LOGO VNBET
Phẩm Thứ 22: CHÚC LỤY
 
“Chúc” là Phật phó chúc, “Lụy” là phiền tuyên truvền như thế. Đây là từ ý chỉ của Thánh mà đặt tên, nên gọi là “Chúc Lụy”. “Chúc” là cúi đầu thọ nhận lời dặn dò, “Lụy” là bằng lòng mà chẳng lao nhọc, đây là từ Bồ-tát kính thuận mà đặt tên, cho nên nói “Chúc Lụy”. “Chúc” là từ kim khẩu của Như Lai dặn dò, “Lụy” là Bồ-tát thành tâm gánh vác, đội trên đầu. Đây từ trao cho và thọ nhận hợp luận cho nên nói “phẩm Chúc Lụy”. Vì vậy cho nên đức Như Lai tự thân từ tòa đứng dậy, dùng tay xoa đầu trao pháp khó đặng này. Đại chúng cúi mình chắp tay như lời Thế Tôn dạy mà phụng hành, sự trao và nhận đều ân cần đầy đủ, nên gọi là “phẩm Chúc Lụy”. Văn chia làm hai: 1. Phó chúc; 2.Thời chúng hoan hỷ.
 Phó chúc chia làm ba: 1. Như Lai phó chúc. 2. Bồ-tát  lãnh thọ. 3. Xong việc xướng giải tán.
Như Lai phó chúc lại có ba: 1.Chánh phó. 2.Giải thích phó. 3. Răn phó. - Chánh phó: đức Phật dùng một bàn tay quyền trí thiện xảo xoa trên đầu các Bồ-tát thật trí trong ba ngàn ba trăm na-do-tha cõi nước khắp hư không. Như Lai trao cho họ đạo hóa tha, cho nên gọi là tay Quyền trí. Bồ-tát tự hành thọ đạo, cho nên gọi là đảnh Thật trí. Dùng tay xoa đầu như thế tức “thân phó chúc”. Quyền trí đến gần Thật trí, tức “ý phó chúc”. “Mà nói rằng” tức “khẩu phó chúc”. Văn có ý tứ Tất-đàn. “Ta ở trong vô lượng kiếp tu pháp khó được này”: đây là thọ học từ Phật trước “nay đem trao các ông, các ông phải trao truyền pháp này cho tất cả chúng sinh”. Ba lần liên tiếp bảo như thế, tức Thế giới Tất-đàn. “Nhất tâm lưu bố rộng rãi pháp này” tức Vị nhơn Tất- đàn. “Rộng khiến cho đạo tăng trưởng” tức Đối trị Tất-đàn, làm lợi ích chúng sinh tức Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.
Từ “Vì sao vậy?” trở xuống, là giải thích lý do vì sao mà phó chúc. “Có lòng đại từ bi”: là ở nhà Như Lai; “không bỏn xẻn”: tiếc là mặc áo Như Lai, “cũng không sợ sệt”: là tòa Như Lai. “Trí tuệ Phật” là nhất thiết trí, “Trí tuệ Như Lai” là đạo chủng trí, “Trí tuệ tự nhiên” là nhất thiết chủng trí. Ở trong nhà Như Lai, thì năng thí cho chúng sinh ba thứ trí tuệ, cho đến ngồi tòa Như Lai cũng lại như vậy. Là thí chủ như thế cho nên không có tánh bỏn xẻn, cũng không sợ sệt. “Các ông cũng nên thọ học pháp này của Như Lai”, đó gọi là giải thích nêu ý Phật mà phó chúc.
Từ “Ở đời vị lai” trở xuống, là răn phó: Nếu căn sâu trí lợi thì trực

* Trang 472 *
device

 thuyết Phật tuệ. Nếu người nào không kham nổi, thì dùng các pháp sâu xa khác của Như Lai mà chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng. Phật tuệ rất sâu xa, chẳng như các pháp khác. Sáu phương tiện là các pháp khác mà chẳng phải sâu xa. Biệt giáo thứ lớp là các pháp khác, cũng là sâu. Ông có thể dùng các pháp sâu xa khác để trợ giúp giải bày Phật tuệ, tức thiện xảo báo ân Phật, đó gọi là răn phó chúc.
 Từ “Lúc đó các vị đại Bồ-tát” trở xuống, là lãnh thọ.
“Hoan hỷ” là ý lãnh thọ, “nghiêng mình cúi đầu” là thân lãnh thọ, “đều lên tiếng bạch rằng” là khẩu lãnh thọ bao gồm đắc ý lãnh thọ. “Như lời Thế tôn dạy”: là lãnh thọ ý đại thí chủ, tức ở nhà Như Lai. “Sẽ vâng làm đầy đủ” là lãnh thọ ý không bỏn xẻn, tức mặc áo Như Lai. “Xin Thế Tôn chớ lo” là lãnh thọ ý không sợ sệt, tức ngồi tòa Như Lai. Phật đã ba phen phó chúc Bồ-tát ba phen thọ lãnh, đều như văn.
Từ “Lúc bấy giờ đức Phật Thích-ca” trở xuống, là xướng giải tán. Phật Đa Bảo vì làm chứng kinh cho nên đến, nay Tích Bản hai môn đã xong, cho nên phải xin mời trở về như cũ. Phân thân vì mở tháp cho nên tụ tập, việc mở tháp đã xong cho nên khiến phân thân trở về nước cũ. Tháp không thể mở lại, cho nên phân thân đi mà không hiện, tháp còn nghe pháp cho nên đóng mà vẫn còn.
Hỏi: Tháp nếu nghe pháp thì lẽ ra cũng không đóng?
 Đáp: Chứng Chánh thuyết kinh rồi cho nên đóng, nghe Lưu thông cho nên còn.
Từ “Phật nói lời đó rồi” trở xuống, là đại chúng hoan hỷ. Chư Phật vì việc hóa tha tọai nguyện cho nên vui vẻ. Bồ-tát vì tự hành đắc pháp cho nên vui vẻ. Lại, nói người thanh tịnh cho nên vui vẻ, là Phật vậy. Nghe pháp thanh tịnh cho nên vui vẻ, tức Diệu kinh. Nghe pháp thâu hoạch chứng cho nên vui vẻ, tức hiện tại vị lai được lợi ích. Ba việc đầy đủ cho nên “rất vui mừng”.

* Trang 473 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719