LOGO VNBET
DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH VĂN CÚ
                 QUYỂN 10
                (Phần Hạ)


Phẩm Thứ 21: NHƯ LAI THẦN LỰC

 
“Như Lai”: trên đã giải thích. “Thần” là không thể đo lường, “Lực” là tài năng lực công dụng. Không thể đo lường tức bản thể sâu xa tự nhiên, tài năng công dụng tức sức mạnh chuyển biến. Trong đây vì phó chúc Pháp sâu xa, hiện mười thứ đại lực cho nên gọi là “phẩm Thần lực”. Từ phẩm này trở xuống gồm có tám phẩm là Phó chúc lưu thông. Phẩm này nêu Bồ-tát nhận sứ mệnh hoằng kinh, phẩm tiếp là Như Lai xoa đầu Chúc Lụy. Văn có trường hàng và kệ tụng. Trường hàng chia làm ba: 1. Bồ-tát nhận sứ mệnh. 2. Phật hiện thần lực. 3. Kết luận cần khuyến trì. Phần đầu: Trước, là kinh gia trình bày nghi thức cung kính. Tiếp, là phát thệ nguyện hoằng kinh.
Hoằng kinh chia làm ba: 1.Thời tiết: sau Phật diệt độ. 2.Nơi chốn phân thân: các nước. 3. Thệ nguyện: chẳng những phụng mạng lợi tha, mà còn tự lợi, nguyện đây là chân thật thanh tịnh đại pháp gồm cứu giúp đều tốt đẹp.
 Từ “Lúc đó Đức Thế Tôn” trở xuống, là phần hai: Hiện mười thần lực, chia làm hai: 1.Nêu đại chúng. 2.Chánh hiện thần lực. “Văn- thù-sư-lợi v.v…” là Tích hóa chúng. “Cựu trú”: là hạ phương Bản hóa chúng. “Nhất thiết”: là chúng phương khác đến và theo Phật phân thân đến.
Hỏi: “Chỉ thấy hạ phương phát nguyện mà không thấy Văn-thù v.v… phát nguyện, là sao?”
Đáp: Văn trên nói: “Cõi ta tự có Bồ-tát năng trì kinh này”, tức đã gồm Văn Thù v.v…
- Mười thần lực:
1. “Bày tướng lưỡi” Kinh này diễn “khai tam hiển nhất”, trong bí ngoài hiện, “phế cận hiển viễn”, nêu ba đời lợi vật đều chắc thật chẳng

* Trang 469 *
device

 hư dối, người có phước đức thì lè lưỡi chạm đến mũi, theo Tam tạng thì Phật lè lưỡi chạm đến mé tóc. Kinh này thì nói lưỡi Phật dài lên đến cõi Phạm thiên, xuất vượt ngoài Phàm Thánh, cùng cực đến đảnh Tịnh thiên, tướng đã khác thường, thuyết càng đáng tin.
2. “Khắp các lỗ chân lông trong thân thể phóng ánh sáng chiếu khắp mười phương” không nơi nào là không sáng, là tiêu biểu trí cảnh tận cùng. Bên trên nói đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ánh sáng vi diệu bắt đầu phương Đông, là tiêu biểu Thất phương tiện ban đầu thấy nhất lý. Nay Bản môn đã xong, phóng tất cả hào quang chiếu khắp tất cả cõi, có thể khiến nhân ban đầu cuối cùng đến Đẳng giác cứu cánh Phật tuệ, phân thân chư Phật cũng lại như vậy.
3.“Tằng hắng”: là trạng thái sắp nói, cũng là tướng thông suốt. Cái chân thật bí mật ẩn dấu hơn bốn mươi năm, nay được giải bày không còn sót đọng. Ta xuất thế chính vì thông suốt đại sự. Vì vậy cho nên, Tằng hắng là muốn đem pháp này giao phó cho các Bồ-tát khiến dẫn dắt lợi ích chúng sinh đời sau, chuẩn bị nói việc này cho nên tằng hắng. Tằng hắng có đủ hai nghĩa: a. Tằng hắng hiểu rõ sự việc. b. Tằng hắng phó chúc cho người.
4. “Khảy móng tay (đàn chỉ)”: là tùy hỷ. Tùy hỷ Thất phương tiện đồng nhập viên đạo, tùy hỷ viên đạo tăng trí tổn sinh, tùy hỷ các Bồ-tát trì đại pháp chân thật thanh tịnh, tùy hỷ đời sau thâu hoạch báu vô thượng. Một đàn chỉ này, theo chiều dọc thì suốt ba đời, theo chiều ngang thì khắp mười phương.
5. “Đất chấn động sáu cách”, tiêu biểu sơ tâm đến hậu tâm sáu phen chấn động vô minh. Ở đây lại tiêu biểu chấn động sáu căn của tất cả mọi người, khiến được thanh tịnh.
6.“Thấy khắp đại hội”: tiêu biểu chư Phật đạo đồng, mà nay cho đến về sau cũng lại như vậy. Bên trên kinh văn đã nói: “Năm ngàn người đứng dậy rời bỏ pháp hội” (phẩm Phương Tiện) và “Ba phen dời trời người để ở cõi khác, hai lần biến mỗi phương (của tám phương) thành hai trăm muôn ức na- do-tha cõi nước” (phẩm Hiện Bảo Tháp), bởi vì đã mất bản tâm thì hiện tại không được lợi ích. Để thích nghi cho nên dùng phi diệt hiện diệt, theo các Bồ-tát hoằng kinh đắc đạo, nhập Phật tuệ, như ở pháp hội đây không khác. Cũng tiêu biểu đời vị lai có Cơ nhất.
7.“Ở giữa hư không lớn tiếng xướng”: tiêu biểu đời vị lai có Giáo nhất.
8. “Nam mô”, qui mạng làm đệ tử Phật là tiêu biểu đời vị lai có Nhân nhất.

* Trang 470 *
device

9. “Các vật rải đó như mây tụ mà đến”: là tiêu biểu vị lai có Hạnh nhất.
10.“Mười phương cõi nước thông đạt không ngại như một cõi Phật”: là tiêu biểu Lý nhất.
Hỏi: Vì sao biết mười tướng tiêu biểu ý hiện tại, lại tiêu biểu ý vị lai?
Đáp: Văn nói: “Ta dùng thần lực Như Lai”, vì phó chúc kinh này vẫn còn không thể tận, là tiêu biểu nghĩa hiện tại tương lai.
 Từ “Bấy giờ Phật bảo đại chúng bậc thượng hạnh” trở xuống, là Kết luận, cần phó chúc. Văn chia làm bốn: 1.Tán thán phó chúc. 2. Kết luận cần phó chúc. 3.Khuyến tương phó chúc. 4.Giải thích phó chúc. Tán thán như văn. Phần kết luận có bốn câu. “Tất cả pháp”: tất cả đều là Phật pháp, đây là kết tất cả đều là diệu Danh. “Tất cả thần lực”: thông đạt, vô ngại đủ tám Tự tại, đây là kết diệu Dụng. “Tất cả bí tạng”: biến khắp mọi nơi đều là thật tướng, đây là kết diệu Thể. “Tất cả việc rất sâu” nhân quả là việc rất sâu, đây là kết diệu Tông. ”Đều tuyên bày nói rõ trong kinh này”. Tổng kết một kinh chỉ có bốn mà thôi! Tóm tắt  điểm trọng yếu mà trao cho. Từ “Cho nên các ông” là tương khuyến phó chúc, như văn. Từ “Vì sao vậy?” trở xuống: giải thích phó chúc. Trên nói “nơi nào có kinh quyển thì nên xây tháp”, trong kinh chủ yếu nói bốn việc. “Đạo tràng”: giải thích “việc rất sâu” bên trên. “Đắc Bồ-đề”: giải thích “tạng bí mật” bên trên. “Chuyển pháp luân”: giải thích “tất cả pháp” bên trên. “Nhập Niết-bàn”: giải thích “thần lực” bên trên. Bốn điểm trọng yếu này thâu nhiếp hết văn kinh, cho nên đều cần phải xây tháp. Tóm lại mà nói: “Đắc Bồ-đề” là Pháp thân. “Chuyển pháp luân” là Bát-nhã. “Nhập Niết-bàn” là Giải thoát. Ba pháp thành bí mật tạng, đức Phật trú trong đó tức là nghĩa “tháp”. Kinh A-hàm nói: “Đức Phật xuất thế chỉ có bốn nơi cần xây tháp: nơi đản sinh, nơi đắc đạo, nơi chuyển pháp luân, nơi nhập Niết-bàn”. Ngồi đạo tràng là nơi Pháp thân sinh, các nơi khác đều như văn.
Kệ có mười sáu hàng: 1.Bốn hàng đầu, tụng mười thần lực. 2. Mười hai hàng, tụng kết yếu. “Vì chúc lụy kinh này” trở xuống, hai hàng: công đức của người, tổng tụng bốn pháp. Từ “Người trì được kinh này, thời là đã thấy ta” trở xuống, tám hàng rưỡi, biệt tụng bốn pháp. Một hàng rưỡi đầu, tụng “tất cả pháp”, trì pháp tức trì thân Phật… Từ “Khiến ta và phân thân” trở xuống, hai hàng: tụng “thần lực”, thần lực khuyến Phật khiến vui mừng. Từ “Chư Phật ngồi đạo tràng” trở xuống, một hàng tụng “bí yếu”. Từ “Có thể hiểu đối các pháp” trở xuống bốn bài kệ, tụng việc rất sâu, thuyết pháp phá sự tối tăm nhập nhất thừa đó là việc Phật rất sâu. Một hàng rưỡi cuối cùng, tổng tụng kết.

* Trang 471 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719