LOGO VNBET
PHÁP HOA VĂN CÚ KÝ
           QUYỂN 5
           (Phần Hạ)

 
Tiếp “Nhưng Chánh nhân này…”: dùng Chánh ấm nhập đối tu duyên liễu, tam nhân lục pháp bất tức bất ly. Nói “Chánh nhân…”: Là xen nhau nêu nhất biên. Lẽ ra nói: “ấm nhập” cùng “tánh chánh nhân” bất tức bất ly, lại cùng tu đắc duyên liễu bất tức bất ly, chánh nhân cùng với lý lục pháp cho nên bất ly, chỉ lý cho nên bất tức. “Duyên liễu” cùng “lục pháp” cũng lại như vậy.
Hỏi: Trong văn vì sao làm thuyết thiên lệch?
Đáp: Bởi vì dễ hiển bày. Chánh vốn bất ly nay thêm bất tức, duyên liễu bất tức nay thêm bất ly. Cho nên cần phải đều đầy đủ mới gọi là tận lý. Đây dùng thí dụ Sờ voi trong Đại kinh. Văn dụ đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển ba dẫn chứng:
Nói “lục (sáu) pháp”: là ngũ ấm và thần ngã, cho nên sáu thứ đây cũng gọi là “chánh nhân”. Đồng thuộc khổ, cho nên cũng gọi là “duyên liễu”, kiêm Hoặc nghiệp. Trong đây phải có thông biệt hai đối. Biệt đối: Trong sáu pháp thì Hành ấm và Thần ngã là Duyên nhân chủng, số còn lại và Sắc ấm là Liễu nhân chủng, Thức ấm là Chánh nhân chủng. Nếu thông đối thì đầy đủ như văn này. Sáu pháp tánh đức Chánh nhân cùng sáu pháp tu đắc Duyên liễu bất tức bất ly, cho nên tu sáu tánh sáu nhất thể không sai khác. Phải biết rằng: Ấm nhập chỉ là thường trụ. Nếu đem văn đây cùng trong Chỉ Quán đối thông biệt, thì kia đối với ba đức bốn đức của Đại kinh đều có ý kia. “Đạo tràng…”: Quả lý trước thành cho nên nói “cửu sướng” (từ lâu thông suốt). Lại, hướng về Tịch diệt đạo tràng hơn bốn mươi năm, gọi là “cửu sướng” (từ lâu vui thích thông suốt). “Vật tình chướng nặng”: Chỉ trừ Viên trong tam vị, ngoài ra đều là chướng nặng. “Vân vân”: Trải qua bộ, căn cứ vị, phân biệt vi tế. “Văn trên có bốn”: Chuẩn theo trên thì chỉ có ba: l. Ý xuất thế. 2.Khai quyền. 3. Hiển thật. Nay đã nói bốn thì phải biết văn trên cũng có thể chia làm bốn, nên nói ý thứ tư là: Tổng dùng Nhân nhất Lý nhất, kết ba

* Trang 788 *
device

 đời ở trên, có thể không như trên. Lý hợp văn biệt cho nên nay nói bốn. Lại có hai thứ không đồng: l. Trên thì trước khai quyền tiếp hiển thật, nay thì trước hiển thật tiếp khai quyền. 2.Văn trên trong Thật chỉ có Giáo Hạnh, nay đây thì Lý Giáo hoặc là Lý Hành. Không đồng không ngại nên không nói riêng.
“Chỉ thượng bản hạ”: Văn phẩm Thí Dụ dưới dùng đây làm bản, thí dụ ắt có pháp cho nên gọi là “bản hạ”. “Văn nghĩa giao gia”: Trong đây chỉ dưới đến dưới chỉ đây, cho nên nói “tầm sớ…”. Chương An dự điểm khiến không mê loạn, mê loạn tại người độn lợi, vì sao lo buồn? Nhưng các sư phân thí dụ cùng pháp xen lẫn đời trước lẫn lộn ngăn cách muốn làm thí bản chấp định chẳng theo, cho nên trước trình bày “phi”, sau mới chánh giải thích. Đầu tiên sư nêu năm thí dụ: l. Thí dụ Trưởng giả tức văn “quốc ấp…”. Pháp thuyết tức chỉ văn “Nay ta cũng như vậy…”. Thí dụ Tư duy cứu giúp, tức văn: “Trưởng giả suy nghĩ rằng…”. Pháp thuyết tức chỉ văn: “Ta dùng Phật nhãn xem thấy…” 3. Thí dụ Quyền dẫn, tức văn: “Bây giờ Trưởng giả liền suy nghĩ rằng…”. Pháp thuyết tức chỉ văn: “Ta xưa ngồi đạo tràng…”. 4. Thí dụ Bình đẳng, tức văn: “Bấy giờ Trưởng giả đồng ban cho xe…”. Pháp thuyết tức chỉ văn: “Ta thấy các Phật tử chí cầu….”. 5. Thí dụ Bất hư, tức văn: “Xá-lợi-phất! Ý ông…”. Pháp thuyết tức chỉ văn: “Các ông chớ có nghi…”.
Nếu đối nay, thì Thí dụ thứ nhất là tổng dụ, tổng dụ có sáu: l) Lẽ nào chỉ một Trưởng giả cho nên không dùng. Thí dụ thứ hai: “Tư duy cứu giúp”, đối nay là cứu con không được, chỉ là trong Biệt thí dụ dùng lại dự định thích nghi thí dụ đó thôi! Cho nên biết rằng: chỉ nói tư duy cứu giúp thì lý đó không trọn cho nên dùng lại cứu con, trong đó có ba: Dự định thích nghi, không có căn cơ, thôi hóa độ. Không nên chỉ riêng nói tư duy cứu giúp. Thí dụ thứ ba trở đi, thì nay là từ “Ta dùng” trở đi ở trong Biệt thí chia làm sáu ý, kia chỉ có ba. Thí bản không đủ cho nên cũng không dùng. Dao sư dùng trọn chương Ngũ Phật dùng để hiển Thật. Nói “bốn chương”: Hợp chương đầu ở trong chương Thích-ca, mà dùng Quyền Thật hợp làm một chương. Dùng chương Ngũ trược làm Bất đắc thuyết nhất, lại dùng văn “đốc thúc” làm Bất đắc đều không đúng văn, cho nên không dùng. Mà nói trong thí dụ chỉ có ba thì thiếu Thí dụ thứ ba: Ý bất đắc do trong thí dụ không có văn đây, cho nên gộp chung thì không đồng nhất. Trong văn liệt kê ra bèn dùng khai quyền làm Thí dụ thứ nhất. Khai quyền tức hiển thật, nên đối với Thí dụ thứ hai Đồng ban xe lớn. Đây thì Thí bản và Thí rất là sơ lược. Nhưng trong trường hàng chương môn Ngũ Phật chư Phật, còn tổng quát lại thiếu

* Trang 789 *
device

Ngũ trược. Ba Đức Phật căn cứ theo lệ văn kia lại lược. Đức Thích-ca hóa chủ văn tướng ít tùy thuận cho nên chỉ chọn Thích-ca chia làm bốn chương. Ngài Dao sư thì phí phạm nên không dùng. Tiếp, đến hai ngài Long sư và Sướng sư đều lập thành sáu dụ, theo cách nói tựa như sai khác mà ý kia không khác. Hai sư đều không lập Tổng thí, không thể dùng đối với phương tiện lược tụng, ở trong Biệt thí văn rộng tụng lược, sáu nghĩa trong đó vẫn trước chia làm bốn, các phần nhỏ lại nhiều. Cho nên biết hai sư đều cùng phẩm thí dụ, nghĩa không tương đương, bởi vì thí dụ ba, thứ tư chỉ là nay thí dụ thứ hai “Nghĩ Đại thiết lập Tiểu”.
Lại, văn “Bất hư” hợp tán thán pháp hy hữu mà không thuật ý kia, cho nên không dùng. Tiếp đến ngài Quang Trạch phân làm mười thí dụ nói: Đầu lập tổng thí cùng nay văn đồng, chỉ chín thí dụ dưới đối với nay tức là rộng tụng sáu nghĩa, nếu đối với văn đây thì chín thí dụ dưới chỉ nên hợp làm bốn. Trong đó Thí dụ thứ hai có bốn hàng là nghĩa nay “Thấy lửa”. Tiếp, “Ta xưa…” là thứ ba có sáu hàng rưỡi, và thứ tư có mười một hàng nêu Tam thừa hóa đắc, là nay ý “nghĩ Đại thiết lập Tiểu”. Tiếp, “Ta thấy…” là thứ năm… tổng có năm văn sáu hàng là nay ý “hiển Thật”. Tiếp, “Các ông…” là thứ mười, một văn là nay văn “Bất hư”. Các nhà chú giải nay phân nhỏ hơi giống ngài Quang Trạch, nhưng cùng “Tín giải đời trước” không đồng, cho nên không chia nhỏ. “Có người…”: đây là người khác đem nghĩa nay nhưng lẫn lộn với Quang Trạch, cho nên đem ý đây để nạn vấn Quang Trạch. Cùng là chia nhỏ tại sao không làm mười chín câu, dùng mười dụ của Quang Trạch đối nay tổng sáu biệt bốn, tổng biệt đều khai hợp có mười tám câu, thêm một câu Quang Trạch thành mười chín câu? Vì sao Quang Trạch dụ thứ nhất tức nay Tổng thí, lẽ ra chia làm sáu, Quang Trạch chỉ hợp làm một? Dụ thứ hai “Thấy lửa…”, nay trong biệt chia làm bốn thí, Quang Trạch lại chia làm chín? Một thấy lửa nay chia làm ba, Quang Trạch chỉ một. Dụ thứ ba: “Ta xưa…” tức nay văn biệt chia làm bốn trong đó dụ thứ hai Nghĩ đại cho Tiểu, Quang Trạch chia làm hai văn. Quang Trạch dụ thứ năm… đến thứ chín tổng năm đoạn văn nay hợp làm một dụ Đồng ban xe lớn, tức thí dụ thứ ba trong bốn biệt thí. Cho nên Quang Trạch dụ thứ năm: “Ta thấy các Phật tử” và thứ sáu đều dùng hai văn. “Đem tâm cung kính”, tức nay văn thí dụ thứ ba Đồng ban xe lớn trong bốn biệt thí: chia làm bốn văn, trong đó tức văn đầu trên. Thứ bảy “Ta liền…” tức nay văn trong bốn biệt thí, văn thứ hai trong văn thứ ba, tư. Thứ tám: “Ở trong các Bồ-tát…” tức nay văn thứ ba trong văn thứ ba, tư của phần bốn biệt thí. Thứ chín “Bồ-tát nghe…” tức nay văn thứ

* Trang 790 *
device

 tư trong văn thứ ba, tư của phần bốn biệt thí. Thứ mười “Bất hư” tức nay một văn thứ tư trong bốn biệt thí, lại chia làm ba: Nghĩa là tán pháp hy hữu và bản bất hư cho đến lập văn đốc thúc tin. Đây chính là trong Biệt chia thành mười hai. Ngài Quang Trạch lại chia trong bốn biệt thí của văn nay trong văn thứ ba thứ tư, đầu văn là Thoát nạn, xin xe hai văn, nay đã quá chi tiết chỉ làm mười tám câu. Nếu dụ thứ sáu trong mười hai biệt lại chia làm hai thì có bốn lỗi bởi do đây. Đã chia làm hai thì thành mười ba và trong tổng sáu hợp thành mười chín, tại sao không gọi là mười chín câu ư? Nay tuy mười tám không gọi là mười tám câu, là vì Pháp, Thí đời trước tín giải không có nghĩa đây. Muốn khiến thông có lại hợp làm năm hoặc tổng biệt hai, chương đoạn đã ít trên dưới dễ đồng. Cho nên, trong văn nay có ba loại phân văn: Quang Trạch định làm mười không có thừa thiếu, tiến không thành mười chín, thoái không thành năm, tổng biệt rộng lược lại không tương đương, huống chi khai đại căn cơ lấy làm hai đoạn. Trong pháp có trở ngại nên không hợp khai. Nhưng đối với các sư thì Quang Trạch là hơn hết. Hoặc dùng đến trong sáu nghĩa, hoặc lập sáu nghĩa này tức thu nhiếp mười chín vào trong sáu nghĩa đây, vì sao không chỉ nói làm sáu nghĩa ư? Vì sao? Vì dựa vào sáu của tổng trước chấp nhận hợp làm một, trong bốn biệt chỉ tách thứ hai làm hai đoạn, tức làm năm chương, đối với một tổng trước tức thành sáu nghĩa. Nếu hoàn toàn y văn đây thì chỉ thành năm nghĩa. Người khác lại dựa vào sáu nghĩa làm lời vấn nan. “Lại, mười dụ đến nỗi so le (không đều)…”: là khai làm mười thí dụ, pháp thí hai xứ còn tự so le huống chi cùng văn Tín giải v.v… hợp ư? Cho nên “Pháp thuyết…” nêu tướng không đều (so le). Lại, Quang Trạch câu số cùng nay chia nhỏ tựa như đồng, mà chương mục chưa ổn cho nên cũng không dùng.
Dưới kết nói bốn lỗi: l. Trước sau. 2.Đại tiểu. 3.Có không. 4.Dẫn văn. Nay đầu tiên lỗi trước sau không đồng: Nếu nay trong phân biệt chia nhỏ, nghĩa thứ năm tách làm năm, sáu và văn thứ bảy làm cha vui mừng thì đối với Pháp thuyết Đòi xe, cha vui mừng trước sau, xen lẫn trở về. Nói trong Pháp thuyết Đòi xe ở trước: Trước nói: “Xá-lợi-phất nên biết ta thấy Phật tử… đến cầu Phật đạo…” hai hàng tức xin xe ở trước, tức Quang Trạch là văn thứ sáu. Tiếp một câu cuối cùng trong hai hàng một câu, mới nói “nay vui mừng”, không sợ, tức cha vui mừng ở sau. Trong thí thuyết cha vui ở trước: Trước nói: “Bấy giờ Trưởng giả thấy các con an ổn được ra khỏi nhà lửa…”. Xin xe ở sau…: Tiếp văn mới nói: “Bấy giờ các con đồng thưa với cha rằng…” Nếu trong mười thí dụ của Quang Trạch hợp ở hai đoạn năm, sáu đồng làm căn bản một dụ

* Trang 791 *
device

Xin xe và căn bản dụ Thoát nạn thì không thể nói căn bản dụ Vui mừng tức không có lỗi đây. Nói tuy muốn hợp thông mà ví như nói quanh co để thông nói “do vui nên xin, do xin nên vui”, cũng chưa tiện ổn, cho nên nói “gọi là quanh co”. “Lại, Đại tiểu…”: ở trong Đại tiểu lại làm ba lỗi. Nói trong Pháp thuyết Đại căn cơ động: Tức Đại tiểu không đối. “Nay ta vui vô úy” lại tiến dùng câu dưới nói: “Ở trong các Bồ-tát”. Cho nên biết đây là thấy Đại căn cơ động cho nên vui. Nếu nói: “Thấy các con được an ổn được ra khỏi nhà,” cho nên biết đó là thấy tiểu căn cơ thoát nạn nhà lửa cho nên vui. Tiếp, Nhân quả không đối: Trong Pháp thuyết ý nói: “do xưa không tin,” cho nên nói: “Xá-lợi-phật nên biết cho đến nay ta vui vô úy,” nên biết là nhân Đại thừa.
Trong Thí nói thấy các con được ra khỏi nhà lửa, cho nên biết là quả Tiểu thừa. Trong Pháp thuyết đại chướng sắp nghiêng, vậy sau liền nói: “Bồ-tát nghe pháp ấy thì lưới nghi liền trừ,… trừ không xa”. Trong Thí thuyết nói: “an ổn được ra”. Cho nên nói Tiểu quả có ba lỗi đây, lỗi do Quang Trạch dùng văn thứ năm, sáu, bảy, cho nên làm căn bản thí dụ chưa gọi là tiện ổn. Nói “Lại có không khác”: là phá trong mười dụ kia thì thứ sáu là căn bản của thí dụ Đòi xe, trong văn Pháp thuyết không nói Đòi xe, đến trong Thí thuyết vì: “căn chẳng lợi” do đó mới có, cho nên không được dùng làm căn bản của thí dụ Đòi xe, huống chi Pháp thuyết trong đó chỉ nói: “Ta thấy các Phật tử… chí cầu Phật đạo”, chẳng liên quan đến nhị thừa đòi xe Tiểu thừa. Lỗi thứ tư: “Nếu dẫn…”: gọi là lỗi dẫn văn. Lẽ nào được lạm dụng văn nói “lai chí” liền làm căn bản thí dụ Tiểu thừa Đòi xe. Đây theo hợp trách làm bốn biệt thí, cho nên biệt thí với văn thứ ba hợp làm một văn đồng ban cho xe. Dù cho chia đây làm bốn, thì: l. Gọi là Đại thừa cơ động làm bản thí dụ Đòi xe sau chỉ không được nói Đòi xe nhỏ (Tiểu), cho nên trước căn cứ Đại tiểu, trong đó phá nói: “thí thuyết trình bày tiểu quả”, chỉ nói trình bày Tiểu mà tình thì cầu nơi Đại, tức gọi là “cơ động”, cho nên nói “sai khác không thấu hiểu ý văn”. Cho nên biết văn kia tự nó là đại cơ sắp động. “Nhưng có, không…”: văn nay tự biện rõ đồng khác có sáu. Đầu tiên trong “có, không”: nói “trường hàng có chân ngụy” tức là văn giản ngụy đốc thúc tin. Nói “trong kệ thì không”: Đây là hoàn toàn thuận xưa dùng bảy hàng kệ cuối làm pháp thuyết lưu thông. Nếu dựa vào ý này lấy bảy hàng đây làm văn đốc thúc tin, thì thiếu một ý “có, không” này. “Trong tụng có tán pháp”: Từ “Chư Phật hưng xuất…” là văn bốn nạn, trong trường hàng hoàn toàn không có. “Theo thứ lớp, phần trường hàng trước khai tam sau hiển nhất”: trong trường hàng đầu tiên nói: “Xá-lợi-phất.

* Trang 792 *
device

Ta nay cũng lại như vậy, biết các chúng sinh có các món dục…”. Lẽ nào chẳng phải thiết lập Tam?
Tiếp, văn nói: “Như thế đều vì đắc nhất Phật thừa”, tức hiển nhất. Trong tụng, đầu tiên là tổng tụng hai hàng, thì hàng đầu hiển Thật, hàng sau thiết lập Quyền. Cho nên trước nói: “an ổn và chỉ bày (thị) Phật đạo”. Tiếp, văn mới nói: “Ta dùng  sức trí tuệ biết chúng sinh tánh dục”. Nếu chấp văn Biệt thí thì trước tiên trong Ngũ trược lại chia làm ba: Mắt năng thấy cũng nên hiển Thật. Tiếp, lửa được thấy và nghĩ Đại thiết lập Tiểu đều thuộc Quyền. Nếu luận đại ý của Biệt thí, thì cũng là trước quyền sau thật. Nếu lấy tổng tụng, thì hàng trước hiển Thật hàng sau thiết lập Quyền. Trong “Khai hợp”, nói: “Đầu tiên hợp mà không khai”: là “Nếu được…” hai kệ chỉ là vì tổng thí mà làm căn bản, nên nói hợp mà không khai. Nếu dùng hai kệ tách làm sáu thì tổng cũng có biệt, vả lại từ hợp thuyết, cho nên đối với thí dụ dưới cũng lại phân. “Văn Ngũ trược tách làm bốn căn bản thí dụ”: E rằng văn lầm, lẽ ra nói ba căn bản thí dụ tức trong bốn Biệt thí thì văn đầu lại làm ba: tức là Năng kiến, Sở kiến, Kinh sợ vào. Đối văn thí dụ dưới vẫn có bốn. Kia dùng Thí dụ thứ tư rộng nêu thấy lửa, hợp tại văn thứ hai, cho nên biết chỉ có ba.
Tiếp, trong phần “Nêu Thủ xả” nói “Bốn đoạn kinh văn chia làm sáu thí bản”: “Bốn đoạn”: là Biệt bốn. “Sáu thí”: Chia Ngũ trược làm ba và ba đoạn dưới tức là sáu. “Tán pháp chẳng phải căn bản của sáu thí dụ”: ở trong bốn biệt, tách đoạn thứ tư nêu tán thán pháp, đốc thúc tin, chẳng phải căn bản sáu thí dụ dưới. Tiếp, trong phần “Tổng biệt, đầu tiên khai tam hiển nhất”: tức hai hàng đầu tổng tụng. “Bản tích”: Lại căn cứ tích luận bản tích, tức pháp thân là Bản, khởi ứng là Tích. Tức đây chương đầu chia làm ba ý: Nhãn năng kiến là Bản. Thứ ba đại bi là Tích. Thứ hai sở kiến chấp là nguyên do chư Phật thùy tích. “Vân vân”: là cần rộng căn cứ tích bản, lâu mau, xưa nay, thể dụng… để phân biệt đồng khác, đầy đủ như trong Huyền Văn quyển sáu. Lần nữa bản tích và trong Tựa trước đã lược xem xong. “Nay nói…”: là chính nêu nghĩa tông, tông chỉ biệt, cho nên nói “chính là…”. Trước trực “Pháp thuyết…” là muốn phá các sư lập thí dụ không thể tận lý. Cho nên, trước đưa ra tam chu lý đồng, tiếp đến “Nếu làm…” là biện rõ lỗi xưa thí, nên nói nếu làm ba, sáu, mười thí dụ thì đối tam chu văn không hợp. Như trước đã nêu ngài Dao sư làm ba dụ, ngài Sướng sư và Long sư đều có sáu, Quang Trạch có mười. Nhưng nay văn chẳng phải không lập nơi các số ba, sáu mà chỉ vì phân tiết dư thiếu cùng chỗ khác không đồng.

* Trang 793 *
device

Nói “đối tam chu thì văn không hợp”: Pháp thí không hợp đã lược như trên. Đối với văn nói “đời trước” thì chỉ có thể chia làm hai thí ba thí, cho nên phân nhiều thì không thể. Nói “Bốn người tín giải trái ly”: Nếu đối tín giải chỉ có thể tổng sáu, biệt bốn, nếu đối tha năm, ba, sáu và nay mười tám thì trái trương ly phân, đầy đủ như trước phá mười thí dụ của Quang Trạch, cho nên phá xưa đã tự lập ba… Nay lập ba, như văn dưới nói, lại nhất thời ba thí, hoặc là năm như tổng một biệt bốn. Hoặc là sáu, như tổng biệt đều sáu. Hoặc là mười, tức tổng sáu biệt bốn. Cũng có thể là mười một, tức tổng một biệt mười. Cũng có thể là mười sáu, tức tổng sáu biệt mười. Cũng có thể là mười tám, như mười tám câu trước. Chỉ bản dưới theo trên thì không tương ưng. Nếu muốn thông trên dưới không sai thì chỉ y ba tiết mà giải thích văn. Nếu ứng bốn xứ (chỗ) thì chỉ là ba thí bốn thí. Nếu chỉ tại pháp thí thì lược sáu rộng sáu. “An ổn… trụ xứ”: Đức Phật vì đã chứng cũng khiến chúng sinh trụ nơi xứ này, mà nay chúng sinh còn trụ trong tam giới là xứ không an ổn, tâm Phật đại bi đến nỗi khiến kinh sợ mà vào. Nói “Chủng chủng pháp môn tức đối bất chủng chủng”: là cũng là từ bản ý Phật để nói. Như Lai vốn dùng một môn lợi vật sự không thâu hoạch, thiết lập chủng chủng môn mà ý thiết lập Quyền vốn tại hiển Thật, cho nên nói “tuyên thị (bày) Phật đạo”. Phật đạo chỉ có Thật, dùng Quyền đối Thật, dẫn Quyền nhập Thật cho nên nói “tương đối”. Tương đối chỉ là ý cảm ứng thôi!
“Bản mạt tương thừa (nối nhau)…”: Bản pháp thuyết, mạt thí dụ… “Vân vân”: như dưới dẫn. Nói “Trong rộng tụng sáu nghĩa trên chia làm bốn”: Nếu đối bốn biệt, thì cái thứ tư phân làm ba gọi là “sáu nghĩa”. Nếu cái thứ tư làm một, thứ nhất làm ba thì chỉ gọi là “sáu thí”. Nếu nói sáu nghĩa thì không ứng với văn thí dụ, chỉ có thể tụng trên, cho nên chỉ nói sáu nghĩa. Nếu làm căn bản thí dụ thì hợp bốn, năm, sáu, chỉ làm một Bất hư. Trong đây có đốc thúc tín, đốc thúc tin tức giản lược ngụy, cho nên biết văn trên không được nói không. Vậy thì biệt sáu rộng nơi tổng sáu. Cho nên, nay chỉ hợp sáu nghĩa làm bốn. “Nếu lại chia nhỏ khai”, hoặc muốn lại phân chia nữa thì như trước trong biệt chia làm mười hai câu, vì đối các văn trên rộng cho nên khai, vì đối các văn dưới lược cho nên hợp. Xưa dùng bảy hàng cuối cùng làm pháp thuyết lưu thông, nay văn không dùng. Nếu đối với thí dụ và văn nói “nhân duyên đời trước” về sau, thì tuy giống như lưu thông mà chẳng phải lưu thông, do đó người thấy nói đời sau thì cho rằng giống lưu thông. Cho nên xưa theo lệ đó lấy làm đắc ý; văn ý không như vậy. Cuối phẩm Thí Dụ, chỉ vì Thân-tử làm tam chu thỉnh Hóa chủ, tự mình đã đắc ngộ, lại vì hàng

* Trang 794 *
device

trung căn mà lần nữa lại thỉnh thuyết thí dụ. Đã đáp thỉnh rồi cho nên dùng pháp này mà lược giao phó. Luận cho cùng thì chỉ là chỉ cho kia tội phước của tin và hủy báng. Nếu vậy, thì tại sao không đợi sau chu thứ ba, một lúc giao phó? Sau thí dụ đã giao phó pháp thuyết trước, sau vì sao không giao phó? Đáp: Đến cuối tam chu thì tự có lưu thông rộng giao phó cả Bồ-tát, đâu riêng gì Thân-tử. Như trong văn dưới: Còn không thiên vị giao phó cho Bồ-tát phương khác, đâu riêng gì Thân-tử. Cuối chu Pháp thuyết Thân-tử lãnh giải đầu tiên, tự tu hạnh mới thành chưa Thích nghi lợi vật. Song, ý chỉ Đại thừa tại Phật không cần phải khổ nhọc luận! Dùng tụng tán pháp, đốc thúc tin: Nhưng trong văn trên liệu giản “có, không” nói “trong tụng không có chân ngụy” tức không có đốc thúc tin. Nay trong đây dùng tụng tán pháp, đốc thúc tin, tức chỉ là cách chung khuyên phàm phu khiến họ sinh lòng tin, cho nên nói tán pháp khuyên tin. Do không nói “chuyên đốc thúc Thanh-văn” cho nên trước nói “không”.
“Nay chỉ tụng Số, Danh, Thể ba thứ”. Trong đây từ “Lục đạo” trở đi là tụng Ngũ trược bên trên, đây năm tức số, sáu ắt năm. Đây “bần cùng…” tức xuất thể, do năm pháp đây tức gọi là “trược”,  cũng không có biệt danh. “Nêu dưới chứng trên….”: Đây dẫn văn “Trưởng giả ở ngoài cửa”, “vào” tức khởi ứng thân, “ngoài” tức Pháp thân. Lại nói Phật nhãn cho nên sở kiến căn cơ tức Phật pháp giới. “Nếu căn…”: tư duy không có căn cơ Đại thừa, mới nhập Lộc uyển. Bắt đầu Lộc uyển đã nói Viên chiếu cho đến Nhất thừa, cho nên biết Hoa Nghiêm, Phật tuệ không khác biệt, không thể ở đây gượng sinh phân biệt. Trong cụm từ “đều gọi là Phật nhãn vân vân” thì “vân vân” là: lẽ ra rộng phân biệt đây là năm nhãn thứ lớp và không thứ lớp mà biện rõ thể dụng. Cho nên, quán sắc v.v… dùng bốn nhãn, từ bản đặt tên vẫn gọi là Phật nhãn. “Bần cùng…”: là Chúng sinh trược. “Bần” là do không phước, “si” là do không tuệ, si bần chúng sinh tụ tại một chỗ cho nên gọi là “trược”. “Nhập sinh tử” là Mạng trược: Ở trong sinh tử lại thêm đường hiểm, trong đường hiểm thì mạng dễ bị đoạn, tức ở chỗ thọ mạng ngắn mà còn tương tục, là Mạng trược. “Ngũ dục” là Phiền não trược. Danh thể tối hiển. “Không cầu Đại thế Phật…” là Kiếp trược: Trong kiếp không có Phật cho nên gọi là “trược”. Bốn trược sinh đây cũng không sở cầu. Kiếp nếu có Phật thì tuy trược mà có thể phá. “Nhập tà” là Kiến trược, danh thể cũng hiển. Sáu mươi hai kiến, nhiều nên gọi là “các”. “Hoặc nói các kiến tức là thọ”: do kiến đây cho nên có ba thọ, thọ các kiến này nên nói kiến tức là thọ, ba thọ đều là khổ. Lấy khổ thọ đây muốn xả khổ

* Trang 795 *
device

 thì không có việc ấy. “Nguyên lai của ngũ đạo”: là nhân trong ngũ đạo. Từ một đến một cho nên gọi là “thú” (hướng đến). “Suy” chỉ là tặc năng hao tổn. “Luận Tỳ-đàm nói: địa ngục sơ sinh niệm”: là lúc sơ sinh của tất cả các địa ngục đều có ba niệm, biết nơi đây là địa ngục, do nhân kia cho nên sinh từ nơi kia đến. Văn đây tựa như không đủ nghĩa mà đã đủ ba. “Lại nói”: cũng là văn của luận Bà-sa. “Ngũ đạo đều có tự pháp như vậy”: đầy đủ như trước trong phần giải thích Bất tư  nghì. “Giải thoát đạt phần”: Niết-bàn gọi là “giải thoát”, sở tu thiện căn không trụ sinh tử gọi là “đạt”. Phần giải thoát của Thanh văn tam sinh, Bích-chi-phật trăm kiếp, gọi là “giải thoát phần”. “Đắc chánh quyết định”: là sơ quả. Luận Bà-sa nói: Thế nào là đắc thiền tức căn bản thiền? Vì sao quyết định tức là vô lậu? Dùng tâm vô lậu tu các thiền định, đắc nhập sơ quả tức thiền định đây mà được giải thoát, giải thoát là sơ quả tức quyết định. “Trong cõi trời” cho đến “cần dùng liền được v.v…”: lẽ ra nói chư thiên tự nhiên báo tướng, hết thảy y báo đều là biến hóa mà có, và sơn hà lưu xuất thật báo kia đắc. Căn cứ thời thọ báo gọi là “tự nhiên”. “Địa ngục” cho đến “trung gian có thể biết”: là trong loài người ở quá khứ có thuận hậu nghiệp, nghiệp kia chưa mãn, đến trong địa ngục, gặp duyên năng khởi các tâm như vậy, nghiệp liền thành tựu. Ở trong địa ngục không có thân khẩu hiện hành, chỉ tại khinh báo, chẳng phải vô gián. Rộng phân biệt có thể biết, cho nên nay không luận.
“Trung ấm treo lộn ngược”: Luận Câu-xá nói: Thiên đạo thì trung ấm đầu hướng lên, ba đạo kia thì nằm ngang, địa ngục thì quay xuống dưới. Đây căn cứ loài người thì Trời ở trên người. Bàng sinh và quỷ cùng ở châu này, cho nên không phải lên, xuống. Ngục tại dưới châu này, cho nên nói đầu quay xuống. Từ địa ngục đến sinh trong loài người, thì lý hợp đầu hướng lên; quỉ, súc  sinh cũng như vậy. Từ cõi trời đến sinh trong loài người thì đầu kia ắt quay xuống. Các nơi khác đều theo lệ đây. “Ban đầu đem tội nhân đến chỗ Diêm vương…”: Hữu tình, phi tình đều bị cộng nghiệp chiêu cảm mà làm tâm biến đổi. “Ban đầu đều là chánh ngữ…”: Đầu tiên đến địa ngục như ngôn ngữ vốn có; sau thì chỉ là các tiếng ba ba (sóng âm) không còn có thể rõ. “Thời kiếp sơ…”: Trong các giáo tướng thì súc sinh có thể nói, đều là thời này. “Hậu sinh nói Tổ phụ” là theo ban đầu mà đặt tên. Thứ hai, hậu sinh cũng là tổ phụ của hậu sinh. “Trước là nhân duyên…”: Từ dẫn “kinh A-hàm” trở xuống tức giải thích theo Quán tâm. Trong nhân duyên trước cũng đầy đủ ý tứ Tất-đàn: Ngũ đạo không đồng tức Thế giới Tất-đàn. Nhân (người) là sở vi , tức Vị nhân Tất-đàn. Ác là sở phá, tức Đối trị Tất-đàn.

* Trang 796 *
device

Thiên là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. “Hậu tợ quán tâm”: Từ tâm phân biệt nghĩa, nghĩa đương quán tâm. Lục đạo không đồng, lược như trong Chỉ Quán quyển hai nói. Các luận và các kinh Tiểu thừa phân biệt rất rộng, không cần thì không liệt kê.
“Ta xưa ngồi đạo tràng…”: Căn cứ dưới dẫn ý Tiểu Vân sớ chỉ Hoa Nghiêm. Cho nên Địa luận nói: Sau khi Đức Phật thành đạo tuần thú hai nói kinh Hoa Nghiêm. Người đời giảng nói thì trách kinh Pháp Hoa ứng lời Phật dạy. Hoặc trách Địa luận lỗi nơi Viên tông. Nay hỏi: Tuần thứ hai nói kinh Hoa Nghiêm như trên dẫn và ba tuần trong kinh Pháp Hoa có gì sai biệt? Dù dài ngắn không đồng và sở thuyết đều khác, chỉ là cơ biệt hiển mật có khác. Thời thuyết đã vậy thân tướng cũng thế. Phải biết kinh Pháp Hoa là Báo Phật sở thuyết. Như luận nói: Báo Phật Bồ-đề như kinh nói “Ta thành Phật đến nay…”, Ứng Phật Bồ- đề thì chỉ Già-da. Cổ Đức đều nói: Già-da đã chẳng phải thì thời gian dài kia tại sao riêng đúng? Tức thành pháp Phật thuyết. Địa luận đã nói Tuần thứ hai chính là tiêu biểu Ứng Phật nói, đâu phải Báo Phật thành và để thuyết pháp ắt là tuần thứ hai! Theo lý mà nói thì kia đây không sai khác, căn cơ thấy chẳng phải là một, Đại tiểu phân đường. Tiểu thừa thấy ba tuần dừng lại, Đại thừa thấy từ đầu đến cuối không thay đổi, cho nên nói “tuần thứ hai” là biết chẳng tận lý. Nếu nói không khởi đạo thọ mà dạo đến Lộc uyển, thì đây tức trong Tích, Viên Phật thành tướng. Lại căn cứ ý của bộ thì nghĩa kiêm nơi Biệt. Tiểu căn cơ thấy có quần áo rách rõ ràng, nay đây chính sẽ giáo hóa Tiểu thừa đầu tiên. Đạo tràng tại Tây Nam nước Ma-kiệt-đà cách sông Ny-liên-thuyền không xa. Tây Vức ký nói: Chung quanh cây Bồ-đề chất đầy đá gạch cao ngất kiên cố, chiều Đông Tây rộng, chiều Nam Bắc hẹp, chu vi hơn năm trăm bộ, chính giữa có tòa Kim Cang. Đây tức đạo tràng của hóa Phật trong Tích.
 “Giải thích theo Quán tâm Thọ (cây): Nhờ sự thấy lý, Đức Phật lẽ nào không như vậy? Vì sao Đức Phật không quán nhân duyên ư? Vì đây ở Tiểu thừa. Nếu căn cứ Hoa Nghiêm là tối sơ, thì đều phải căn cứ Viên Biệt để phán xét. “Kinh hành”: Đây cũng là giải thích theo Quán tâm. Nếu chỉ giải thích theo sự, thì chỉ là tiệm sơ, nên lại phụ quán căn cứ pháp tướng mà nói. Vì thế nói “Đạo phẩm…”: là giải thích theo sự. “Kinh hành”: đầy đủ như luật văn Uy Nghi kinh…, đủ như trong Chỉ Quán quyển hai nói “Xưa ngồi đạo tràng…” văn đầy đủ bốn giải thích. Đầu tiên nói “giả thời…” tức Thế giới, “đắc đạo” tức Vị nhân, “cảm ân báo đức” tức Đối trị, “muốn dùng Đại nghĩ” tức Đệ nhất nghĩa. Nếu

* Trang 797 *
device

 căn cứ giáo, thì ứng với bốn Đức Phật mười hai nhân duyên. Lại dùng Nhân duyên giải thích “cây”, như trong luận Bà-sa thì Vô minh làm căn (gốc)…, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển hai nói. Nên vi tế giải thích nêu ra để đối văn nay, tức Vô lậu cùng Thật tướng đều được gọi là “rừng”. “Ba mươi bảy phẩm là hành đạo pháp”: đạo phẩm tức định tuệ quân bình gọi là hành đạo pháp, huống chi bảy khoa đều là sở hành! Tức là dùng chân định tuệ để bước trên đất thật tướng, lý nhiếp các pháp cho nên nói “nhất thiết”. Đầu tiên an nơi đất này cho nên nói “đắc đạo”, muốn khiến người khác làm trước mình phải tiêu biểu mới mong dưới làm theo. “Cây đất…”: khởi hỏi. “Kinh Vị Tằng Hữu…”: là đáp.
Kinh nói “Trong ba tuần…”: Lại dùng tam thừa mà làm ba căn, do mới thành đạo suy nghĩ thông suốt căn cơ, đầy đủ như văn trước nói: Suy nghĩ độ hai Tiên nhân. Ý Tiểu Vân sớ, là căn cơ chúng sinh tự chưa kham nổi Pháp Hoa, không hẳn ở sau, cho nên dẫn văn sau: đức Phật kia mới thành đạo liền nói Pháp Hoa. Do nay theo lệ đó cho là có căn cứ. Cũng như trong phẩm Phương Tiện, “Nếu chỉ tán thán Phật thừa thì chúng sinh không kham nổi, mới bắt đầu ưng đồng chư Phật mà thiết lập quyền hóa”. Cho nên, nói: “sau ở thành Vương-xá”. “Nếu suy tìm..”: Chương An thông giải thích, hai nơi không khác không thể hoàn toàn sai, cho nên chỉ nói “nếu suy tìm”. Nay phải biện rõ sự sai biệt, vì sao? Nếu dùng Phật tuệ làm Pháp Hoa thì từ đầu đến cuối đều có, nếu dùng hội quy làm Pháp Hoa thì cuối có đầu không. Cho nên biết Dức Phật kia dưới cây Bồ-đề, đầu tiên nói Phật tuệ làm Pháp Hoa, mà Tiểu Vân chưa hiểu ý chỉ đây, liền dùng sơ thành đạo để hiển thuyết hội quy, là không đúng. Cho nên căn cứ theo đây văn lý đều thông, nếu mật nói thì chẳng phải đây luận bàn.
“Ác Sinh vương”: Ca-lợi vương. “Phật thệ”: Khi vua hại Phật, Phật phát đại nguyện: Ta nếu đắc đạo sẽ độ nhà vua trước. “Cam lộ: Chân đế.
 “Hỏi: Sao ban đầu độ năm người…?”: trong đáp có sáu văn.
Câu hỏi tuy liên quan đến năm, mà ý chánh là hỏi người, cho nên đều lấy “người” đáp. Tiếp, “Luân vương…”: nêu ba việc để hỏi. Trong đáp có nhân của Luân vương là thiện nghiệp, nhân của Kiều-trần-như là danh dự nghiệp, nhân Phật là xưng tán nghiệp. Cho nên nói Ni-tra.
“Hữu đảnh”: là Phi tưởng, vì hiển bày âm thanh Phật, chúng sinh ở cõi kia không có nhĩ thức chứ chẳng phải tiếng không đến. Sắc giới chỉ không có hương vị hai thức, còn ngoài ra đều hành. Tuy có ý tứ Tất- đàn, mà tóm lại chỉ là vì hiển bày báo đời trước không đồng, dẫn đến

* Trang 798 *
device

khiến tiếng vang đến xa gần không đồng. “Nếu y…”: là căn cứ giáo. Trong hai cụm từ “đến Ny-tra vân vân” và “thế giới Ny-tra vân vân”, thì “vân vân” là: lẽ ra nêu rõ Ny-tra trăm ức, Ny-tra mười phương, Ny- tra đến khắp pháp giới, để phân bốn giáo: Đầu văn là Tạng. Trăm ức tức là bắt đầu Đại thừa Thông giáo, mười phương và khắp pháp giới tức Biệt và Viên. Vì một thành tất cả thành, mười phương trần sát khởi bốn oai nghi, xen nhau làm chủ bạn. “Sơ chuyển pháp luân… bốn xứ… định”: tiếng đã phân làm bốn, xứ cũng nên như vậy.
“Đại thần biến”: Chẳng phải cho là tiểu vì tiểu thiên lệch đối một cơ, như hóa Ca-diếp đế hiến đá vuông, nơi ấy ắt nhất định. “Lại, trừ chuyển pháp luân….”: Tiệm sơ thì định, đây bắt đầu hóa tà nơi kia ắt định. Thông luận một đời, cho nên có thể không định. “Xưa nói tư duy lý giáo…”: Tức dùng ba tuần (hai mươi mốt ngày) dụng đối Đại thừa Lý, Giáo, Hạnh ba thứ, đều không có căn cơ không thọ. “Lại nói khuyên răn”: cũng là sư đây, tức như Thí dụ và Tín giải hai môn Đại thừa đều có dự định thích nghi, không căn cơ, thôi hóa độ. Dùng đối ba thứ đây, cũng có thể như vậy. “Ý của Dao sư”: cũng nói nghi thức giáo hóa chúng sinh, tư duy mà tiêu biểu lý sâu, đâu cần sự, sâu khiến Đại thánh tư duy mà sau hành. “Tiêu biểu Phật bắt đầu tam chu thuyết…”: đây cùng ý kinh Nhân Quả phần lớn đồng. Tứ phần luật Tát-bà-đa đều nói sáu tuần, Hưng Khởi Hạnh kinh nói bảy tuần, Ngũ phần nói tám tuần, Đại luận nói năm mươi tuần. Địa luận… đều nói hai tuần, căn cơ thấy không đồng không nên hòa hợp. Nay lại là giáo tột đỉnh sau cùng cho nên lại y cứ đây. Trong “giải thích theo Quán tâm” lại căn cứ bốn quán để chỉ rõ hóa nghi tức bốn giáo quán bởi vì tối hậu nói pháp phân tích. “Các Phạm vương tuy thỉnh Đại thừa”: hỏi: Làm sao biết được Phạm vương thỉnh Đại thừa? Đáp: Căn cứ lời Phật đáp rằng: Nếu chỉ tán thán Phật thừa… “Nay muốn” cho đến “thủy chung đắc độ”: Nếu không trước Tiểu thừa thì Đại Tiểu đều mất, nếu trước dùng Tiểu thì sau cùng ắt Đại lợi ích.
 “Các pháp tịch diệt…”: Hỏi: Trong đây ba giải thích nghĩa có gì sai khác? Đáp: 1.Nhất thuyết dùng quyền thật tương đối, tức thật không thể nói, nói thì thuộc Quyền. Tam quyền là số, cho nên Nhất thật chẳng phải số. 2. Sinh diệt bất sinh diệt tương đối, tức bất sinh diệt không thể tuyên bày, đây là Tiểu Đại tương đối, cũng là sự lý tương đối, cho nên hướng tam thừa mà nói thông chỉ Đại giáo. Đây căn cứ Lý thật Giáo quyền đối nhau mà biện. 3. Tức là lý thiên chân, đối thiên bốn môn, lý thiên chân cũng không thể tuyên bày, vậy thì Đại tiểu hai lý đều không

* Trang 799 *
device

 thể nói, phương tiện vì chúng sinh đều có thể được nói. Tuy đều có thể nói Phật ý tại Đại thừa, mà chúng sinh đối thật đều chẳng thích hợp, cho nên tư duy phương tiện chẳng phải nói sinh diệt.
“Thọ hành ngộ nhập”: Căn cơ hợp tức “thọ”. Từ nghe quán chuyển tức Noãn pháp trở đi, gọi đó là “hành”. Nếu chuẩn theo Hữu tông thì thời tiết tuy ngắn mà không ngăn ngại đầy đủ trải qua các vị Nội phàm Ngoại phàm, đến Thế Đệ nhất gọi đó là “ngộ”. Nếu đắc Sơ quả thì gọi là “nhập”. “Chuyển Phật…”: Đây có hai nghĩa: Nếu căn cứ vượt thời tiết thì thông bốn Như Lai, các pháp đầy đủ tùy gọi mà đến, phàm có nói gì đều là hóa tha, đối tự chứng nói. Nếu dùng viên tự đối tam giáo tha thì đây là căn cứ pháp, cũng gọi là tha. Nay từ đương phần căn cứ tiệm sơ nói, đây là Phật nội chứng cho nên nói “trong tâm”. Chứng có quyền thật, quyền pháp lợi vật cho nên gọi là “tha”.
“Niết-bàn âm”: Do đệ tử thọ hành, phiền não đoạn, ở Niết-bàn, danh sinh cho nên danh làm âm. “Âm” là thanh giáo, là bắt đầu của các giáo cho nên nói “khởi tự nơi đây”. “Tam bảo do đó hiện ở thế gian”: Cũng căn cứ tiệm ban đầu, vả lại tại Tiểu thừa chưa luận nhất thể. “Từ kiếp lâu xa đến nay”: Nói “lâu xa” là căn cứ bên dưới nói nhân duyên đời trước, chính chỉ Phật Đại Thông về sau, do Tiểu thừa thuần thục nên dùng một văn giải thích hai nghi kia. “Văn trên gồm có ý kia”: Tam thừa hạnh nhân đều là Phật tử. Chương chư Phật trên cũng nói “có Phật tử tâm tịnh…”, đều chỉ thời xưa giáo nghe phương tiện đã gọi là “Phật tử”, nhưng nơi giáo xưa chưa thể nói rõ. “Ta liền…”: một hàng cũng chỉ Chủng trí… dùng năng hiển sở, sở tức lý. “Lại, căn cứ…”: là lần nữa trong phân văn nói Đại thừa cơ phát cũng gọi là Đòi quả.
Hỏi: Văn trước vì sao bài xích Quang Trạch, nói trong văn pháp thuyết không có Đòi xe ư?
 Đáp: Quang Trạch nếu nói tình đòi Đại thì không có lỗi. Nếu dụng làm căn bản cho thí dụ Đòi tiểu quả bên dưới, thì cần phải phá, phá kia dẫn văn cũng lại như vậy.
“Đây nên có bốn câu”:
Hỏi: Văn trước đã căn cứ bốn câu đối căn, trong đây tại sao nói bốn ư?
 Đáp: Trước thì đầu tiên đối Nhũ, Lạc đều làm bốn câu, phân biệt Đại tiểu kia bị chướng không đồng, lại dùng bốn câu giải thích xuất Sinh tô và Thục tô, thông đối các giáo bốn căn nghe pháp, tiến hay không có khác có đồng, cho nên trước thì ban đầu lập lại chỉ câu thứ tư ở trong Pháp Hoa. Các văn khác phần nhiều ở bốn vị trước, nay

* Trang 800 *
device

 thời thứ năm mới đối khai ba, riêng một là đại. Nói “tức phát”: Chỉ không khởi đương tòa, thì gọi là “tức”, từ tòa kia đến thì đều là trải qua thời gian (kinh thời), chỉ không vượt qua vị cho nên gọi là “tức”.
“Đòi (sách) có ba ý”: hai ý Đòi đã nói tại cơ tại tình. Trong cơ chỉ nói có nghĩa cảm quả, trong tình đã nói mật cầu mà thôi, cho nên hai ý Đòi trước ở xưa, nói “phát” chỉ ở nay. Xưa nói tuy tức thông nơi bốn vị, mà đây chỉ thời gian mà hai tô đều nghe Đại vì vậy cho nên được nói có hai ý Đòi. Lại nói hai ý Đòi có thông có biệt. Thông thì đều thông hai vị, cơ thì sâu kín ở bên trong, tình thì trong động ở giữa, hai vị đều như vậy cho nên nói thông. Biệt thì hai ý Đòi biệt đối hai vị, ở trong thời Phương-đẳng nghe bất tư nghì, tuy bài xích là phi chẳng có đại lợi, bị bài xích mà không hủy báng tức nghĩa đương nơi Đòi (yêu cầu). Cho nên, biết không hủy báng lý tại hữu cầu. Ở thời Thục-tô là thời Đại dẫn dụ rửa bỏ. Tuy không hy vọng lấy mà chuyển giáo tình thân, dù không nói rõ mà nghĩa Đòi dần dần cần thiết, tuy hai thứ không đồng, cơ xa tình gần. “Đắc, bất đắc”: Là riêng Bồ-tát cũng lợi Thanh-văn, trong tình tiến thoái nghĩa đương nơi Đòi, vậy thì “tình đới cơ” thảy đều nhất định phải ở xưa. Cho đến Bát-nhã thì biệt thọ tên gọi “tình”, đến khi lãnh giải thì dùng cái được để hiển cái mất, cho nên nói “muốn dùng hỏi Thế Tôn là mất hay không mất”. Thỉnh đòi tuy tức mà chỉ có tại giáo nay, cho đến khải thỉnh nói thì cơ tình ắt đầy đủ. Từ chỗ mạnh miệng xin thỉnh, cơ tình cũng sai khác, xưa chỉ ngầm phục ở trong lòng, đối nay mới trợ giúp hiển rõ nơi miệng ba phen đòi xin đều bấu víu ở Thánh, đến (phó) cũng tự phân hiển mật, thời thuần thục đã hội nhân bên trong đầy đủ, nghe lược nói bởi vì ngoại duyên đầy đủ, nhân duyên đủ nên phát ra lời nói ở đây.
“Hỏi: Xưa ra khỏi nhà…”: là nêu trong phẩm Thí Dụ để hiển bày nay. Kia nói “Các con đến chỗ cha xin ban cho chúng con ba thứ xe báu”, nay sao lại nói “Cơ… đòi thật” ư?
 Đáp ý: Khi chưa ra khỏi nhà nghe hứa, khi ra rồi thì không thấy xe đã hứa cho, chỉ thấy người hứa, nên theo người hứa mà đòi cái xưa đã hứa, đã hứa mà không cho ắt có điều sai khác. Cho nên, đòi xưa tại nay vốn là ý cầu xin cái khác.
Nay hỏi: Lộc-uyển thì ra khỏi nhà chỉ bảo đảm Tiểu quả đâu từng đòi xe ư? Đáp: Nếu tại pháp thuyết, thì đến thời Lộc-uyển nghĩa đang ra khỏi nhà. Lại trải qua hai vị hai lần đòi xin tại trong lòng, chỉ thí dụ ngắn mà bao hàm nghĩa dài, đến đầu thời Pháp Hoa, cho nên thí dụ nói các con đến chỗ cha đòi xe, cha bèn cho nhưng đều ban cho xe lớn. Cho

* Trang 801 *
device

nên kia thí dụ ý bao gồm hai tô.
Phẩm Tín Giải thì thí dụ dài mới khai thể mạng, cho nên phẩm Thí Dụ văn nghĩa bao gồm ba phen đòi xin, phải biết lẽ nào cùng Quang Trạch làm bạn được? “Đều dùng tâm cung kính….”: Ý người khác nói căn cứ cơ luận đến, thẹn Tiểu mộ Đại, là Bát-nhã Phương-đẳng. Cho nên nay phá Cơ, thân đều đến Bát-nhã Phương-đẳng, huống chi Pháp Hoa ba nghiệp đều lãnh thọ. Vả lại, giải thích nghĩa thỉnh cho nên nói cơ tình, đến ắt ba nghiệp không thể thiên lệch. “Nay hành dữ thọ ký…”: là tùy tiện thọ ký, lại thọ tám tướng cho nên nói “hành dữ”, lại thọ ký Đại thừa chỉ tại phân biệt công đức, trong đây lại tiểu thừa cho nên nói hạnh cùng. “Xưa chân xưa thành…”: “Xưa chân” chỉ lý, “xưa thành” chỉ quả, xưa La-hán… đã đều là thật, đều được “chân, thành”. Nay Tam thừa đều bài xích thì hai nghĩa đều mất (thất), cho nên nói “cuối cùng biết tại đâu?”. “Lại, Tam thừa đồng học một đạo…”: Đây tức thuật lại thông tam thừa nghi, đã đồng một lý thì chứng chân không sai khác. Chân tuy không khác mà Bồ-tát lúc xưa đã từng được thọ ký. Nếu đã được thọ ký thì vì sao mà nay đều bài xích là phương tiện? Nếu đều là phương tiện thì xưa không nên biệt, cho nên nói: “sao ý có biệt?”. Vì vậy, nên nghi xưa nay, hoặc hai hoặc ba hoặc lý hoặc hạnh. Đã đều là phương tiện thì mất cái chất phác thật chứng, sao lại không nghi? Văn trước nhiều nơi thông bài xích tam giáo, trong đây chỉ bài xích Tạng, Thông hai thứ.
1)Tam thừa đồng chứng chân đế.
2) Chứng hai giáo này đều là quyền.
Nếu lại căn cứ biệt: Đương giáo trong luận tự có chân thật, đã đới phương tiện thì đầu cuối hạnh sai khác. Thông đều nghe bài xích đó cũng sinh nghi. “Như thị Diệu pháp”: Đầy đủ như trong Thích Tiêm nói, cho nên nói: chỉ là “pháp Quyền thật”.
Tiếp “Như tam thế…”: trong “dẫn đồng chư Phật” văn đầy đủ hai giải thích. Trước thì căn cứ “Vì Thật thiết lập Quyền”, sau thì căn cứ “khai Quyền hiển Thật”. Lại, văn đầu căn cứ giáo ba quyền một thật. Văn sau căn cứ lý cho nên “có quyền có thật” làm Quyền, “Quyền thật không hai” làm Thật. Đây giải thích thứ hai chỉ là hiển lý Thật giáo trước tức là Quyền thật không hai. Kinh nói: “Huyền viễn…” là: Nếu chuẩn theo kiếp đây sáu, bốn, hai vạn. Vọng dưới Phạm thiên một trăm tám mươi kiếp không vô hữu Phật vẫn chưa gọi là xa, sau đời Phật Di- lặc giảm mười lăm kiếp. Chín trăm chín mươi lăm Đức Phật thứ lớp xuất hiện, nên không nói đây. “Phương tiện có thể là quyền giả”: ý nêu giáo

* Trang 802 *
device

 trước có thể là quyền lập, căn cứ bản hoài của Phật tuy chẳng hư vọng, dùng thật vọng giả cho nên gọi là “quyền giả”. Thiết lập rồi, lại phế bỏ, cuối cùng trở về chân thật. Nay đã nói Thật, cho nên khuyên chớ nghi. “Xưa từ các ông…”: lại trình bày cựu giải trước tuy lược phá mà đều là một đường, cho nên lại dẫn khiến biết đồng hay khác. Nếu ưa đắm các dục đến nỗi xen nhau chọn lựa sai trái thì phàm phu tiểu thừa đều xả bỏ mới có thể kham thọ ký.

* Trang 803 *
device

                          GIẢI THÍCH PHẨM THÍ DỤ THỨ BA

Có người đối với đây lập “Lai ý” ( dụng ý của phẩm), nói: “Đại thừa, phàm không thí dụ”, có lẽ có thí dụ thì thành Tiểu thừa. Có người nói: “Phật pháp nhiều môn, mỗi môn đều có thí dụ”. Đây thì có thể như vậy. Nói “Trước tiên là Tổng thích”: Hai chữ “tổng thích” thông quán (đứng đầu chung cho) bốn cách giải thích. Hoặc nay hoặc xưa dùng nhân duyên… đều có sai biệt. Đầu phẩm tuy kiêm văn của chu thứ nhất, mà giải thích đề thì lại nương ý của chu thứ hai, cho nên nói “hạng trung hạ căn chưa thông đạt. . .”. Đầu tiên tổng chia làm ba:
1)Chữ: huấn.
2)Giải thích huấn.
3)Dụng ý.
Tiếp, trong giải thích huấn, “Mượn đây…”: là giải thích chữ “Thí”. “Nương cạn..”: giải thích chữ “Dụ”. Ngọc Thiên nói: Dùng loại so sánh gọi là “Thí”, khai hiểu khiến ngộ gọi là “Dụ”. Đã hai chữ song đề nên có chút sai biệt, đầy đủ như giải thích “huấn”, cho nên dùng so sánh hiểu để huấn thời chúng, đây gọi là nhà xe trong cõi người tức giới nội. Kia gọi là Phật sự giới ngoại, mê ngộ, cạn sâu có thể biết. Kia chỉ Phật thừa nghĩa sâu duy nhất, cho nên mê cùng ngộ chỉ có Tiểu đối Viên. Cây, cửa, gió, trăng chỉ có lý Viên giáo. “Trước rộng…”: nêu Dụng ý cũng là kết trước sinh sau. Câu đầu kết trước, “giữa cuối…” là sinh sau. Cho nên biết cơ tuy không dứt, lại đợi bi trí không dứt mà trung cơ sẽ sinh. Lại “rung cây, nhấc cửa”, khiến ý “gió, trăng” hiện rõ. Nhưng pháp nói thật tướng đâu ẩn đâu hiện, như gió lâu chẳng lúc nào dứt, trăng trên không thường lơ lững, chỉ vì hạng trung hạ, căn cơ Đại thừa chưa khai mở, che tình còn lấp cho rằng trăng ẩn gió dừng, nên tạm lưu lại ở hai đường đây mà cần phải rung cây, nhấc cửa. Bốn cách giải thích theo Nhân duyên, v.v… thì ý chỉ Đại thừa đều rõ. Cho nên dùng hai chữ để tổng đứng đầu các giải thích.
 Tiếp, Biệt giải thích: Đầu tiên trong Nhân duyên đều dùng bốn pháp thếâ gian để dụ cho bốn pháp của một Thực. Trong nghĩa Thế giới đầu tiên thẳng nói “thế pháp”, bởi vì thế pháp đứng đầu ba pháp. Nghe thí dụ sinh vui gọi là “Thế giới”. Sở dĩ nói ba thứ bên dưới đều là thế pháp, chỉ vì sinh… biệt đắc ba tên dưới, cho nên ba loại dưới đều do nghe thí dụ mà sinh vui… Nhân đã từng có cha con thế gian, nay nghe thí dụ nói: “Ta là con thật sự của Phật, Thanh-văn cùng Phật thiên tánh không khác”, chỉ có tại kinh này, nên nói “chưa từng có”. Bởi vì ngày

* Trang 804 *
device

mật sai, còn không có tâm cho làm thuê làm mướn, cho nên khi lãnh nhận gia tài đâu có sinh niệm là vật của mình, mà đặc biệt do thiên tánh liên quan nhau, bèn được dự báo gánh vác. Trước lúc đó, lo lắng hối hận đến đây mới trừ bỏ, khi nói thí dụ mới gọi là chân tử (con chân thật). Nay mới được ngộ càng thêm hớn hở vui mừng, đây chỉ nghe thí dụ sinh cái vui chân thật tức văn tín giải ban đầu hoan hỷ, cho nên Đại tiểu hai thừa đều gọi là hoan hỷ. Tiếp trong Vị nhân nói: Thế sinh pháp tức của cải cho nên nói: quý giá ưa thích. Xuất thế pháp sinh tức tam thừa pháp, đứng đầu trong sinh thiện lẽ nào vượt qua đây? Cho nên xưa ba xe trân báu vi diệu thâu nhiếp. Việc các ông làm là Bồ-tát đạo. “Thế diệt pháp”: Trong nhà các tai họa có thể thoát ra được. “Xuất thế diệt pháp” nghĩa là Hoặc đoạn. Vô lậu thuật xưa, trừ bỏ lo buồn chỉ nay. Bạt khổ vốn tại đồng ban cho xe lớn, tốt nhất trừ ác chẳng gì bằng đây. Xưa phá Kiến tư thông luận nay đều là trừ ác. “Thế bất sinh diệt” tức xe lớn, cha vốn có cho nên “bất sinh”, đến chỗ bất hoại cho nên “bất diệt”. “Xuất thế bất sinh bất diệt”: Tánh đức vốn có cho nên “bất sinh”, tu đắc quả thường cho nên “bất diệt”. Do trong Tín Giải nghe thí dụ thì hoan hỷ… cho nên tứ Tất-đàn đều thí dụ cha con. Nhưng ba Tất-đàn trước tựa như căn cứ thi quyền, Đệ nhất nghĩa Tất-đàn mới căn cứ khai hiển. Phải biết ba Tất-đàn trước tức lộng dẫn của Đệ nhất nghĩa. Cho nên, dẫn tâm trước đều ham thích và để thoát nạn nhà lửa. Nếu khai hiển rồi thì đều là xe lớn. Lại tứ Tất-đàn đều có một pháp một thí, trong pháp hoặc dùng văn pháp thuyết, Thân-tử lãnh giải và lại trợ giúp thành lời kia. Nếu thẳng tiêu hai chữ thì đâu đủ đề phẩm, cho nên kết nói “một âm khéo dụ”. Đây thì ngăn đâu phải từ đầu đến cuối một âm. “Một âm” thì chỉ có thật, “Khéo dụ” thì kiêm quyền. Quyền dẫn về Thật cho nên không đồng xưa thuần dùng một âm, cho nên thí dụ nghĩa bao hàm bốn thứ: Nhân duyên v.v… Nếu không như vậy, thì làm sao hiểu rõ tiểu xa, đại xa, nhà lửa, nhà cha ở.
“Trung hạ được lợi ích”: Hỏi: Hạ căn chưa ngộ vì sao nói lợi ích?
Đáp: Pháp Thí được gia-bị chung cho hàng trung hạ tự mê, cho nên hạ căn nghe Pháp Thí, trung căn nghe Pháp thuyết, tuy chưa hiển ngộ cũng đều lợi ích ngầm. Cho nên đến Thí và nhân duyên túc thế (đời trước) thì thâu hoạch ngộ.
 Cho nên căn cứ Giáo… ba thứ đều phải căn cứ thí dụ. Thí đã ba xe, một xe xưa nay tương đối, pháp cũng hoặc Quyền hoặc Thật đều liệt kê thiên viên. Nếu không như vậy thì khai là khai cái gì? Vốn hứa cho ba xe, đòi mà không cho, cho đến vì nói đồng ban cho xe lớn. Phải biết xe

* Trang 805 *
device

kia vốn là ba, một. Vì vật phương tiện quyền lập ba tên. Ra khỏi nhà, phá bỏ quyền phá ba chỉ có một. Tam tạng giáo, là giáo đầu tiên của bốn giáo, nói thí dụ “Bồ-tát cỡi xe trâu v.v…”: Đây Bồ-tát từ đầu đến cuối đều hóa tha, rất được danh kia. Thông giáo thí dụ nói “Ba người đồng sợ..”: Tam tạng Nhị thừa lý cũng nên như vậy, vì đối đầu cuối một hướng lợi tha cho nên hai giáo kia lại nói “tự tế” (cứu giúp). Giáo này Duyên-giác tự, tha kiêm lợi ích hơn hàng Thanh-văn, cho nên nói: “cùng chạy nhanh cùng nhìn ngoảnh lại”. Thương các Bồ-tát yếu kém cho nên có nói “cùng”. Tự hành cho nên “chạy nhanh”, kiêm tha thì mới “nhìn ngoảnh lại”. Bồ-tát tự hành đã mãn, chỉ lấy lợi vật làm hoài bảo, vì vậy cho nên chỉ nói: “Toàn chúng chạy ra”. Trong Biệt giáo ban đầu bài xích hai giáo tam thừa đều gần.
Tiếp, “Bồ-tát…”: là chánh giải thích. Đối trước đã liệt kê câu câu đều quyết chắc. Căn cứ “đại tượng” nói cho nên gọi là “biên đáy”. “Đại Phẩm…”: chứng minh đối hai giáo nhị thừa trước lược chọn. Thông giáo Bồ-tát đối Thông Nhị thừa, đoạn chứng đã đồng lược, không có hình trạng bài xích, cho nên biết là Biệt Bồ-tát bài xích hai Nhị thừa. Cho nên dùng “lửa đom đóm đối mặt trời” làm biệt, làm thí dụ. Căn cứ nghĩa lược thí dụ nên đối “xe trâu” để phân biệt Bồ-tát, bởi do chứng kinh may mắn có thí dụ tam thừa đều khác. Hai giáo tam thừa ngoài thí dụ lại có riêng Bồ-tát thí như đại tượng (voi lớn). Và lấy “đom đóm, mặt trời” dùng để bài xích nhị thừa. Lại, “Bắt đầu thấy…”: là trong Viên giáo trước chỉ Hoa Nghiêm. Và “Vì chưa nhập…”: nêu rõ ý kinh này. Hai nơi hóa sự đều không cần thí dụ, tức Hoa Nghiêm lợi căn và Pháp Hoa ở chu thượng. “Như nay…”: nêu lý hai nơi.. bình đẳng, tuy tức hóa nghi trước sau mà đầu cuối lý nhất. Ban đầu tức Hoa Nghiêm, nay thì Pháp Hoa. Chỉ duyên “Tuệ Như”, cho nên lý đồng, cho nên nói “không hai không khác”.
Hỏi: “Không khác và không hai”, hai thứ này có gì sai biệt?
 Đáp: Trọng yếu dùng “không khác” để lặp lại nơi bất nhị, do “không khác” cho nên mới gọi là “không hai” (bất nhị).
Từ “Thượng căn lợi trí” cho đến “không cần thí dụ”: lại nêu hai xứ (nơi) hiển chu thượng trong đó đắc ngộ, là biện rõ sự sai khác. “Chỉ vì…”: là nêu nay có trung hạ căn, cho nên phải thí dụ. Nhưng trong Hoa Nghiêm đều là thí dụ, chỉ vì kia nhập đạo không chánh do đây, như nay Đàm hoa làm thành Pháp thuyết. Nói “động chấp…”: Thượng căn nhất xứ, trung căn hai xứ, hoặc nói năm xứ. Trong rộng có trường hàng kệ

* Trang 806 *
device

tụng đều là pháp thuyết lãnh thuật hai văn. Hạ căn tam xứ (ba chỗ) hoặc nói mười một xứ. Ở năm xứ trước, lại thêm trong Thí thì lãnh thuật đều có trường hàng kệ tụng, cho đến hạ căn hai mươi hai phen khai quyền hiển thật, đầy đủ như cuối phẩm Hóa Thành nêu. Do chưa ngộ cho nên mê nơi pháp thuyết quyền thật kỳ đạo (đường rẽ). Ta xưa cùng kia đồng ở nơi hạng Vô học, kia được thọ ký thuật, riêng ta chưa được thấm nhuần. Ban đầu nghe lược nói rồi thì trong lòng tiến thoái, đó là cực quả hay là phương tiện gì? Là vĩnh  viễn tại tiểu thừa hay là (đương) sẽ thành Đại thừa? Lại nghe năm Đức Phật, mà nghi vẫn chưa trừ cho nên lại phải dùng thí dụ xe để dẫn, cho nên gọi là “Viên thí” (thí dụ trong Viên giáo).
Người đời nói: “Thiên Thai ức chế Hoa Nghiêm”, chính là do không giỏi về các tông khác cho nên nói như vậy. Đã xét Phật tuệ hai kinh không sai khác, chỉ bộ vọng bộ đều có chút sai khác. Đã không thể chỉ Lộc uyển là bắt đầu, lại nói “nghe ta” mà các nghĩa khác không thành! Thiệp Công nói: Pháp Hoa, Hoa Nghiêm rộng lược sai biệt. Đây ngửi mùi hương chiêm-bặc lưu toả mà chưa cùng tận ý chỉ vi diệu của các mùi hương, do không thể tư duy tường tận tông này. Rộng lược tuy như vậy, Kiêm và Đới thì như thế nào? Hiển bản chưa rõ thọ ký tiểu chẳng theo lệ, cho đến văn dưới mười nghĩa đồng khác. “Trì trù”: là như do dự. “Kỳ đạo”: Bộ Nhĩ Nhã nói: đến chỗ có hai, gọi là “kỳ”.
“Bản tích quán tâm vân vân”: Đều phải căn cứ thí dụ Bản tích đầy đủ như Liên hoa tam thí Huyền Văn quyển bảy. Nếu muốn tiến mượn sơ thành thiết lập giáo thì lẽ nào không có một, ba, cho nên ngàn cành vạn lá đồng tông một gốc rễ, cho đến năm trăm, ba ngàn trần điểm có thể dùng ý biết. Quán tâm thí dụ: “Không” ví như bạch ngưu, “Giả” ví như cụ độ, “Trung” ví như thể của xe, cho đến huyễn Không, huyễn Giả, huyễn Trung. Tiếp, “phân văn giải thích”: Sắp xếp thí dụ, vả lại giải thích phần còn lại của phẩm trước. Đầu tiên trong lãnh giải: Sắp xếp trước Thí thuyết v.v… : Có người nói: Vì Thí làm Tựa thì nên nạn vấn rằng: Tín giải Dược thảo Thọ ký cũng nên sắp xếp trong phẩm Hóa Thành vì hóa thành làm tựa. Từ “Trường hàng lãnh cùng giải” đến “đều trình bày”: Trường hàng ba nghiệp đều có Nêu ra, Giải thích, Kết. Hai văn Nêu ra và Kết đều đầy đủ ba nghiệp mà không phân lãnh giải, chỉ trong Giải thích lấy thân nghiệp làm “lãønh”, khẩu, ý làm “giải”. Bắt đầu “Nay con theo đức Thế Tôn..” là lãnh. Từ “Vì sao vậy? Vì xưa con theo Phật…”: là giải. “Kệ đều trình bày”: Ba đoạn mỗi đoạn có hai, đến trong kệ dưới mỗi mỗi điểm xuất ra. “Một hạnh” (hạnh phúc, may

* Trang 807 *
device

mắn): Nghĩa là một nghiệp gặp vui, nay ba nghiệp đều vui mới thành ba hạnh. Ta nay thân đã gần gũi Phật huống lại nghe pháp, nghe pháp tức là khẩu vui, được hiểu tức là ý vui. Lại xưa chỉ cơ tình, cơ tình ở trong gọi là “một hạnh”. Nay do miệng thỉnh, ba nghiệp đều vui cho nên nói “ba vui”, quá ý đã mưu tính cho nên gọi là “hạnh”. Cho nên văn dưới nói: chẳng phải trước mong cầu mà nay tự đắc. “Biện” là vỗ tay múa, tức tâm, miệng vui sướng đến nỗi hiện ra ngoài, do hai động hình, cho nên cả ba đều động. “Văn nói…”: dẫn chứng, là chánh chứng “ba vui”. Văn tuy lại liệt kê ý, khẩu hai vui, mà có hai ắt có ba, lý số phải như vậy; trong ngoài sai khác, cho nên tức thế giới. Lại, đây bốn văn nên căn cứ phẩm trước, mà nay ba văn sau căn cứ Tín Giải: Khai hiển nghĩa đồng kia đây, thông dụng ý đồng, thời khác cũng nên không sai. “Bỏ nghèo, thọ nhận giàu”: Khai Tam tạng trân báu, đắc chân thật thiện lợi, là tốt nhất trong Sinh thiện. “Ưu hối đều bỏ…”: Khai hai vị. Vĩnh  viễn trừ ưu nghi cho nên trừ ác nghèo. Ta nhớ xưa ở thời Phương-đẳng thì bị bài xích cho nên “ưu”, đến thời Bát-nhã thì “hối” vì đã trụ Tiểu thừa. Thời Phương-đẳng thì bị bài xích, cho nên “nghi”. Thời Bát-nhã thì không chấp, cho nên “nan” (khó). Trược là “ngoại chướng”, Tiểu làm “nội chướng”. Lại, bị chê trách không thọ, gọi là “ngoại chướng”. Được thêm mà không nhận lấy, gọi là “nội chướng”. Nay thì không có lỗi của ba cặp này, cho nên nói “đại lãng”, trú nhất thật đệ nhất nghĩa.
Tiếp trong phần “Căn cứ Giáo”: văn đầu tiên theo cách chung giản thể của vui xưa, cho nên trước trình bày xưa là Tiểu thừa. Tiếp, “Nay nói…”: là giản lược khác, tức lược không hiển có. “Hoặc là Khổ nhẫn …”: là chánh giải thích vì rằng cái vui thế gian từ lâu đã trừ. Tạng, Thông hai vui từ lâu đã đắc. “Hoặc là nhị Không….”: giáo đạo lại chẳng phải là đối tượng để làm theo, trải qua ba giáo bỏ đi bởi vì có nguyên do, vì không phải là điều mà nay muốn nêu, đó là chỉ có vui Viên giáo. Như cái ao ít nước, như phàm phu không thấm nhuần, thì không có trí xuất thế gian. Trong Viên giáo: Đầu tiên là vị, tiếp là nhân. “Sơ trụ gọi là Hoan hỷ”: là nghĩa lập. Vì ba pháp khai phát cùng Sơ địa không khác, cũng gọi là Hoan hỷ. “Thân-tử” đến “hoan hỷ”: chưa dám định phán cho nên hoặc là hai cách. “Siêu nhập” tức Hạnh, hoặc là Hướng, hoặc là Địa. Dù không siêu thì cũng nhập sơ trụ, gọi là Hoan hỷ. Các nhà chú thích nói thẳng: Nghi lo ngoài đã trừ thì vui trong tâm phát sinh, bất giác chân dẫm đạp cho nên nói “dũng dược (hớn hở)”, nên phải phân giáo mới biện rõ tốt xấu (ưu liệt). Cho nên A-la-hán không có cái vui trong ba cõi. Nói “dũng dược”: là biệt Hoặc (lậu hoặc) đã huân tập ngoài

* Trang 808 *
device

 diệu pháp được gia-bị. “Giải thích theo Quán tâm thì lại không ghi chép vân vân”: là lẽ ra giải thích Vui theo nhất tâm tam quán lục tức. Tiếp, giải thích “Uy nghi bên ngoài”, đây là sự kinh gia giải thích có thể hiểu, nơi khác dù có nêu ra chỉ nói biểu hợp chứ không biết năng sở, đó là trí gì và hợp lý gì? Nay tiêu biểu khác các bộ mà trong văn còn lược, rộng xem xét thì như giải thích phẩm Phương Tiện. Trong đây cũng xem xét hướng Phật vì nay biết là thật. “Chắp tay hướng Phật” thì giáo nào chẳng có mà nay tiêu biểu chỉ có Phật quả? Phải biết: xưa hướng chẳng thật, nay khai vì rằng thật hướng tiêu biểu phi thường, trong Tựa báo điềm lành cũng lại như vậy. “Chiêm ngưỡng tôn nhan…”: Trước nay tuy chắp tay là tiêu biểu Thật không hai, mà không thể nêu bên trong tâm đã hiểu cho nên hướng mà lại chiêm ngưỡng. Dựa vào “thấy tôn nhan” để tiêu biểu “hiểu”, biết là Phật chẳng phải ai khác, như chẳng phải quyền chỉ có thật. Cho nên biết, bên ngoài thấy Phật, mà cũng chính là ý không tư duy khác, tức tiêu biểu thấy tha thật cảnh mà tự khai tri kiến. “Ý giải…”: là phân ra thân và ý để đối lãnh giải. Vì nói xen nhau nêu hai nghiệp đều lãnh giải đủ quyền thật. Cũng căn cứ sở biểu để phân biệt thân ý, cho nên dùng “chắp tay” tiêu biểu thân, “chiêm ngưỡng” tiêu biểu ý. Xưa thân cách xa Phật như hai bàn tay tiêu biểu quyền, nay thân thấy Phật chắp tay là tiêu biểu thật. Cho nên, nói tức Quyền mà Thật. Ý cũng như nói xưa chưa hiểu (giải) Thật, nay lấy niệm mà tiêu biểu, cho nên nói giải thật tức là quyền, nên nói “xen nhau nêu”. “Bạch Phật…”: Nói miệng lãnh giải, là đối kinh gia kia. Nay lấy tự trình bày mà làm miệng lãnh giải, lãnh ắt đầy đủ ba chẳng riêng gì miệng. Cho nên ba phần: Nêu, Giải thích, Kết đều đầy đủ ba. Trong phần “Nêu”: “ba”, đã nói “Bạch Phật” thì nên chỉ ở miệng, tại sao nói ba? Nhưng nói “lãnh”, thì ắt trước biểu hiện nơi miệng vì miệng thuật lại sở đắc, lẽ nào chuyên một đường? Thế nên thuật đủ “sở tòng, sở văn” và sinh hoan hỷ, ba nghiệp đầy đủ.
 Tiếp, trong phần “Giải thích” thì trước là giải thích thân, nói: “Như mặt trời chiếu núi cao, mật có nghĩa nghe”.
 Hỏi: Mật thông Lộc-uyển và dùng hai tô, vì sao riêng nói “núi cao chiếu trước”?
Đáp: Đây đối Tiểâu thừa hiển bày điếc câm, bộ chỉ có Đại thừa, cho nên hiển hoàn toàn không có, tạm nói “mật” đó thôi! Lộc uyển có mật căn cứ theo lệ có thể biết. “Thọ ký chỉ Phương-đẳng”, có chỉ A- hàm thọ ký Di-lặc, A-hàm chưa từng nêu Tri kiến Phật có lỗi gì ư? “Con thường ở một mình, tư duy quá sở”, “sở” tức “núi rừng”, cũng nên nói

* Trang 809 *
device

“hành…”: là tư duy quá nghi. “Nghĩ như vầy…..”: Là tư duy quá tâm; nay tư duy chỗ ở, uy nghi và tâm niệm ngày xưa đều là lỗi, cho nên nói “tư quá (tư duy lỗi)”. “Đồng nhập…”: là xuất tướng lỗi kia, chỗ ở… có lỗi là do chấp pháp tánh.
Hỏi: Giả sử xưa nhập Tiểu thừa pháp tánh, thì có lỗi gì?
Đáp: Chỉ vì cho rằng cùng Bồ-tát đồng nhập, mà đối ba giáo để biện rõ lỗi mình, nghi Phật có thiên vị, do đó thành lỗi. Do vì không biết ngoài Tiểu pháp tánh, biệt có diệu lý mà Bồ-tát chứng đắc. Cho nên Tam tạng Thanh-văn cho đến Phật không có biệt pháp tánh.
Đức Phật ấn chứng cho Ca-diếp đương giáo luận đồng, tức nghĩa này vậy. Thông giáo ba người đều ngồi tòa giải thoát, trung luận thật tướng ba thừa cùng đắc, vậy thì ba thừa Thông giáo pháp tánh, cũng cùng Tam tạng pháp tánh không khác. Các người Thanh-văn tuy tại lực… mật thành người Thông giáo, chưa nói hợp hiện rõ, gọi là tiểu nhập đại, cho nên nay sở luận vẫn tại Tam tạng. Thuật lại ban đầu gặp Ác-ty và nghe cậu luận nghĩa đắc pháp tánh thì chẳng liên quan, nghe diệu mới nhập viên thường.
 Tiếp, “Do ta mê quyền…”: là thuật nguyên do lỗi. Do mê quyền cho nên cho rằng pháp tánh đồng, đâu có liên quan đến sở Hoặc lý Nhất giáo tam? Do mê hoặc thật cho nên chỉ quyền là thật, đâu có liên quan đến Thế Tôn thiên thọ ký Bồ-tát? “Vì sao vậy…”: là dẫn nghĩa chờ đợi, tự trách. Tiếp, “Sở nhân hai nghĩa…”: là chánh giải thích sở nhãn. Đầu tiên nêu hai nghĩa, nếu biết sở chứng không thật thì nên đợi nói nhân thật, nếu biết đã tại phương tiện thì hiểu tức Thật là quyền. “Đầu tiên chiếu…”: giải thích “nếu như vậy”. Nói “vội vàng” tức chẳng những Lộc-uyển mà còn chỉ hai tô, bởi vì trong hai vị đây cũng có sơ đắc tiểu quả, nhưng trong y văn thì hai tô đều ở giữa hai cột mốc. Nếu Lộc-uyển có sơ chứng thì cũng có thể dùng hai tô để giải thích nghĩa dừng lại. Nhưng hai tô căn cơ lẫn lộn, cho nên dùng từ đầu đến cuối để giải thích nghĩa dừng. Do trong Nhũ kia Viên thuyết Phật nhân, ta tự không đối, lỗi không thuộc người khác. Kinh nói “ắt dùng Đại thừa”: Lời thông các giáo, ý thì không như vậy, tuy chỉ vì phát Đại thừa mà tâm thì không “chết”. Nay thì giản biệt ý chỉ có tại Viên. Nên biết “sở nhân” không xuất nhân quả và dùng nguyện hạnh.
Hạnh tức Lục độ, nguyện nghĩa là Tứ hoằng. Cho nên trong Phật Địa luận thông nhân ba thứ: 1. Ứng đắc nhân: nghĩa là Bồ-đề tâm tức Tứ hoằng. 2. Gia hạnh nhân: nghĩa là các Ba-la-mật, Lục độ cũng thâu nhiếp các hạnh. 3.Viên mãn nhân: tức chỉ Phật quả. Thông lấy quả, quả

* Trang 810 *
device

 làm kỳ hạn của nhân, cho nên cũng gọi là nhân. Xét kỹ mà luận thì chỉ tại hai thứ trước, thành tựu Bồ-đề tức là quả.
“Mà nay được từ Phật là kết thân hỷ”: Đầy đủ như trước giải thích. “Đoạn các nghi hối…”: Thông thì thông chỉ hai tô thời thấy việc của Bồ- tát, Biệt thì chỉ tại lược thuyết thời bài xích làm phương tiện, lại thông nói các Phương-đẳng thắng cảnh chẳng phải một, Bát-nhã pháp tướng bao gồm thông. Phàm có thấy nghe đều là cảnh sinh nghi, do cảnh nên sinh nghi, do nghi nên hối, nay nghe pháp thuyết hối hận lỗi hai lần chờ đợi. Lại do rộng nói nghi hối đều trừ. Do xưa tuyệt phân hai nghĩa đều liên quan, ngày nay mới biết chân thật là đồng. Đầu tiên căn cứ ba câu kết thành ba văn, văn đã phân minh trên dưới có Tựa. Lại do ba nên thành Phật pháp có phần. Phần tức Sơ trụ phần chân vị. Không cần “Từ miệng Phật…”: là đối ba tuệ, văn không từ sinh ba tuệ mà kéo dài cho nên nói “văn tận, lý rõ ràng”, đây tức là lý của đạo lý. Nói “Lại dùng tứ Tất-đàn”: Lại trở lại hướng trước hiểu rõ các văn lãnh. Đầu tiên nêu ba vui là Thế giới Tất-đàn, dũng dược tức hoan hỷ. “Vì sao vậy…”: Dùng văn giải thích thân khẩu hỷ làm Vị nhân Tất-đàn. Ba nghiệp tương vọng thân khẩu lại từ Sinh thiện thuyết. Cũng nên từ Phá ác thuyết dùng làm Đối trị, không đề cập đến ý hỷ vì nghĩa phá ác mạnh. Nếu như vậy thì ý hỷ cũng là khả năng tốt nhất sinh hỷ cho nên lại một phen đến. Tiếp, “Ta từ…”: dùng giải thích ý hỷ làm Đối trị, tự trách trừ nghi tức nghĩa phá ác. Tiếp dùng văn thành tựu làm Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. “Chân Phật tử”: Do nhập lý cho nên thành đệ nhất nghĩa. “Lại, căn cứ hỷ tâm làm tứ Tất-đàn”: Tuy lại nêu ba và dùng ba nghiệp lãnh cùng giải mà tóm lại không ra ngoài hỷ. Cho nên, đơn cử từ hỷ để luận bốn lợi ích: “Động vui” là lợi ích Thế giới. “Chưa từng có” là nêu rõ sở đắc hỷ, tức  Vị nhân. “Động giác quán” là nêu rõ phá hỷ xưa, tức Đối trị. “Động nơi hình” là nêu rõ biệt lý hiển, tức Đệ nhất nghĩa. “Vân vân”: là khiến y văn đây giải thích tướng tứ Tất-đàn. Lại thông luận: Vì rằng tướng vui khác thường, cho nên tâm hình đều động. Khác thường cho nên là Thế giới Tất-đàn, động vui cho nên là Vị nhân, trừ nghi cho nên là Đối trị, nhập lý cho nên là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.

* Trang 811 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719