LOGO VNBET
Phẩm Thứ 26: ĐÀ LA NI
 
Đà-la-ni, Trung Hoa dịch Tổng trì. Tổng trì là ác không khởi, thiện không mất. Lại dịch Năng chặn Năng trì. Năng trì thiện năng chặn ác, Đây là năng chặn ác ra rìa năng trì thiện ở trong.
Các kinh khai, giá không đồng. Hoặc là chuyên dùng trị bệnh như Na-đạt cư sĩ. Hoặc là chuyên hộ pháp như kinh này. Hoặc là chuyên dùng diệt tội như kinh Phương- Đẳng. Hoặc là dùng chung trị bệnh, diệt tội, hộ kinh, như kinh Thỉnh Quan Âm. Hoặc là Đại minh chú, Vô thượng minh chú, Vô đẳng đẳng minh chú, thì chẳng trị bệnh, chẳng diệt tội, chẳng hộ kinh. Nếu theo phương pháp chung thì cũng nên kiêm dùng. Nếu luận riêng, thì để được hạnh phúc cần nương kinh chớ trái lời dạy. Các sư có khi nói rằng “Chú” là tên các vua quỷ thần, xưng gọi tên vua kia, thì các dân quỷ thần vì kính chủ không dám làm trái, cho nên có thể hàng phục tất cả quỷ mị. Có khi nói “Chú” như mật hiệu trong quân trận, xướng hiệu tương ứng thì không bị trị tội, nếu không tương ưng thì bị trị tội. Nếu không thuận chú thì “đầu vở làm bảy phần”, nếu thuận chú thì không có lỗi lầm. Có khi nói rằng Chú là im lặng bí mật trị ác, ác tự dứt. Ví như có người hèn mọn thấp kém từ nước này trốn qua nước khác nói dối là vương tử, vua nước ấy đem công chúa gả cho. Người ấy thường giận dữ, xử sự khó khăn. Có một người sáng suốt từ nước đó đến, công chúa hỏi chuyện, người kia bảo công chúa: Nếu khi chồng giận, nên nói kệ này: “Không thân thích qua đó, lừa dối hết mọi người, thô ăn là việc thường, sao nhọc lại phải sân?”. Khi công chúa nói kệ ấy xong thì người chồng im lặng hết sân. Về sau, người chồng không còn sân nữa. Công chúa và mọi người chỉ nghe bài kệ ấy mà đều không hiểu ý. “Chú” cũng như vậy, im lặng bí mật ngăn ác, còn các việc khác không biết. Có khi nói “Chú” là mật ngữ của chư Phật như vua đòi “Tiên-đà-bà”, tất cả quần thần bên dưới không thể hiểu biết, chỉ có vị thần nào có trí tuệ mới có thể biết được. “Chú” cũng như vậy, chỉ là một pháp mà khắp có các lực, bệnh lành, tội trừ, thiện sinh, đạo hợp. Vì nghĩa này cho nên vẫn giữ nguyên bản âm, người dịch không dịch ý nơi đây. Vào đời ác hoằng truyền kinh gặp nhiều nạn phiền não khó khăn cho nên dùng chú hộ khiến cho đạo lưu thông.
Văn chia làm bốn:
1.Hỏi công đức trì kinh.
2.Đáp rất nhiều.
3.Xin dùng chú ủng hộ.

* Trang 487 *
device

4. Nghe phẩm này được lợi ích.
Phần hỏi: như văn. Phần Đáp có cách lượng Bản. Hỏi:  nhiều không?  Đáp: rất nhiều, nêu ra công đức như văn. Xin được thuyết chú có năm phen.  1. Dược Vương. 2. Dõng Thí. 3. Tỳ-sa-môn. 4. Trì quốc thiên vương. 5. Mười vị La-sát nữ.
Phần Dược Vương chia làm bốn: 1.Thỉnh. 2.Thuyết. 3.Tán. 4. Ấn. Dưới theo lệ có ba, như văn.
Phần mười La-sát nữ chia làm năm. 1. Liệt danh. 2. Thỉnh thuyết. Tán. 4. Thệ. 5. Ấn.
“Dạ-xoa” dịch là Tiệp-tật quỷ. “La-sát”, Trung hoa dịch là quỷ ăn thịt người. Hai bộ này là Bắc phương sở lãnh. “Phú-đơn-na” là Nhiệt bệnh quỉ, Kết giá là Khởi thi quỉ, hoặc nhân hoặc Dạ-xoa đều có quỉ này. “Tỳ-đà-la” là quỉ sắc đỏ, “Kiền-đà-la” là quỉ sắc vàng, “Ô-ma- lặc” là quỉ sắc đen, “A-bạt-ma-la” là quỉ sắc xanh. Như nhánh cây A-lê rơi xuống đất đầu vở làm bảy phần, giết cha mẹ phá Tăng là ba nghịch tội. “Hoa ép dầu”: phong tục Ấn Độ, ép dầu thì trước giã nhỏ mè, ủ kh- iến sinh trùng rồi sau mới ép, làm như thế để chất dầu tiết ra càng béo. Vì sát hại quá nhiều trùng, nên tội này càng nặng. Nếu cân lường dối người thì tội đây cũng không nhẹ.

* Trang 488 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719