ngã chăng? Trần với căn không khác gì mấy, căn đã không tự tại trong cuộc sinh tồn thì trần làm sao đứng vững, còn mãi? Giả sử “ngã” nằm trong sắc thì trên thế giới này không có sự đổi trắng thay đen, như hoa nở rồi tàn, hết ngày rồi đến đêm, bãi bể biến thành nương dâu, cuộc thay đổi đã bày rành rành ra trước mắt.
Vậy ngã nằm trong thanh chăng? Cũng không có lý, thanh không bao giờ tự nhiên mà có. Nếu không do vật hữu hình tạo ra thì cũng do sự va chạm của vật vô hình tạo ra. Như thế, rõ ràng là một pháp hữu vi có tạo tác, mà đã là hữu vi thì thế nào cũng vô thường. Vả lại, vật sinh ra nó là sắc kia đã là vô ngã, vô thường thì nó không thể nào là ngã là thường được.

* Trang 44 *
device

Cho đến hương, vị, xúc, pháp đều là vô thường, vô ngã như sắc thanh cả. Chúng chỉ như là những làn gió thoáng qua, những màn sương phảng phất, đã vô hình lại bất định, nên sự vô ngã của chúng lại càng rõ rệt hơn sắc, thanh nhiều.
c. Sáu thức là ngã chăng? Như đoạn trên đã nói, thức là sự nhận biết do căn và trần đối nhau mà có. Điều ấy chứng minh rằng, thức không có thật, mà chỉ có được khi căn và trần đối nhau, nhưng nếu chia chẻ một cách rốt ráo theo Duy Thức học, thì thức sở dĩ có được là nhờ nhiều nhân duyên khác nữa. Chẳng hạn như nhãn thức sanh khởi được là nhờ chín duyên sau đây:
- Không: khoảng trống cách biệt giữa căn và cảnh.
- Minh: ánh sáng soi chiếu bởi mặt trời, trăng sao hay đèn đóm.
- Căn: là chỗ nương tựa của thức.
- Cảnh: các sự vật mà căn duyên được.
- Tác ý: sự mong muốn được thấy.
- Phân biệt y: chỗ nương tựa để phân biệt, tức là ý thức hay thức thứ sáu.
- Nhiễm tịnh y: là thức thứ bảy.
- Căn bản y: là thức thứ tám.
- Chủng tử: bản năng sẽ được phát sanh.

* Trang 45 *
device

Để có một ý niệm rõ ràng hơn về nhãn thức, xin giảng chín duyên trên như sau: Khi mắt ta thấy một vật gì, nó phải cách vật ấy một khoảng gần hay xa (không), khi thấy phải ban ngày, hay ban đêm có trăng, sao hoặc đèn (minh). Sự thấy ấy dĩ nhiên phải từ con mắt mà có (căn), và đồng thời phải có vật gì mới thành sự thấy (cảnh) và trước đó, ta đã có ý muốn ngó rồi (tác ý). Tác ý đây lại do ý thức đã khởi động trước (phân biệt y). Ý thức lại phải nương thức thứ bảy vì đây là căn của nó (nhiễm tịnh y), thức thứ bảy lại luôn chấp thức thứ tám làm ngã (căn bản y). Thức này lại là nơi dung chứa các thức (chủng tử). Chủng tử là cái nhân chính để có ra sự vật.
Xét từ trong ra ngoài, từ duyên đầu đến duyên cuối, nhãn thức đã không có mảy may gì là chân thật cả. Các thức khác như tỷ, thiệt, thân thức cũng như vậy cả, nhưng ít duyên hơn, như nhĩ thức chỉ có tám duyên (nghe không cần có ánh sáng). Còn tỷ, thiệt, thân thức thì chỉ bảy duyên (không cần ánh sáng và khoảng không). Ý thức thì chỉ có năm duyên là căn, cảnh, tác ý, căn bản y và chủng tử. Xem thế thì đủ biết sáu thức đều không thật, nghĩa là vô ngã như sáu căn và sáu trần.
Tóm lại, từ căn thân cho đến thế giới, đều không có thật, không thật ngã. Hành tướng do nhân duyên hòa hợp thì có, nhưng thật thể thì hoàn toàn không.

* Trang 46 *
device

IV. Hiệu quả của pháp quán giới phân biệt
Pháp quán giới phân biệt có công năng phá tan cái ngã không còn manh giáp. Cái ngã đã bị tấn công đủ mọi mặt, từ ngoài cho đến tận sào huyệt, và cuối cùng bị phân tán. Từ trước đến nay, cái ngã chấp sở dĩ hoành hành được là nhờ núp vào bóng tối của si mê. Từ nay, pháp Quán giới phân biệt như một ngọn đèn pha chiếu sáng cả vòm trời u tối, làm cho cái hình bóng giả dối là cái ngã cũng tan biến như mây khói. Ngã chấp đã không còn thì ngã ái, ngã mạn cũng không biết nương tựa vào đâu để tồn tại. Nói một cách khác phiền não, ác nghiệp, khổ đau do ngã mà sinh, nay ngã chấp đã bị diệt thì phiền não, khổ đau cũng sẽ hết. Phiền não khổ đau hết thì an vui, tự tại tức thời hiện ra. Đó là kết quả chắc thật đầu tiên của pháp quán giới phân biệt.
Rồi từ sự an vui, tự tại tương đối ấy, hành giả sẽ cố gắng tiến dần trên đường đạo. Càng tiến hành giả càng sáng suốt thêm, càng nhận rõ thêm chân lý. Hành giả sẽ dần dần chứng được quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Nhưng hành giả cũng không dừng lại ở các quả vị ấy. Hành giả không cố chấp ở các quả vị đã chứng được của mình, do đó sẽ được giải thoát được tam giới. Nếu hành giả cố gắng tu thêm, đến khi không còn chấp trước các pháp mình tu, mà chỉ xem nó như là ngón tay chỉ mặt trăng, như liều thuốc trị bệnh chỉ cần trong lúc đau. Nếu cố gắng tu

* Trang 47 *
device

được như thế thì hành giả sẽ đến được vô trí, vô đắc tức là chứng được đạo quả vô thượng Bồ-đề.
C. KẾT LUẬN
Chúng ta đã thấy rõ công năng và diệu dụng tốt đẹp của pháp Quán giới phân biệt. Nhưng thấy được đã là quý, mà làm được mới quý hơn. Trong đoạn trên chúng tôi đã hai ba lần nhấn mạnh ở những chữ “nếu cố gắng”. Thật thế, nếu không cố gắng thì đâu sẽ hoàn đó, và cái ngã mặc dầu giả dối vẫn còn tồn tại mãnh liệt và tác oai, tác quái như thường. Cái chấp ngã được tạo dựng và củng cố từ muôn ngàn kiếp, mỗi khi một ít  nhưng lâu ngày trở thành rắn chắc như những vỏ nghêu, vỏ ốc bám vào mõm đá. Ngày nay chúng ta may mắn được đức Bổn sư chỉ bày pháp Quán giới phân biệt, để cho chúng ta thấy rõ được cái giả tướng của nó. Nhưng đâu phải chỉ quán năm bảy lần hay vài ba chục lần mà thành tựu? Cái ngã được bồi đắp lâu đời lâu kiếp thì công phu tu luyện để phá trừ nó cũng cần phải có nhiều thời gian, qua nhiều giai đoạn. Lý trí có thể chấp nhận dễ dàng không có thật ngã, nhưng tình cảm đâu có thể  chấp nhận dễ dàng như thế? Từ trước đến nay ta đang tin tưởng quý chuộng, cưng dưỡng cái ngã, bỗng hôm nay có người bảo rằng nó không có, nó không thật thì thế nào tình cảm cũng nổi dậy phản đối bịt tai không muốn nghe, bịt mắt không muốn thấy. Ta phải cần nhiều kiên nhẫn lắm may ra mới thuyết phục được tình cảm. Nhưng trận giặc chiến đấu với cái ngã

* Trang 48 *
device

đến giai đoạn này đâu phải đã chấm dứt. Cái ngã chấp chưa đầu hàng thì lui vào sào huyệt sâu kín nhất, vào mật khu nguy hiểm nhất là tiềm thức hay nói theo danh từ Duy Thức học là thức thứ bảy. Sự chấp ngã ở đây có một hình thức toàn diện, vô cùng bén nhạy, như trong mật khu mà mỗi người dân từ trẻ đến già, từ đàn ông, đàn bà đến con nít đều là một chiến sĩ; và mỗi khoảng đất, mỗi lùm cây, mỗi cành lá là một cạm bẫy làm trở ngại rất lớn cho sự chiến đấu chống cái ngã. Sự chấp ngã của tiềm thức hay vô thức diễn ra trong mỗi cử chỉ, mỗi hành động, trong khi thức cũng như trong khi ngủ, trong khi lành mạnh cũng như trong khi mê sảng, trong khi sống cũng như trong khi chết. Lực lượng của địch mạnh mẽ và hùng hậu như thế đấy, nhưng “biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”.
Chúng ta không bao giờ được phép khinh địch, phải chuẩn bị đầy đủ trước khi chiến đấu, và trong khi chiến đấu phải quyết tâm kiên nhẫn. Với hai điều kiện căn bản ấy chắc chắn hành giả sẽ thành công trong cuộc chiến đấu, dẹp tan cái ngã là tên giặc nguy hiểm nhất trong mỗi chúng ta và cầm đầu các tên giặc khác là: tham, sân, si. Trừ được tên đầu đảng này là hành giả đã hoàn toàn thành công trong trận giặc chống phiền não, khổ đau và bắt đầu bước lên đài giải thoát.


 
***

* Trang 49 *
device

 
Phật học khái lược 2