LOGO VNBET


BỐ THÍ BA-LA-MẬT VÀ
TRÌ GIỚI BA-LA-MẬT
 
Điều kiện tiên quyết để thực hiện lý tưởng cao cả “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của Bồ-tát đạo là Lục độ Ba-la-mật. Ba-la-mật nguyên tiếng Phạn là Paramita. Người Trung Hoa dịch là “đáo bỉ ngạn”, theo nghĩa tiếng Việt là “đến bờ bên kia”. Với nghĩa này nên Lục Ba-la-mật còn gọi là Lục Độ. Đặc tính của Ba-la-mật là không nhuốm màu vị kỷ, không pha lẫn tà kiến và không ẩn ý ngã mạn, chỉ thuần tính “duy tha”. Ba-la-mật nhờ trí tuệ dẫn dắt và do lượng từ bi vun vén, đắp bồi. Vậy, lục Ba-la-mật là những gì? Đó là Bố thí Ba-la-mật, Trì giới Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật và Trí tuệ Ba-la-mật. Sáu pháp Ba-la-mật có công năng đưa hành giả thành tựu Phật quả qua quá trình tích cực giáo hóa chúng sanh.
Đặc trưng của Bồ-tát là đặt lợi tha trên tự lợi, lấy lợi tha làm tự lợi. Do đó, hạnh đầu tiên của Bồ-tát được đề cập đến là Bố thí và Trì giới Ba-la-mật.
A. BỐ THÍ BA-LA-MẬT
I. Giới Thiệu
Đức Bổn sư Thích-ca chúng ta đã trải qua vô số kiếp hành Bồ-tát đạo, cứu khổ chúng sanh chỉ vì lòng từ

* Trang 69 *
device

bi quảng đại. Trong quá trình hành Bồ-tát đạo, đại hạnh nổi bật nhất của Ngài là Bố thí. Chính đại hạnh bố thí này là thềm thang vững chắc đưa Ngài đến quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Là người Phật tử, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, chúng ta không thể không học hỏi và hành trì pháp Bố thí Ba-la-mật.
II. Nội Dung
1. Định nghĩa
Bố thí, tiếng Phạn là Danna, có nghĩa ban bố, trao tặng mọi sự cần thiết cho kẻ khác. Bố thí là một niềm hân hoan, một phước báu cho cả người dâng tặng lẫn người thọ lãnh. Bố thí có công năng tiêu trừ những tư tưởng ích kỷ, xấu xa và phát triển tư tưởng duy tha, trong sạch. Vậy Bố thí Ba-la-mật là một môn tu hành bằng phương pháp Bố thí, có công năng đưa người và mình từ bờ mê lầm của chúng sanh đến bờ giác ngộ của chư Phật.
2. Phân tích  
Bố thí Ba-la-mật gồm có 3 loại: Tài thí, pháp thí và Vô úy thí.
a. Tài thí
Tài thí nghĩa là đem vật chất thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác. Những tài sản ấy bao gồm

* Trang 70 *
device

tiền bạc, của cải, vật thực, vợ con… kể cả thân mạng mình. Tài thí được phân thành 2 loại:
- Nội tài: là những vật chí thân quý báu nhất của mình, như thân mạng, đời sống của mình. Thí nội tài ở đây tức là hy sinh thân mạng để cứu vớt kẻ khác ra khỏi nguy nan. Thí nội tài là một cử chỉ hy sinh cao cả, rất khó thực hiện, chỉ có ở những người có lòng từ bi quảng đại và đã thoát khỏi sự ràng buộc của ngã và ngã sở.
- Ngoại tài: là những vật thường dùng của mình như thức ăn, đồ mặc, tiền bạc, ruộng vườn, nhà cửa… Thí nội tài là phương pháp nuôi dưỡng lòng từ bi, đức Phật dạy cho hàng tại gia.
b. Pháp thí
Pháp thí là một loại bố thí phi vật chất. Nghĩa là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quý báu của đức Phật để chỉ bày khuyên bảo người khác, hoặc tự thân nghiêm trì giới luật để làm khuôn mẫu cho người khác bắt chước. Vật thí của loại bố thí này được tạo bởi trí tuệ và thái độ sống của người thí. Do đó, pháp thí có giá trị rất lớn so với tài thí. Tài thí chỉ giúp người nghèo khổ đỡ túng thiếu vật chất. Nhưng pháp thí có công năng giúp đỡ mọi người thoát khỏi nỗi khổ tinh thần. Một khi tinh thần được thanh thoát thì con

* Trang 71 *
device

người sẽ không có nỗi khổ về vật chất. Vậy, đối tượng để cứu khổ ban vui của tài thí hạn chế hơn pháp thí.
c. Vô úy thí
Vô úy thí là làm cho người khác vững tâm, không sợ sệt. Loại bố thí này cũng có 2 phần:
- Tiêu cực: không làm cho người khác phải sợ hãi vì mình.
- Tích cực: đem lại cho người khác sự gan dạ vững tâm để đối phó với những nguy nan, hoạn nạn đang xảy ra.
Quán sát một đời người, con người luôn bị cái sợ đoanh vây, từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay; sợ lạnh, sợ nóng, sợ la rầy, đánh đập, sợ đói ăn, thiếu mặt, sợ công bại danh hư, thất nghiệp, ốm đau, già cả, chết chóc… Hầu như cái sợ thương trú nơi tâm trí con người. Hơn ai hết với trí tuệ siêu việt, đức Phật chế ra loại bố thí vô úy này.
Muốn thực hành hạnh bố thí này trước hết chúng ta phải trau dồi đức hạnh, tôi luyện đức tính can đảm, bình tỉnh trước mọi đe dọa thử thách.
Trong thực tế, chính vì tâm lý ham sống sợ chết, mà con người bị giam hãm trong ngục tù sợ hãi và thậm chí có những người sẵn sàng làm điều ti tiện để cầu được sống, dù là kiếp sống nhục nhã. Là người Phật tử, chúng

* Trang 72 *
device

ta phải giải toả nổi sợ hãi cho người và cho mình bằng cách lấy gương vô úy đối trước vấn đề sanh tử luân hồi.
3. Bố thí đúng pháp
Tuy pháp tu bố thí được đức Phật chia chẻ ra ba loại: tài thí, pháp thí, vô úy thí rất dễ thực hành. Nhưng trong thực tế, người thực hành thì nhiều mà đúng nghĩa “bố thí Ba-la-mật” thì chẳng có mấy ai. Giá trị của việc bố thí không phụ thuộc vào vật thí, người được thí mà phụ thuộc hoàn toàn vào thái độ, tâm lý của người thí. Tâm lý và động cơ thúc đẩy chúng ta bố thí, tuy đa dạng nhưng không ngoài hai loại: bố thí chấp tướng và bố thí không chấp tướng.
a. Bố thí chấp tướng là bố thí với dụng tâm cầu danh lợi, mong được đền đáp hay được hưởng phước báo ở kiếp sau. Động cơ thúc đẩy loại bố thí này là vị kỷ. Phước đức của nó thuộc về hữu lậu, rất mong manh.
b. Bố thí không chấp tướng là bố thí xuất phát do tâm từ bi bình đẳng, chẳng thấy có kẻ lãnh thọ, không có quan niệm đến bố thí nhiều hay ít, chẳng thấy có phước đức hay có nhân duyên, hoàn toàn chỉ vì lợi ích cho chúng sanh mà hành tâm xả, không nghĩ đến mình chỉ nghĩ tới người khác. Đó gọi là bó thí Ba-la-mật thuộc về vô lậu thanh tịnh.
 

* Trang 73 *
device

Còn một chút ý niệm về cái tôi là còn bị vô minh che lấp, mất chân giá trị của việc bố thí, chưa ra khỏi vũng lầy chấp ngã, chấp pháp, do đó sự cứu giúp của mình kém phần công đức, không bằng sự cứu giúp của người tuyệt đối vô tư, đã lìa bỏ mọi chấp trước.
4. Công đức của bố thí
Bố thí là cái nhân lành của quả phước ở thế gian và xuất thế gian. Bất kể bố thí chấp tướng hay không chấp tướng, mọi hành động bố thí đều đem lại lợi lạc đến người cho lẫn người nhận.
a. Đối với người nhận: là phàm nhân không ai  là không khổ. Khổ về nghèo túng về vật chất hoặc tinh thần. dân gian có câu: “miếng khi đói bằng gói khi no” có gì sung sướng, may mắn bằng khi đói được ăn, khát được uống, lạnh được mặc, và khổ đau có người an ủi vỗ về! Nổi thương đau của nhân loại sẽ được thuyên giảm biết bao! Nếu người với người biết san sẻ bùi ngọt cho nhau. Bố thí là pháp hành đem lại an vui cho đời, cho xã hội và cho tự thân.
b. Đối với người cho: không những bố thí chỉ đem lại lợi lạc cho người nhận mà người cho cũng gặt được lợi ích bội phần. Kinh Tăng Chi Bộ II dạy: “Người bố thí được năm điều lợi ích: được nhiều người ái mộ, ưa thích; được

* Trang 74 *
device

bậc thiện nhân, chân nhân thân cận; tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, thiên giới; không sai lệch pháp của người gia chủ”.  Ngoài ra, còn nhiều lợi ích khác như: lòng hoan hỷ phát sinh và kéo dài trước khi cho, trong khi cho và sau khi cho; mau tiến tu, chiến thắng lòng tham lam, bỏn xẻn ích kỷ; trau dồi đức tánh lợi tha; bình tĩnh, bình đẳng; đoạn tận ngã chấp, ngã ái, ngã mạn.
B. TRÌ GIỚI BA-LA-MẬT
I. Giới Thiệu
Bất luận một cộng đồng nào trong xã hội, muốn được tồn tại lâu dài và hưng thịnh đều phải đề ra những nội quy, kỷ luật thích hợp với môi trường sống của cộng đồng ấy. Nội quy, kỷ luật có giá trị thực tiễn, có công dụng hay không là hoàn toàn thùy thuộc vào sự sáng suốt, kinh nghiệm của vị lãnh đạo.
Đức Bổn Sư Thích-ca là đấng Giáo chủ sáng lập Đạo Phật với mục đích dẫn dắt chúng sanh lên bờ giải thoát, Niết-bàn và cũng là bậc đã thực chứng giác ngộ giải thoát. Do đó, giới luật của đạo Phật có công năng, giá trị vô cùng quý báu đối với những ai muốn giải thoát sanh tử khổ đau. Để nhấn mạnh tầm quan trọng và lợi ích lớn lao của giới luật đối với sự nghiệp tu tập giải thoát, đức Phật đã nhiều lần nhắc nhủ hàng đệ tử: “Hãy

* Trang 75 *
device

lấy giới luật làm thầy” “Các vị Bồ-tát đều do trì giới thanh tịnh mà thành Chánh giác”. Tầm quan trọng của giới luật lớn lao như thế, là người Phật tử, chúng ta không thể không học hỏi, hành trì giới luật.
II. Nội Dung
1. Định nghĩa
Giới, tiếng Phạn là Sila, Trung Hoa gọi là thanh lương (mát mẻ). Trì giới là thực hiện giới luật không để vi phạm lỗi lầm, làm cho thân, khẩu, ý trong sáng thanh tịnh.
Luận Đại Thừa Khởi Tín viết: “Bồ-tát biết tánh Phật nơi mình không có phiền não, nhiễm ô, xa lìa các tội lỗi ngũ dục, nên tùy thuận theo Phật tánh, tu pháp trì giới Ba-la-mật”. Trì giới Ba-la-mật là giữ giới một cách rốt ráo, đầy đủ hoàn toàn trong mọi phương diện, chớ không hạn cuộc trong phạm vi nào. Trì giới Ba-la-mật là phương pháp đưa hành giả đến bờ giác ngộ. Trì giới Ba-la-mật chỉ cho tâm giới. Không những không sát, đạo, dâm, vọng mà tâm cũng không nghĩ tưởng đến điều đó, cho đến ý niệm về “mình đã đoạn tận được những điều đó” cũng không có, khi ấy mới gọi là trì giới Ba-la-mật.
2. Giải thích
Vì căn cơ chúng sanh bất đồng, duyên nghiệp khác biệt, do đó, đức Phật phải chế nhiều loại giới luật

* Trang 76 *
device

để đáp ứng sự tu tập cho mọi thành phần trong xã hội. Tuy nói nhiều nhưng tựu trung có 3 phần và 2 cấp.
a. Giới tại gia: là những giới dành cho Phật tử tại gia. Những người này đã quy y Tam Bảo và có thể phát nguyện thọ trì từ một đến năm giới, hoặc thọ trì tám giới trọn một ngày một đêm.
b. Giới xuất gia: gồm năm chúng Phật tử xuất gia. Mỗi chúng có mỗi phần giới riêng. Sa-di và Sa-di-niphải giữ 10 giới. Thức xoa ma na phải giữ 6 điều giới và 296 hạnh giới. Tỳ kheo phải giữ 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới.
Hai phần trên thuộc Tiểu Thừa.
c. Giới đạo tục thông hành: chính là Bồ-tát giới thuộc Đại Thừa. Bất kể Phật tử tại gia hay xuất gia, hễ phát tâm Bồ-đề, tu Bồ-tát hạnh đều phải thọ trì giới này. Nội dung Bồ-tát giới gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Đây chính là đối tượng cần phải văn-tư-tu đối với những người tu hạnh trì giới Ba-la-mật. Giới đầy đủ nhất của Bồ-tát là “Tam tu tịnh giới” (3 phần giới thanh tịnh):
- Nhiếp luật nghi giới: không phạm 58 giới, tức không làm điều ác nào.
 

* Trang 77 *
device

- Nhiếp thiện pháp giới: làm mọi điều lành lợi ích cho mình và người.
- Nhiêu ích hữu tình giới: là dùng tâm từ, bi, hỷ, xả làm mọi việc lợi ích cho tất cả chúng sanh, không bỏ sót một loài nào mà chẳng hóa độ. Giới này thuộc phần tích cực, phạm vi vô cùng lớn lao, bao trùm tất cả. Do đó, chỉ có hàng Đại Thừa Bồ-tát mới thọ trì được.
3. Trì giới đúng pháp
Cũng như bố thí, trì giới có 2 loại:
a. Trì giới chấp tướng: là sự trì giới chỉ chú trọng hình thức bên ngoài, còn bên trong thì rất nhiễm ô. Đó là lối trì giới để được tiếng khen hoặc bị miễn cưỡng ép buộc, thiếu thành thật và tự nguyện, đánh lừa mình và người, ngã mạn, tự cao khinh dễ người phạm giới… như thế chẳng lợi ích gì cho tự thân và tha nhân.
b. Trì giới không chấp tướng: là thực hành đúng những giới luật mà đức Phật đã định chế. Thực hành với tâm lượng từ bi, hỷ xả, hoàn toàn không vì danh lợi háo thắng hay vì hoàn cảnh ép buộc. Trong khi hành trì giới luật, hành giả không khởi niệm tự mãn, không nổi bực và không khinh dễ khi thấy người phạm giới, chỉ theo đức tánh thanh tịnh của tâm mà làm lợi

* Trang 78 *
device

ích cho tất cả chúng sanh. Luôn luôn xác nhận trì giới là bổn phận của người Phật tử và giữ giới một cách tự nhiên đến nỗi không thấy mình giữ giới, và những giới ấy thường hiện ra nơi tâm, ý, hành động, cử chỉ, lời nói của mình. Đó mới là trì giới Ba-la-mật. Trì giới Ba-la-mật là cái nhân đưa đến định và tuệ Ba-la-mật.
4. Công đức của trì giới
Giới luật của Phật giáo được thiết lập trên nền tảng từ bi và trí tuệ của đức Phật. Do đó, người Phật tử trì giới luôn đem lại lợi ích an lạc và giả thoát cho tự thân, tha nhân và những loài khác. Đối với xã hội, giữ giới có công năng điều hòa sinh hoạt tập thể, tạo lòng tin cho người khác và xây dựng nếp sống văn minh. Đối với sự giải thoát giác ngộ thì trì giới Ba-la-mật có công đức vô cùng lớn lao. So với bố thí Ba-la-mật thì công đức trì giới có phần trội hơn. Và có thể nói trong lúc trì giới, chính là lúc hành giả đang thực hành hạnh bố thí. Vì sao? Vì khi trì giới hành giả sẽ khởi niệm tùy hỷ công đức bố thí của tha nhân (tài thí), làm khuôn vàng thước ngọc cho chúng sanh noi theo (pháp thí) và đem đến sự vô úy cho mọi người (vô úy thí).
C. KẾT LUẬN
Qua nội dung Bố thí Ba-la-mật và Trì giới Ba-la-mật, chúng ta thấy hai pháp tu này có nét đặc trưng khác nhau nhưng nó dung nhiếp nhau. Nội dung chính của bố

* Trang 79 *
device

thí là cứu khổ ban vui, đặt nặng lợi tha và độ tha. Nhưng chính lúc lợi tha và độ tha thì tự thân đã được lợi ích bội phần. Bố thí xuất phát từ lòng Từ bi, đã sẵn lòng từ bi thì có việc ác nào dám làm và việc thiện nào bỏ qua. Cũng vậy, nội dung chính của trì giới là hộ trì sáu căn, đặt nặng tự lợi. Nhưng chính lúc tự lợi đã bao hàm lợi tha. Trong cuộc đời đầy dẫy đau khổ này, người thanh tịnh sáu căn là nơi quy ngưỡng, nơi nương tựa tinh thần cho bao tâm hồn tối tăm. Vậy bố thí và trì giới đều là những hạnh tu cần thiết cho những ai muốn đem lại hạnh phúc an lạc cho mình và cho người. Là Phật tử, nhất là những người đã phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát đạo thì không thể thiếu vắng hai hạnh này trong quá trình hành đạo giải thoát.

 
***

* Trang 80 *
device

 
Phật học khái lược 2