LOGO VNBET
  VĂN CÚ KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
                     QUYỂN 5
               (Phần Thượng)

 
Phần hai: Từ “Xưa ta ngồi đạo tràng” xuống, mười bảy hàng rưỡi tụng thiết lập phương tiện hóa độ, đây chia làm hai phần:
1.Sáu hàng rưỡi, nêu Phật nghĩ dùng Đại thừa, dự tính hóa độ nhưng không được.
2.Từ “Liền nhớ Phật quá khứ” xuống mười một hàng, nêu niệm đồng chư Phật dùng tam thừa giáo hóa xứng hợp có thể được.
-Trong sáu hàng rưỡi của phần một lại chia làm ba:
1.Một hàng rưỡi, nêu nghĩ rằng dùng Đại thừa thích nghi.
2.“Chúng sinh” xuống ba hàng, nêu chúng sinh không có căn cơ.
3.“Ta liền tự suy nghĩ” xuống hai hàng nêu nghĩ rồi thôi dùng Đại thừa giáo hóa.
“Xưa ta ngồi đạo tràng”, chí lý thì không có thời gian, tạm mượn thời gian để hóa độ chúng sinh, vì ban đầu hóa độ nên nói là “xưa”. Giải thích theo sự:
1.Ban đầu ngồi nơi này tu trị đắc đạo, cho nên nói “đạo tràng”, ngồi dưới gốc cây tu đắc Tam Bồ-đề cho nên nói “đạo thọ”. Cảm ân cây, cho nên “quan sát” nghĩ đến đức của đất cho nên “kinh hành”. Khi thành đạo báo đền ân, muốn dùng pháp Đại thừa, nghĩ rằng thích nghi chúng sinh. Quán tâm giải thích: Thọ tức đại thọ mười hai nhân duyên, quán sâu duyên khởi, tự thành Bồ-đề, muốn dùng rừng cây pháp vô lậu che chở chúng sinh, cho nên nói quán thọ (xem cây). “Kinh hành”: Là pháp hành đạo trong ba mươi bảy phẩm Đại thừa, tự dùng đạo phẩm vượt tất cả địa, đắc thành Phật đạo, muốn dùng pháp này hóa độ chúng sinh vì vậy cho nên khởi hành. Thọ, địa không có phân biệt, đâu cần báo ân? Kinh Vị Tằng Hữu nói: Chỉ dùng thông hóa truyền pháp, gọi là báo ân. Kinh Quá Khứ Nhân Quả nói: Khi Đức Phật mới thành đạo, bảy ngày đầu tư duy pháp ta vi diệu không có người lãnh thọ, tuần thứ hai tư

* Trang 196 *
device

duy chúng sinh thượng trung hạ căn, tuần thứ ba tư duy nên thuyết pháp cho ai nghe trước, liền đi đến thành Ba-la-nại vì năm anh em Kiều-trần- như mà thuyết Tứ đế, Kiều-trần-như đắc pháp nhãn tịnh. Ác-ty-bạc-đề, Thập lực Ca-diếp, Ma-ha-nam, Câu-lợi chưa đắc đạo. Phật thuyết Tứ đế lại lần nữa thì bốn vị ấy đắc pháp nhãn tịnh. Đức Phật lại thuyết pháp ngũ ấm vô thường, khổ, không, vô ngã, thì cả năm người đều đắc A-la-hán. Đức Phật là Phật bảo, Tứ đế là Pháp bảo, năm người và Phật là sáu A-la-hán, tức là Tăng bảo.
Sớ của ngài Tiểu Vân nói khi Đức Phật mới thành đạo thì ba tuần đầu Đức Phật đã thuyết kinh Pháp Hoa. Văn dưới nói Đức Phật Tú Vương Hoa Trí ngồi dưới gốc cây Bồ-đề bảy báu thuyết kinh Pháp Hoa, nên biết nay Phật dưới cây Bồ-đề cũng thuyết Kinh Pháp hoa mà chúng sinh độn căn không kham nổi, thuận đồng chư Phật khai tam thừa giáo hóa, sau ở tại thành Vương xá thuyết nhất thừa. Nếu tìm ý của bậc trí, thì xưa dưới cây Bồ-đề thuyết Phật tuệ, sau các chỗ khác cũng thuyết Phật tuệ. Theo lệ như nay Đức Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm, sau thuyết Kinh Pháp Hoa, cho nên văn nói “mới thấy thân ta, nghe pháp ta thuyết, liền nhập Như Lai tuệ, trừ bỏ sự tu tập học theo Tiểu thừa trước”, nay cũng khiến nhập Như Lai tuệ, cùng nghĩa đây đồng.
Năm Tỳ-kheo: Các người nữ nghe tiên nhân thuyết pháp. Ác sinh vương sân giận chặt hai cánh tay, xẻo mũi và hai tai của tiên nhân, máu huyết biến thành sữa. Ác sinh vương là Câu-lân (Kiều-trần-như), tiên nhân là Phật. Đức Phật thệ nguyện khiến người ấy được cam lồ, khiến là người nghe pháp đầu tiên.
Hỏi: Vì sao Đức Phật ban đầu vì năm người chuyển pháp luân?
Đáp: Vì Người trước thấy đế, vì người hiện tại thấy, vì người làm chứng, vì Đức Phật hành sự nghiệp cùng với người đồng, vì chư thiên từ trong loài người mà được thiện lợi, vì trong loài người có bốn chúng.
Hỏi: Luân vương xuất thế âm thanh vang dội đến trời Tha hóa tự tại, Kiều-trần-như đắc đạo âm thanh lên đến Phạm thiên, Đức Phật đắc đạo âm thanh vang đến hội Thủ Đà (cõi Tịnh cư thiên). Vì sao vậy?
Đáp: Vì nghiệp thiện, gọi là nghiệp ca tụng, nghiệp xưng tán cha mẹ Sư trưởng, có thượng trung hạ cho nên như vậy. Nếu khiến trời Hữu Đảnh có nhĩ thức, thì âm thanh Phật cũng vang đến tận nơi đó. Luân vương hành thập thiện, thiện sinh cõi Dục thiên, Dục thiên vui mừng vì quyến thuộc của ta tăng thêm. Kiều-trần-như ly dục cho nên âm thanh thấu đến Phạm thiên, Đức Phật tối thắng đến ni-tra… Nếu y Đại thừa thì

* Trang 197 *
device

 Đức Phật đắc đạo, âm thanh dội vang đến trăm ức ni tra, lại vang khắp mười phương vô lượng vô biên thế giới ni-tra… Ban đầu chỗ chuyển pháp luân, nơi cội cây Bồ-đề, ban đầu ở dưới cung trời Đao-lợi, nơi dùng đại thần thông biến hóa, bốn nơi này chư Phật đều định, còn các chỗ khác không định. Lại, trừ một chỗ chuyển pháp luân, còn ba chỗ kia đều quyết định. Ba tuần lễ đầu: Xưa nói là Phật suy tư về Lý giáo. Lại, nói khuyên răn… Sư Dao nói: “Sự” rất sâu xa, cho đến Thánh còn tư duy. Sau một tuần tư duy Phật trí vi diệu, tuần thứ hai tư duy chúng sinh căn tánh không đồng, tuần thứ ba tư duy pháp dược vạn loại, liền nêu kệ làm chứng: “Trí tuệ của ta chứng đắc, vi diệu tối đệ nhất, Chúng sinh các căn độn, làm sao mà độ được?”. Nay nêu Đức Phật ở địa pháp thân, tịch mà thường chiếu, thường dùng Phật nhãn nhìn thấu khắp không bỏ nơi nào, đâu phải mới đến đạo tràng trải qua ba tuần mới tư duy sự này! Nói ba tuần là nêu cái muốn tiêu biểu. Tiêu biểu Đức Phật ban đầu muốn ba vòng thuyết pháp, nên tạm nói ba tuần đó thôi! Tuần đầu tư duy pháp thuyết, tuần thứ hai tư duy thí thuyết, tuần thứ ba tư duy nhân duyên thuyết, đều không có căn cơ nào mà không đắc. Vì vậy cho nên dừng Đại thiết lập Tiểu. Đây là căn cứ riêng Đại thừa Viên giáo mà giải thích. Nếu thông thường căn cứ Đại thừa giải thích, thì tuần đầu tư duy muốn thuyết Đại thừa Viên giáo, tuần thứ hai tư duy muốn thuyết Biệt giáo, tuần ba tư duy muốn thuyết Đại thừa Thông giáo, đều không có căn nào mà không đắc, cho nên ngưng Đại thừa thuyết Tam tạng Tam thừa, là phương tiện giáo hóa.
Quán tâm giải thích: ban đầu muốn quán Trung đạo, nhưng Trung đạo vi diệu khó quán cho nên không dùng được. Tiếp đến muốn quán Tức giả, nhưng mà Tức giả thì quán phân biệt trí khó sinh cho nên không dùng được. Sau quán Tức không, nhưng Tức không thì khéo độ, lại cũng không dùng được. Thì mới quán phương tiện, phân tích pháp tiểu quán…
2.Từ “Chúng sinh các căn độn” xuống ba hàng nêu chúng sinh không có căn cơ phù hợp. Văn lại chia làm ba phần:
a. Nửa hàng nêu chướng nặng.
b.Từ “Các hạng người như thế” nửa hàng, nêu không kham nghe.
c.Từ “Bấy giờ các Phạm vương” hai hàng, nêu các Phạm vương thỉnh thuyết Đại thừa Đức Phật biết chúng sinh không có căn cơ cho nên không thuyết,
3.Từ “Ta liền tự tư duy” xuống hai hàng, nêu nhớ nghĩ muốn

* Trang 198 *
device

không giáo hóa. Văn lại chia làm hai phần: Một hàng rưỡi đầu, nêu người không căn cơ mà gượng thuyết, thì người nghe bị tổn hại. Nửa hàng sau, nêu không giáo hóa.
Phần kệ tụng thứ hai: Từ “Liền nhớ Phật quá khứ” xuống có mười một hàng, tụng bên trên nói “đối với nhất Phật thừa phương tiện thuyết tam”. Văn chia làm hai phần:
1.Mười hàng đầu, chính nêu hóa độ được.
2.Một hàng, giải thích nghi.
-Mười hàng đầu lại chia làm bốn phần:
1..Một hàng, nêu nghĩ rằng tam thừa thích nghi.
2.Từ “Lúc ta nghĩ thế đó” xuống sáu hàng rưỡi, nêu có căn cơ.
3.Từ “Tư duy việc đó rồi” một hàng rưỡi, nêu thiết lập giáo hóa.
4.Từ “Đó gọi chuyển pháp luân” một hàng, nêu thọ hành.
“Liền nhớ Phật quá khứ” tức suy nghĩ chúng sinh kia tuy không có căn cơ Đại thừa nhưng không thể chấp nhận vĩnh viễn bỏ chúng, nên cần phải dùng phương tiện mà dẫn dụ cứu giúp. Chẳng phải Phật không biết khai tam, mà muốn dẫn đồng chư Phật, cho nên nói “tầm niệm (liền nhớ)”.
“Lúc ta nghĩ thế đó” sáu hàng rưỡi, nêu có căn cơ Tiểu thừa. Đây lại chia làm hai: Bốn hàng rưỡi đầu, nêu chư Phật tán thán. Hai hàng sau, nêu đức Thích-ca đáp thuận theo chư Phật. Trên muốn giáo hóa Đại thừa mà chúng sinh ấy không có căn cơ cho nên chư Phật không tán thán. Nay muốn thuyết Tiểu thừa hợp với căn duyên, thì từ đầu đến cuối đều được độ, do đó chư Phật tán thán.
Trong bốn hàng rưỡi “Chư Phật tán thán” chia làm năm:
1.Ba câu, đức Thích-ca tự trình bày chư Phật hiện. Phật hiện là do niệm Phật phương tiện lực, cho nên hiện. Hiện do thuận theo hai nghĩa: dự định pháp nói và hợp căn cơ cho nên Phật hiện.
2.Từ “Lành thay! Đức Thích-ca” xuống một hàng và một câu, nêu chính chư Phật tán thán đức Thích-ca năng ẩn Thật thiết lập Quyền, cho nên nói “Lành thay!”. Vì một mà thiết lập ba dẫn nhập Phật tuệ, tức là:“Bậc đạo sư đệ nhất”. “Đắc pháp vô thượng ấy” tức là đắc thật trí vi diệu đệ nhất. “Mà dùng sức phương tiện” là tùy theo tất cả Phật mà ẩn Thật dùng Quyền.
3.Từ “Chúng ta cũng đều được” xuống một hàng, nêu chư Phật cũng ẩn Thật dụng Quyền, như văn.
4.Từ “Trí kém ưa pháp nhỏ” xuống một hàng, song song giải thích hai nghĩa: vì chúng sinh trí kém không kham nghe Đại thừa cho

* Trang 199 *
device

 nên ẩn Thật, mà lại ưa pháp nhỏ cho nên thiết lập Quyền.
5.Từ “Tuy lại thuyết tam thừa” xuống nửa hàng, song kết hai nghĩa: tuy lại thuyết tam, cuối cùng là hiển Thật.
Từ “Xá-lợi-phất nên biết” xuống hai hàng, nêu đức Thích-ca đáp thuận theo, đã nghe chư Phật tán thán nên đáp lại nói ”Nam mô”. Nam mô, Trung hoa dịch ”Kính tùng”nghĩa là ”Xin tuân theo”. Lại chia làm hai:
1.Một hàng phát khởi lời đáp thuận theo.
2.Một hàng, nhớ nghĩ tùy thuận căn cơ chúng sinh.
Từ “Tư duy việc đó rồi” xuống một hàng rưỡi, chính nêu thi hành việc giáo hóa. “Các pháp tướng tịch diệt, không thể dùng lời bày” xuống, đây là tụng “lý trung đạo Phật chủng vô tánh” nói bên trên. Lý này chẳng tính số, cũng không thể nói, mà nay dùng phương tiện thuyết tam thừa. Lại, chẳng sinh chẳng diệt, mà dùng phương tiện thuyết sinh diệt. Lại, lý thiên chân cũng không thể chỉ bày tuyên thuyết, mà dùng phương tiện cho nên thuyết bốn môn. Ban đầu vì năm người mà thuyết Hữu môn vô thường.
Một hàng: từ “Đó gọi chuyển pháp luân” trở xuống, nêu thọ hành ngộ nhập. Chuyển pháp hóa tha trong tâm Phật, độ nhập vào tâm người khác, gọi là “chuyển pháp luân”. Kiều-trần-như ban đầu đắc Kiến đế, tức đoạn Kiến hoặc, phần chứng Diệt đế, cũng là phần đắc Hữu dư Niết-bàn. “Tiếng Niết-bàn” khởi tự nơi đây, do đó được thành Vô học, bèn có tên “La-hán“. Năng thuyết pháp tam thừa, gọi là Phật. Tam thừa được thuyết, tức là Pháp. Kiến đế La-hán…, gọi là Tăng. Tam bảo do đó xuất hiện ở thế gian.
Từ “Từ kiếp xa đến nay” trở xuống một hàng, giải thích nghi. Nghi thầy thì nói: Phật ban đầu chưa xem xét căn cơ liền nhớ chư Phật, mới biết căn tánh? Tức giải thích rằng: Chẳng phải ta không biết dùng phương tiện, đặt biệt muốn dẫn đồng chư Phật, cho nên “niệm (nhớ) chư Phật”, chẳng phải nhớ mới biết, mà“từ kiếp xa đến nay” ta đã thấu biết chúng “ưa chuộng pháp nhỏ”, và ta cũng vì chúng tán thán, chỉ bày khiến cho chúng hết các khổ, do đó nghe Tiểu thừa liền được giải thoát. Nghi đệ tử thì nói: Tại sao chúng sinh một đời vừa nghe liền chứng La- hán? Tức giải thích: “Từ kiếp xa đến nay” Phật đã vì chúng tán thán chỉ bày, nay xứng với huân tập xưa cho nên mau đắc đạo. Xưa nói, Kệ đây liên quan đến nghĩa thọ lượng. Nay nêu luận về ý bí mật, hoặc sẽ như đây nêu ý hiển lộ thọ lượng thì không đúng. Vì sao nhất định nêu thọ lượng? Đức Di-lặc còn tự không biết? Thế nào là huyền chỉ của một kệ

* Trang 200 *
device

trong đây? Nay chỉ dùng giải thích nghi mà tiêu hóa được văn kinh.
Phần ba: Từ “Ta thấy các Phật tử” xuống sáu hàng, tụng hiển Thật bên trên. Văn có đủ Tứ nhất:
-“Ta thấy các Phật tử” trở xuống,hai hàng, tụng Nhân (người)nhất. Người tu hành tam thừa đều là Phật tử. Văn trên bao gồm các ý kia.
-“Ta liền nghĩ thế này” trở xuống, một hàng tụng Lý nhất. “Vì thuyết Phật tuệ”, tức là trên nói “nhất thiết chủng trí Phật tri kiến”.
-“Xá-lợi-phất nên biết” trở xuống, hai hàng, tụng Giáo nhất. “Chỉ nói đạo vô thượng” tức Giáo nhất.
-“Bồ-tát nghe pháp ấy” trở xuống, một hàng, tụng Hạnh nhất. “Cũng đều sẽ thành Phật” là Hạnh nhất.
Lại, sáu hàng tụng này chia làm bốn ý:
1.Hai hàng nêu rõ căn cơ Đại thừa phát sinh, cũng gọi là cầu quả.
2.Hai hàng và một câu nêu đức Phật hoan hỷ vì chúng sinh đắc đạo Đại thừa lợi ích.
3.Ba câu, chính nêu hiển Thật.
4.Một hàng thọ hành ngộ nhập.
Ý 1: Nói rõ do căn cơ phát sinh cho nên cầu quả, cầu quả do căn cơ sinh. Đây ứng với bốn câu:
1.Tự có chướng trừ, mà căn cơ chưa phát, như các La-hán ở trong thời Tam tạng, do ưa Tiểu (pháp nhỏ) cho nên trược chướng tuy trừ nhưng Đại căn còn ám độn, nên diệu cơ chưa phát.
2.Tự có Đại cơ phát, nhưng chướng chưa trừ, như các người phàm phu trong thời Pháp Hoa, tuy chưa đoạn kết nhưng do Đại căn lợi, cho nên căn cơ phát.
3.Tự có chướng liền trừ, cơ liền phát, như khi thuyết kinh Vô Lượng Nghĩa, thì những người chứng quả nhị thừa ngồi tại pháp hội này, Đại cơ liền phát.
4.Tự có chướng chưa trừ, Đại cơ chưa phát, tức năm ngàn người bỏ đi.
 “Chí quyết cầu Phật đạo”, tức là cầu Đại thừa chẳng cầu quả Tiểu thừa
“Cầu” có ba ý:
1.Nghĩa Đại căn cơ, có cảm quả nên cầu. Đây là trong căn cơ luận nghĩa cầu.
2.Trong tâm bí mật cầu, là đắc hay là không đắc, tức ý đây.
3.Phát ngôn cầu, tức là ân cần ba phen thỉnh. Xưa trong giáo đã

* Trang 201 *
device

có hai phen thỉnh cầu, nhưng chưa phát ngôn, đến ngày nay đầy đủ ba lần cầu xin.
Hỏi: Xưa nói ra khỏi nhà lửa cầu xin ba xe, là căn cơ, tâm tình cầu xin. Văn kinh nói: “Như lúc trước đã hứa cho”, đây mới cầu xin ba xe, đâu có liên quan đến cầu một?
Đáp: Ra ngoài nhà mà không thấy, ắt có cách khác, đem xưa hứa cho ba để cầu ý khác đó thôi! Cũng được là cầu một.
“Đều đem tâm cung kính, đồng đi đến chỗ Phật”, có ý kiến cho rằng: Hổ thẹn Tiểu, hâm mộ Đại thừa. Vì đại cơ cảm Phật, cho nên nói “đến chỗ Phật”. Nay nói rõ không phải chỉ có Đại cơ đén chổ Phật, mà tất cả đều đến, như trong hội khi Phật sắp thuyết kinh Vô Lượng Nghĩa thì bốn chúng vây quanh chắp tay cung kính muốn nghe đầy đủ đạo. “Từng đã theo chư Phật, nghe thuyết pháp phương tiện”, đây là hàng Trung căn mới bắt đầu nếm vị điều phục thọ hành Tam tạng, Lục độ, Thông, Biệt… tam giáo phương tiện, do đây điều hòa thuần thục khiến cho chướng trừ, căn cơ phát sinh mà cầu Đại thừa.
Ý 2: “Ta liền nghĩ thế này” xuống hai hàng một câu, là nêu chướng trừ Phật hoan hỉ. Phật vì Phật tuệ cho nên xuất hiện. Xưa chúng sinh chướng nặng không có căn cơ, nên không thuyết Phật tuệ được, thời gian giữa tuy chướng trừ cũng chưa thuyết được, nay căn cơ phát sinh, chính là lúc thuyết. Xưa chúng sinh “căn độn trí nhỏ”, sợ họ phỉ báng pháp rơi vào đường ác cho nên chưa phải thời thuyết. Nay căn lợi chí cầu Đại thừa, nghe ắt tin hiểu, cho nên Đức Phật hoan hỷ. “Vô úy”: là không sợ chấp Tiểu phỉ báng Đại, khởi tội đoạ đường ác, cho nên nói vô úy.
Ý 3: “Ở trong hàng Bồ-tát” xuống ba câu, chính hiển Thật. Ngũ thừa là cong mà chẳng thẳng. Thông Biệt thiên một bên mà chẳng chánh. Nay thiên lệch cong đó đều xả, chỉ thuyết một đường chánh trực.
Ý 4: “Bồ-tát nghe pháp ấy” xuống một hàng, nêu thọ hành ngộ nhập. Hai hạng Bồ-tát là Lục độ và Thông giáo, ban đầu nghe lược thuyết thì động cái chấp cũ vướng cái nghi mới. Nay đều đã bỏ. Chẳng phải riêng Bồ-tát, mà hàng nhị thừa cũng như vậy. Nói “Thanh văn đều sẽ làm Phật”, giáo xưa không nói nhị thừa làm Phật, nay do tu hành mà được thọ ký. Thọ ký đâu phải riêng hàng nhị thừa, trừ nghi đâu riêng hàng Bồ-tát. Bảo tồn lẫn nhau thì cả hai đầy đủ.
Hỏi: Bồ-tát vì sao nghi?
Đáp: Tam tạng giáo nói: “trải ba A-tăng-kỳ chưa đoạn Hoặc, một

* Trang 202 *
device

 khi đoạn liền nhập chân”. Thông giáo nói: “Bồ-tát đoạn Chánh sử, còn Tập khí. Tập khí tận, thì thành Phật”.
Ban đầu nghe lược thuyết đều gọi là phương tiện. Cái Chân thật xưa, cái thành tựu xưa, trọn biết thì an lạc thay! Lại, tam thừa đồng học một đạo, do ý gì mà có sai biệt! Nay nghe Pháp Hoa quét sạch các sự nghi ngờ, không còn một chút nhỏ như hạt cải.
Từ “Như nghi thức nói pháp, của chư Phật ba đời” xuống năm hàng rưỡi tụng tán pháp hy hữu, không phải chính vì làm cơ sở cho thí dụ “nói không dối gạt” bên dưới. Đây chia làm hai phần:
1. hàng tụng phần “diệu pháp như thị” bên trên, diệu pháp là quyền thật. “Như ba đời” tức là dẫn đồng chư Phật dùng Quyền. Quyền là nghi thức dẫn chúng sinh. “Thuyết pháp không phân biệt” là dẫn đồng chư Phật hiển Thật. Đã là thật, thì ngôn ngữ đạo đoạn đâu còn nghi thức? Lại, quyền thật vốn không phân biệt, do vì hạng độn căn tiểu trí nên mới phân biệt quyền thật. Nay trở lại ngộ nhập, Nhất, Tam không hai, tức biết Phật thuyết ba, một mà không phân biệt. Chư Phật đều như vậy, há riêng ta ?
2.Từ “Các Đức Phật ra đời” xuống bốn hàng rưỡi, tụng “Đúng thời mới nói” bên trên, cũng nêu hoa Ưu-đàm như trên. Tụng lại nói hai câu: “Các đức Phật ra đời, lâu xa…” thời lâu xa mới có Phật xuất thế, đây là nêu người khó gặp. Hai câu: “Chánh sử hiện ra đời, Nói pháp này khó hơn” , đây là nêu pháp khó gặp. Như nay Đức Phật xuất hiện hơn bốn mươi năm mới hiển bày chân thật. Hai câu: “Vô lượng vô số kiếp, Nghe…”, đây là nêu nghe pháp khó. Như năm ngàn người chuyển động, phạm âm đầy tai bỏ pháp hội mà đi, nghe há không khó ư? Hai câu: “Hay nghe được pháp này, Người đó…” nêu người tín thọ khó. Khắp trong chúng chỉ có Thân-tử thông đạt trước, hàng trung hạ căn tuy nghe mà chưa hiểu. Nêu hoa Ưu đàm để thí dụ bốn thứ khó nói trên. Chỉ hợp khai là khó, ngoài ra theo lệ có thể hiểu.
Phần năm: Từ “Các ông chớ có nghi” xuống hai hàng rưỡi, tụng “nói không hư vọng” bên trên, lại chia làm hai phần:
1.Một hàng rưỡi, chớ có nghi người đáng tin (Phật).
2.Từ “Xá-lợi-phất các ông” xuống một hàng, đừng nghi pháp đáng tin. “Pháp vương”: Phàm vua nhân gian thì nói đã không hai lời. Đức Phật là đấng pháp vương, thì đâu thể nói hư dối? Hể là phương tiện, tức quyền giả lập; chân thật đâu thể là vọng? Nghe pháp vương thuyết pháp, chớ sinh nghi ngờ.
Xưa nói từ “Xá-lợi-phất các ông” xuống bảy hàng, không tụng

* Trang 203 *
device

đôn đốc tin chỉ là trong chương Thích-ca, ý khuyến tin hoằng truyền kinh. Văn này lại chia hai phần:
1.Năm hàng rưỡi, khiến hoằng dương kinh khiến chúng sinh hành nhân.
2.Một hàng rưỡi lược vì thọ ký. Trong phần một: Một hàng đầu khiến chúng sinh hâm mộ quả hành nhân ắt phải hoằng kinh. Hơn bốn mươi năm ẩn chứa tâm Phật không ai biết được, gọi là “bí”, nhất thừa thẳng đường tổng thâu nhiếp vạn đường, cho nên nói “yếu”. “Bởi đời ác năm trược” xuống một hàng, giải thích pháp bí yếu, nói rằng người chướng nặng trọn không thể hiểu cho nên khiến Như Lai bí mật không vọng tuyên thuyết. Từ “Người ác ở đời sau” xuống hai hàng, nêu thể hoằng kinh, một hàng đầu nêu: người bất thiện thì chớ thuyết cho họ, một hàng sau nói: người thiện thì nên thuyết cho họ. Từ “Xá-lợi-phất nên biết” xuống một hàng rưỡi, song kết hai nghĩa: một hàng đầu tổng kết bí yếu nêu rõ pháp này như vậy, trước “dùng vạn ức phương tiện” rồi sau mới chỉ bày chân thật. Nửa hàng sau tổng kết thể hoằng kinh. “Chúng kia không học tập, nên không hiểu pháp này”, chính là tổng kết, người bất thiện thì chớ thuyết cho họ. Gồm “đối với người tập học thì có thể hiểu”, đây mới có thể vì họ thuyết. Từ “Các ông đã biết rõ” xuống một hàng rưỡi, lược vì thọ ký. Ba câu trên, luận người kia có hiểu biết. Một câu giữa, nêu người kia không mê-hoặc. Nửa bài kệ dưới, nêu người kia được thọ ký, đã có hiểu không mê hoặc, chính nên hoan hỷ làm Phật. Trong đây thọ ký mở ra, làm căn bản cho phần văn dưới: “Thân-tử v.v… đắc ký”. Trong đây hoằng dương kinh mở ra, làm căn bản cho văn dưới: “Phật bảo Xá-lợi-phất lưu thông”. Đây là giải thích theo xưa.
Nay nêu từ: “Bởi đời ác năm trược” xuống sáu hàng, là phần sáu: tụng “chọn lọc chúng đôn đốc tin” bên trên. Trên vui mừng có văn này, vậy cần dùng sao không tụng? Lại chia làm hai phần:
1.Ba hàng tụng chọn chúng.
2.Ba hàng tụng đôn đốc tin.
Phần một: một hàng đầu, tụng trên “chọn lọc chẳng phải đệ tử Phật” bên trên. Vì sao? Vì “ưa các dục” là hành ma nghiệp, cần loại ra. Văn trên nói: “đắm chấp Niết-bàn mà còn chẳng phải đệ tử Phật”, huống gì văn đây nói “đắm chấp sinh tử” thì sao có thể là đệ tử Phật? Lần lượt lựa chọn những người chẳng phải đó thôi! “Trọn không cầu Phật đạo” là tụng “chọn lọc tăng thượng mạn” bên trên. “Thượng mạn” là chưa đắc thượng pháp mà cho là đắc thượng pháp, vì vậy cho nên

* Trang 204 *
device

 người đó không cầu Phật đạo. Từ “Người ác ở đời sau” một hàng, tụng bên trên nói “sau khi Phật diệt độ, người hiểu nghĩa này là rất khó gặp”. Từ “Người tàm quí trong sạch” một hàng, tụng bên trên nói: “nếu gặp Đức Phật khác, thì được quyết liễu”. Ba hàng sau, tụng trên đôn đốc tin. Nếu không tin pháp này, thì không có việc đó. Một hàng rưỡi đầu, đôn đốc tin pháp Quyền. Một hàng rưỡi sau, đôn đốc tin pháp Thật. Thật, Quyền đều không nghi, thì “Tự biết sẽ làm Phật”…

* Trang 205 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719