LOGO VNBET
                               Phẩm Thứ 3: PHẨM THÍ DỤ

Giải thích tổng quát: “Thí” là so sánh. “Dụ” là dạy bảo cho biết. Nhờ đây so sánh kia, nhờ chỗ nông cạn, bảo cho biết chỗ sâu xa. Văn trường hàng và kệ tụng bên trên rộng nêu năm Đức Phật, hàng thượng căn lợi trí trọn nghe thâu hoạch ngộ, hàng trung căn hạ căn mê chấp giữ chặt chưa thông đạt, đại bi không ngừng, xảo trí vô biên. Lại, như cây rung thì bảo cho biết là gió, đưa cái quạt lên để chỉ trăng, khiến cho chúng sinh hiểu ngộ cho nên nói “Thí dụ”.
Giải thích nghĩa riêng: Dùng pháp thế gian so sánh với pháp xuất thế gian, nhân cái đã từng có mà nghe cái chưa từng có, vô cùng hoan hỷ. Như Kinh nói “cha con thế gian” dụ cho thầy trò xuất thế. Lại dùng sinh pháp của thế gian so với sinh pháp xuất thế gian, khiến được âm giáo của Phật, không lầm mất Đại thừa, Như kinh nói: Cha biết tâm trước của các con mỗi người đều ưa thích đồ chơi trân bảo. Lại, dùng pháp diệt của thế gian so sánh với pháp diệt xuất thế. Chỉ đắc vô lậu thì nghe cũng trừ ưu não. Như kinh nói: “Ta là cha của chúng, nên phải cứu chúng hết khổ nạn, khiến tránh khỏi lửa đốt”. Lại, dùng pháp bất sinh bất diệt của thế gian so với pháp bất sinh bất diệt xuất thế, khiến an trụ trong thật trí và ta định rõ các ông sẽ làm Phật, như kinh nói “Cưỡi xe báu ấy thẳng đến đạo tràng”. Nên biết Đức Phật dùng một âm thuyết Thí dụ, khéo khiến hàng trung hạ căn đắc lợi ích nhờ tứ Tất-đàn, cho nên nói phẩm Thí Dụ.
Căn cứ vào giáo giải thích: Ý Phật vốn tán thán Phật thừa, nhưng chúng sinh không kham nổi liền nhớ các Phật trước vì đại bi dùng phương tiện, nên đến vườn Lộc uyển khen ngợi ba xe (nói pháp ba thừa). Hàng nhị thừa do trung hạ căn tự cứu giúp, ân không sánh kịp với người. Bồ-tát dùng xe trâu đưa người khác ra khỏi lửa, cho nên gọi là Ma-ha-tát. Đây là Thí dụ trong Tam tạng giáo. Lại ba hạng người đồng sợ lửa đốt: Thanh văn như dê bỏ chạy thẳng không ngoảnh lại, Duyên giác như nai mẹ vừa đi vừa ngoảnh lại nhìn. Bồ-tát như voi lớn tự mình chống cự đao tên, đưa số đông chúng sinh ra khỏi lửa, an toàn. Kinh Niết-bàn nói: “Thỏ, ngựa”. Đây là Thí dụ trong Thông giáo. Lại, hàng tam thừa phát tâm gần, duyên lý nông cạn, trí tuệ yếu kém, đoạn Thông hoặc, chưa đến chỗ tột cùng, không phải Ba-la-mật. Bồ-tát phát tâm lâu xa, lý sâu trí mạnh, đoạn Biệt hoặc, cùng tột nguồn tận tánh. Đại Phẩm nói: “Hàng nhị thừa như lửa đom đom, Bồ-tát như ánh sáng mặt trời”. Đây là Thí dụ trong Biệt giáo. Lại nữa, “xưa thấy thân ta nghe pháp

* Trang 206 *
device

 ta thuyết, thì đều tín thọ nhập Như Lai tuệ”, hạng người đó dễ hóa độ, không khiến cho Như Lai phải nhọc sức. Như trong Hoa Nghiêm, tức sự là chân, không cần thí dụ. Vì những người chưa chứng nhập, nên hơn bốn mươi năm Phật dùng phương tiện khác trợ giúp để hiển bày đệ nhất nghĩa, nay tại thành Vương Xá quyết định thuyết Đại thừa, khiến cho tất cả đều khai thị ngộ nhập Phật trí tuệ, không khiến một hạng người riêng được diệt độ. Như nay như xưa, như xưa như nay, không hai không khác. Hàng thượng căn lợi trí, nghe liền hiểu được, không khiến cho Như Lai khổ nhọc cũng không cần thí dụ. Chỉ vì hàng trung căn hạ căn động chấp sinh nghi, chần chừ đi vào đường rẽ, nên nay dùng thí dụ xe lớn khiến họ được lợi ích. Đó là Thí dụ trong Viên giáo.
Căn cứ vào Bản tích và Quán tâm để giải thích, thì theo lệ thường có thể hiểu, không cần ghi chép…
Pháp thuyết có năm đoạn kinh văn: Đoạn một mới vừa xong, bốn đoạn còn lại vẫn chưa rõ. Phẩm này đáng lẽ ở sau phần chư thiên thuyết kệ và trước thí dụ nhà lửa. Người soạn kinh phân quyển để đầu phần lãnh giải. Lại có người nói: vì phát khởi trung căn nên để đầu quyển thứ hai. Như sáu điềm lành vấn đáp là Pháp thuyết, làm tựa. Lãnh giải được thọ ký là Thí thuyết, làm tựa. Đây là thuận theo nhân tình đó thôi. Vì đặt phẩm này sau phần Pháp thuyết, hàng trung căn có thể không ngộ ư? Đây là đoạn Lãnh giải, thọ lãnh những điều đã nghe, thuật lại điều đã hiểu. Văn trường hàng thì lãnh cùng giải hợp thuyết, trong kệ thì lãnh và giải đều trình bày, cho nên nói đoạn lãnh giải.
Văn có hai phần: 1.Kinh gia trình bày. 2.Thân-tử tự trình bày. Phần Kinh gia trình bày lại có hai phần là trong hiểu, ngoài hiện uy nghi. Trong tâm hiểu gọi là “hỷ”. Hỷ cho nên động nơi hình thể, gọi là “hớn hở”. Từ diệu nhân mà nghe diệu pháp rồi đắc diệu giải. Nếu gặp một điều may mắn mà còn hoan hỷ, huống chi ba điều hoan hỷ đầy đủ, thì sao không hớn hở? Văn nói: “Nay theo đức Thế Tôn, nghe được pháp âm này trong lòng hớn hở“. Trong ngoài hòa hợp cho nên được cái hoan hỷ này, tức là giải thích theo Thế giới Tất-đàn. Lại, thay đổi Tiểu học theo Đại, bỏ thảo am bần sự, thọ nhận gia nghiệp giàu sang. Văn nói “ngày nay mới biết thật là Phật tử”, vì vậy cho nên hoan hỷ. Đây là giải thích theo Vị nhân Tất-đàn. Lại lo lắng hối hận cả hai nghi nạn đều trừ, chướng ngại trong ngoài đều dứt, rỗng thênh trong sáng bao la. Văn nói: “Con đã đắc lậu tận, nghe cũng trừ lo khổ” vì vậy cho nên hoan hỷ. Đây là giải thích theo Đối trị Tất-đàn. Lại nói Phật tử đối với cái phải đắc thì đều đã đắc. Văn nói “An trú trong thật trí, con quyết sẽ

* Trang 207 *
device

 làm Phật”, đây là giải thích theo Đệ Nhất nghĩa Tất-đàn.
Căn cứ vào giáo: xét rằng hoan hỷ là vui mừng vì đã nhập vị. A- la-hán đã vượt sự trói buộc của ba cõi, phá quả nhỏ tứ trụ, đối hại không lo, gặp lợi không vui. Nay nói hoan hỷ thì quyết chẳng phải là hỷ của thế gian. Như Khổ nhẫn đã phát, hoặc là rốt ráo vô học trước đã chứng đắc, nay không nên lập lại cái vui đó. Như ba người đồng tu đạo vô ngôn thuyết, dù Thể pháp, Tích pháp khác nhau mà đồng chứng Nhất trí Tánh Không. Niềm vui Nhất trí ấy chứng đắc đã lâu cũng không vui lập lại. Nếu nhị Không quán làm phương tiện đạo, thì Giả quán dẹp sạch thiển cận của Nhị thừa. Không quán dẹp sạch huyên náo chật hẹp của phàm phu. Vượt qua cái lỗi Nhị biên, được đại hoan hỷ. Căn cứ theo Viên giáo về Ngộ, thì Sơ phát tâm trụ gọi là Hoan hỷ trụ, Sơ hạnh cũng gọi là Hoan hỷ hạnh. Sơ địa cũng gọi là Hoan hỷ địa. Thân-tử đã là bậc thượng căn lợi trí, ắt phải hoan hỷ vì siêu nhập. Nếu không siêu nhập, thì cũng gọi là hoan hỷ. Đây đều căn cứ giáo mà giải thích.
Căn cứ Bản tích mà giải thích: Thân-tử từ lâu xa đã thành Phật hiệu là Kim Long Đà, nay thùy tích thị hiện trợ giúp, đứng bên tay phải của Đức Phật Thích-ca, là đệ tử có trí tuệ đệ nhất. Ban đầu theo ngoại đạo, sau bỏ tà qui chánh. Chỉ bày Nhũ vị, hoan hỷ lợi ích phàm phu. Tiếp, chỉ bày Lạc vị, hoan hỷ lợi ích hiền thánh. Tiếp sau chỉ bày Sinh tô Thục tô, hoan hỷ lợi ích Bồ-tát. Nay làm Đề-hồ nhập tri kiến Phật, hoan hỷ lợi ích cho người học Phật đạo. Các sự hoan hỷ như vậy đều là thùy tích sở vi. Quán tâm giải thích, thì không nêu ra đây.
Trình bày uy nghi bên ngoài: “liền đứng dậy chắp tay” gọi là thân lãnh giải. Xưa thì Quyền Thật là hai, như hai tay không chắp lại. Nay giải Quyền tức Thật, như hai tay chắp lại. “Hướng Phật”: Xưa thì Quyền không phải nhân thành Phật, Thật không phải là quả Phật. Nay giải Quyền tức Thật, thành nhân Đại viên mãn, nhân ắt hướng đến quả, cho nên nói “chắp tay hướng Phật”. “Chiêm ngưỡng tôn nhan”: là tiêu biểu người giải (hiểu) Thật. Thật tức cảnh giới Phật, không phải pháp phương tiện. “Chiêm ngưỡng tôn nhan” thì không có nhớ nghĩ gì khác, là biểu thị “Khai Phật tri kiến”.Ý giải Thật, cũng tức là giải Quyền. Thân lãnh Quyền, cũng giải Thật. Nêu Nhất biên xen kẻ nhau.
Từ “Bạch Phật” trở xuống, là miệng lãnh giải, tức Thân-tử tự trình bày. Văn chia làm hai phần:
1.Trường hàng.
2.Kệ tụng.
Văn trường hàng chia làm ba phần:

* Trang 208 *
device

a.Nêu chương tam hỷ.
b.Giải thích.
c.Kết thành.
-Phần một: Tam hỷ. “Nay con theo Đức Thế Tôn” là nêu thân con thấy thân Phật, cho nên gọi là “thân hỷ”. “Nghe pháp âm này” là nghe từ kim khẩu của Phật mà hoan hỷ, cho nên nói “khẩu hỷ”. “Được điều chưa từng có” là ý con hiểu ý Phật, cho nên gọi “ý hỷ”. Đó là nêu chương tam hỷ.
-Phần hai: Giải thích. Từ “Vì sao” trở xuống, nêu xưa mất, hiển nay được. Từ “Vì sao” cho đến “vô lượng tri kiến”: Nêu xưa không thấy Phật, là “mất”. Xưa Phật thọ ký cho hàng Bồ-tát, mà chúng con không được dự việc đó, thấy Phật nghĩa là lâu xa đã không thấy Phật, cho nên không gọi là thân hỷ. “Nghe pháp như vậy”, như khi mặt trời chiếu núi cao, là mật thì có nghĩa nghe mà hiển thì như điếc như câm, nghe pháp ấy không đắc đạo. Chỉ là trong giáo Phương Đẳng nghe Đại thừa thật tuệ, cùng với nay không khác cho nên nói “nghe pháp như vậy”. “Thọ ký”: Cũng là trong Phương Đẳng thọ ký cho Bồ-tát, hàng nhị thừa không được dự việc đó, nên “tự rất cảm thương” . Các kinh Tịnh Danh và Tư Ích nói: “Nghe tán dương Đại phỉ bỏ Tiểu, thì trong nghi mà ngoài khinh, gọi là cảm thương”. “Mất vô lượng tri kiến Như Lai”, là mất cái thấy (kiến) của Phật nhãn, mất cái biết (tri) của Phật trí. Từ “Thế Tôn” đến “chẳng phải Thế Tôn vậy” là nêu lỗi xưa không nghe pháp, bởi do thân thì ở chốn núi rừng, tâm thì chấp đạo Tiểu thừa, không nghe pháp, cho nên không có khẩu hỷ.  “Con thường ở một mình” là chỗ tư duy lỗi, “đồng nhập pháp tánh” là chính nêu lỗi kia, chấp Nhất lý sở nhập, nghi năng môn của tam giáo. Nhất lý đã đồng, mà ta mất tri kiến. Tam giáo đã khác, mà Bồ-tát được biệt ký. Biệt ký thì Như Lai có thiên vị, do đó thành lỗi. Nay thuật lại lỗi lầm này, nên nói “hối lỗi”. “Đó là lỗi của chúng con”, do con mê Quyền đâu có liên quan gì đến lý giáo, do con mê Thực chẳng liên quan gì đến Phật thiên vị. Truy tìm thuật lại việc sai trái lúc xưa, kính mongï Như Lai tha lỗi, đó gọi là dẫn lỗi về mình. Từ “Vì sao vậy”? cho đến “hằng tự trách mình” là nêu lỗi không hiểu ý, chính vì không đợi Phật thuyết pháp sở nhân, tức không hiểu Thật, lại không biết phương tiện cho nên cũng không hiểu Quyền. Không hiểu cho nên không có ý hỷ. Lỗi lầm xưa đã rõ ràng, nay được tự hiển bày. “Không đợi thuyết sở nhân”, tự trách mình không hiểu Thật, “không hiểu phương tiện” là tự trách mình không hiểu Quyền. “Sở nhân” có hai nghĩa:

* Trang 209 *
device

1.Trước đây không chịu đợi Phật nói pháp.
2.Không dừng lại, đợi về sau để nhận.
“Ban đầu chiếu cao sơn (núi cao)” là nêu trí tuệ tam đế là cái nhân được thành Phật, vì cái nhân này chờ đợi nhắm vào ta, mà ta không chịu thọ nhận, làm mất trước đó. Pháp của chư Phật về lâu sau cần phải thuyết chân thật, ta không dừng lại đợi giữa hai điều này, bỗng nhiên chấp Tiểu thừa không hiểu Quyền Thật, như văn.
“Mà nay theo Phật”… là kết thành tam hỷ, trước kết sau thành. “Theo Phật” là kết thân hỷ, “nghe pháp” là kết khẩu hỷ. “Dứt các nghi hối”, là kết ý hỷ. “Mới biết thật là Phật tử”, nghĩa thân cận Phật thành. “Từ miệng Phật sinh” là kết khẩu thành. “Từ pháp hóa sinh” là kết ý thành. Như đây là tiêu hóa hết văn, giải thích lý rõ ràng.
Lại dùng tứ Tất-đàn để hiểu văn “Nay con theo Đức Thế Tôn” là Thế giới Tất-đàn hoan hỷ. Từ “Vì sao vậy ?” là nêu xưa mất, hiển nay được, là Vị nhân hỷ. Từ “Thế Tôn! Con từ xưa đến nay” là Đối trị hỷ. Từ “Ngày nay mới biết”… là Đệ nhất nghĩa hỷ. Lại, căn cứ tâm hoan hỷ nêu rõ tứ Tất-đàn, Tâm hỷ động hớn hở thường chưa từng có, hỷ động giác quán và lại động nơi hình…
Kệ có hai mươi lăm hàng rưỡi chia làm ba phần:
1.Một hàng đầu, nêu ba điều mừng. Nêu “con nghe pháp này được nhân làm Phật”.
2.Hai mươi hai hàng tiếp giải thích ba điều mừng.
3.Hai hàng rưỡi, tụng phần “kết thành” bên trên.
-Phần hai : hai mươi hai hàng, lại chia làm ba phần nhỏ:
1.Từ “Xưa nay nhờ Phật dạy” trở xuống, một hàng rưỡi, tụng thấy Phật hoan hỷ, văn trường hàng nêu mất tri kiến, trong tụng nêu “không mất Đại thừa”. Trên nói “mất”, đó là luận xa, tụng nói “được” , đó là luận gần. Xen nhau hiện.
2.Từ “Con ở nơi hang núi “trở xuống mười một hàng, tụng trên nói “không nghe pháp” , lại chia làm hai phần:
a.Chín hàng, tụng “thân viễn (xa) cho nên không nghe”.
b.Từ “Con xưa chấp tà kiến”… xuống hai hàng tụng phần: “nhập pháp tánh” bên trên, cho nên không nghe. “Tà kiến” là chấp đắm của phàm phu, “nhập pháp tánh” là chấp đắm của nhị thừa, đều không nghe pháp.
“Con thường trong ngày đêm”, sinh tử là đêm, Niết-bàn là ngày, là trong sinh tử có Niết-bàn, hay là ngoài sinh tử có? Nếu đắc ngộ, thì hai nghi vấn ấy được trừ bỏ. Lại, sinh tử Niết-bàn đều là đêm, nghi

* Trang 210 *
device

 này được trừ thì gọi là ngày, Khi mặt trời hiện thì hai nghi đều trừ. Lại người đời có hai hạng: 1.Mới bắt đầu học, thì học Đại thừa. 2.Tập Tiểu thừa trước rồi mới nhập Đại thừa. Nương sự tướng kia thẳng nhập, là người yếu kém. Theo như trong luận A-tỳ-đàm nhập, là người mạnh hơn. Hàng Bồ-tát cũng như vậy, ở trong Hoa Nghiêm nhập mà hóa đạo có thể yếu kém, từ Ngũ vị chọn lọc mà vào là mạnh hơn.
3.Từ “Mà nay mới tự biết” xuống chín hàng rưỡi, tụng trên nói “tâm đắc diệu giác hỷ”. Trên nêu : “không đợi sở nhân, không hiểu phương tiện”, trong tụng nêu : “đợi sở nhân và hiểu phương tiện”. Nghe sẽ làm Phật, là “sở nhân”. Nghe năm Đức Phật đồng đạo, hiểu ma chẳng phải ma, là hiểu phương tiện. Xen nhau hiển Nhất biên, chương năm Đức Phật, tức là hiểu văn.
Phần ba: từ “Nghe tiếng Phật êm diệu” trở xuống hai hàng rưỡi, tụng trên kết thành như văn.
Từ “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo Xá-lợi-phất: Ta nay” trở xuống, là đoạn thứ ba : Thuật thành. Bên trên thì Thân-tử trình bày đắc ngộ, ở đây thì Như Lai thuật giải chẳng hư dối. Văn chia làm ba:
1.Xưa đã từng giáo đại.
2.Trung gian vọng chấp tiểu.
3.Trở lại vì chúng sinh thuyết Đại thừa.
Sở dĩ dẫn xưa đã từng giáo hóa, thuật lại duyên kia thấy Phật, là vì có thời gian giữa vọng chấp Tiểu thừa, thuật lại duyên lo lắng hối hận nghe pháp kia, nay trở lại vì người mà thuyết Đại, thuật duyên kia ngộ giải không hư dối. Thuật thành ba ý trên. Luận Thập Trụ Tỳ-Bà-Sa nói: Thân vô thượng nghĩa là tướng hảo, Thọ trì vô thượng nghĩa là tự lợi lợi tha, Cụ túc (đầy đủ) vô thượng nghĩa là mạng kiến giới, Trí tuệ vô thượng nghĩa là tứ vô ngại, Bất tư nghì vô thượng nghĩa là lục Ba- la-mật, Giải thoát vô thượng là năng hoại hai chướng, Hạnh vô thượng nghĩa là thánh hạnh phạm hạnh. Lại, Thân vô thượng gọi là đại trượng phu, Thọ trì vô thượng gọi là đại từ bi, Cụ túc vô thượng gọi là đáo bỉ ngạn, Trí vô thượng gọi là nhất thiết trí, Bất tư nghì vô thượng gọi là A-la-ha, Giải thoát vô thượng gọi là đại Niết-bàn, Hạnh vô thượng gọi là Tam-miệu-tam Phật-đà.
Kinh Bồ-tát Anh Lạc quyển mười ba nói: Đạo nên thanh tịnh, uế trược chẳng phải đạo. Đạo phải nhất tâm, nhiều tưởng chẳng phải đạo. Đạo phải tri túc, nhiều ham muốn chẳng phải đạo. Đạo phải cung kính, kiêu mạn chẳng phải đạo. Đạo phải kiềm chế ý, buông thả chẳng phải đạo. Đạo

* Trang 211 *
device

phải hiển bày chiếu sáng, tự ẩn giấu chẳng phải đạo. Đạo phải chuyên chú suốt, không hành chẳng phải đạo. Đạo phải giác ngộ, mê hoặc ngu si chẳng phải đạo. Đạo phải giáo hóa, kiêu căng ích kỷ chẳng phải đạo. Đạo nên thân gần bạn lành, huân tập theo ác chẳng phải đạo. Các thứ như vậy nêu “Đạo vô thượng”. Kinh này lấy viên thông làm “Đạo vô thượng”. Nếu thiên chấp hoặc thứ bậc, thì đều do các kinh khác luận bàn.
“Đêm dài theo ta thọ học”: Xưa tuy được giáo hóa đại thừa mà chưa phá được vô minh, trong tâm tối tăm mê-hoặc theo Phật thọ học, liễu nhân tuy xa mà vẫn còn không mất, huống chi nay thật ngộ, đâu có hư dối, cho nên nói: “từng giáo hóa”. Thuật sự thấy Phật không sai. “Ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sinh vào trong pháp ta” đây có hai ý: Nếu xưa dùng Đại thừa hóa độ thì nay sinh sự hiểu biết về Đại thừa, đây thuộc ý đầu. Nếu khiến tránh thoát đường ác, thì quyền dùng Tiểu thừa dẫn dắt, đây là ý thứ hai. “Ta xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên”, tự mình giữa đường phế bỏ Đại thừa huân tập theo Tiểu thừa, gọi là giữa đường đều quên”, “mà nay bèn tự nói đã được diệt độ” tức là “nay đều quên”. Do ông quên Đại mà huân tập theo Tiểu thừa, cho nên có sự lo lắng hối hận và được nghe pháp không hư dối. “Ta nay lại muốn khiến ông nhớ nghĩ bản nguyện” tức là thuật kia được hiểu không hư dối. Trước thiết lập Quyền giáo, trở thành thiện nhỏ giữa đường, sau hiển chân thật, thỏa mãn tâm Đại thừa bản nguyện kia.
Từ “Ông đến đời vị lai” trở xuống, là đoạn lớn thứ tư: Thọ ký. Trước tự trình bày Phật ấn chứng xong cho nên nói thọ ký. Nếu hiểu được Đại thì tự biết đắc thành Phật, đâu cần phải thọ ký? Thọ ký có bốn ý:
1.Xưa chưa từng thọ ký nhị thừa mà nay phải thọ ký.
2.Hàng trung hạ căn chưa ngộ nên dùng thọ ký để khuyến khích.
3.Khiến cho người nghe kết duyên.
4.Mãn bản nguyện kia, vì vậy cho nên thọ ký.
Có trường hàng và kệ tụng. Trường hàng chia làm mười ý:
1.Thời tiết.
2.Hành nhân.
3.Đắc quả. Có rất nhiều cách giải thích mười hiệu. Đây ghi lại một cách. Không hư dối, gọi là “Như Lai”. Phước điền tốt, gọi là Ứng cúng. Biết pháp giới, gọi là Chánh biến tri. Đầy đủ Tam minh, gọi là Minh hạnh túc. Không còn trở lại đời sau, gọi là Thiện thệ. Biết quốc độ chúng sinh, gọi là Thế gian giải. Không ai bằng, gọi là Vô thượng sĩ. Điều tâm người khác, gọi là Trượng phu. Là mắt của chúng sinh, gọi là Thiên Nhân sư. Biết tam tụ gọi là Phật. Hoại diệt Ma Ba-tuần gọi là

* Trang 212 *
device

 Bà-già-bà (Thế Tôn).
4.Quốc độ.
5.Thuyết pháp.
6.Kiếp danh.
7.Chúng số.
8.Thọ lượng.
9.Bổ xứ.
10.Pháp trụ lâu mau. Đều như văn.
Đại luận quyển bốn mươi tám nói: Ngài Xá-lợi-phất chánh pháp trụ thế ba mươi hai tiểu kiếp. Tam tai, tức là đói khát bệnh tật, đao binh, khiến cho chúng sinh diệt, gọi là tiểu kiếp. Lại, chính ngay thời tiết ấy gọi là tiểu kiếp. Như thuyết kinh Pháp Hoa trải qua sáu mươi tiểu kiếp, cũng là thời tiết số, chẳng phải tam tai diệt vạn vật bên ngoài mới là tiểu kiếp. Kệ có mười một hàng rưỡi chia làm hai phần:
1. Mười hàng đầu tụng chín ý trên, lược không tụng Bổ xứ, có thêm: cúng dường xá-lợi.
2.Một hàng rưỡi là kết tán.
-Phần một: gồm mười hàng. Giải thích chi tiết: Một hàng đầu, siêu tụng đắc quả. Từ “Cúng dường” xuống một hàng, truy tụng hành nhân. Từ “Quá vô lượng” xuống nửa hàng, siêu tụng kiếp danh. Từ “Cõi nước tên” xuống một hàng rưỡi, tụng cõi nước thanh tịnh. Từ “Bồ-tát trong cõi đó” xuống một hàng rưỡi, tụng số chúng Bồ-tát. Từ “Những đại sĩ như thế” xuống nửa hàng, tụng thuyết pháp. Từ “Lúc Phật làm vương tử” xuống hai hàng, tụng thọ lượng. Từ “Sau khi Phật diệt độ” xuống một hàng rưỡi, tụng pháp trụ lâu mau. Từ “Xá-lợi rộng truyền khắp” xuống nửa hàng, cúng dường Xá-lợi. Giải thích xong mười hàng tụng đầu.
-Phần hai: từ “Phật Hoa Quang” xuống một hàng rưỡi, kết tán. “Nên phải tự vui mừng” là thành sơ nhập Hoan hỷ vị. Sơ trụ có thể ở trong thế giới trăm vị Phật, mới làm Phật. Hạnh, Địa thì gấp bội.
Phần thứ năm: Bốn chúng lãnh giải có trường hàng và kệ tụng. Ban đầu kinh gia trình bày chúng hoan hỷ, tiếp đến trình bày cúng dường. Từ “Mà nói rằng” trở xuống, chính lãnh giải, ban đầu lãnh khai Quyền.
Từ “Nay mới lại chuyển pháp luân” trở xuống là lãnh hiển Thật. Kệ có sáu hàng rưỡi, chia làm hai phần:
1.Hai hàng, tụng trên khai quyền hiển thật.
2.Bốn hàng rưỡi, tự thuật được hiểu tùy hỷ hồi hướng. “Chúng ta cũng như vậy” là như Thân-tử lãnh giải, như Thân-tử được thành tựu

* Trang 213 *
device

 thuật, như Thân-tử được thọ ký.
Hỏi: Các đại Thanh văn như Ca-diếp, Thiện Cát (Tu-bồ-đề) mà còn chưa hiểu nổi, thì tứ chúng người nào ngộ trước được?
Đáp: Tứ chúng thiên nhân cũng đầy đủ ba phẩm, thượng căn đồng với Thân-tử, trung căn hạ căn có thể biết. Lại biết rằng Thân-tử, Ca- diếp đều là Quyền hạnh, vì hàng trung hạ căn chưa khai mở, Ca-diếp mãn nguyện thị hiện đồng như không hiểu. Kinh Tịnh Danh nói: “Chúng sinh chưa khỏi bệnh thì Bồ-tát cũng chưa khỏi bệnh”.
Từ “Bấy giờ Xá-lợi-phất bạch Phật rằng” trở xuống là đoạn lớn thứ hai: vì trung căn nói thí dụ. Văn có bốn phẩm: Một phẩm này chánh là Thí Dụ, khai tam hiển nhất, phẩm Tín Giải nêu hàng trung căn được hiểu, phẩm Dược Thảo là Như Lai thuật thành, phẩm Thọ Ký cùng quyết định. Bốn phẩm này đều thuộc phần Thí thuyết. Dưới bốn đoạn đều căn cứ nhân duyên, trình bày nêu rõ duyên buộc châu vào chéo áo mà lãnh ngộ, A-nan dẫn duyên Không Vương Phật mà được thọ ký… Lại, theo lệ thường thì pháp thuyết nên có hạng trung căn tứ chúng hoan hỷ, mà nay không có, thì thứ nhất là do kinh gia, có mà lược bớt, thứ hai là theo lệ, trước sau có thể biết tại văn sau trong phẩm Pháp Sư.
Văn Thí thuyết chia làm hai:
1.Thỉnh.
2.Đáp.
Phần Thỉnh lại có ba:
a.Tự thuật không nghi.
b.Thuật đồng hạng có hoặc.
c.Đều vì bốn chúng, tự thuật như văn.
Đồng hạng tức là đồng hành, nhớ việc xưa cho nên cần phải thỉnh. Tứ chúng là cảnh giáo hóa, nay mới vận tâm đại bi thì đều vì chúng mà thỉnh. Từ “Phật thường dạy rằng“ trở xuống, là chấp tam giáo xưa. Từ “Mà nay ở trước đức Thế Tôn” trở xuống là chấp lý Nhất xưa. Xưa thuyết ba là cứu cánh, nay lại thuyết một là chân thật, mâu thuẫn dẫn đến mê muội, cho nên nói “đều rơi vào nghi lầm”. Có người nói: “Thân- tử nghi cả hai mới và cũ, ngàn hai trăm người chỉ có nghi mới”. Nay cho rằng hàng thượng căn nghi ít, trung căn hạ căn nghi nhiều, vì sao lại hiểu trái ngược?
Từ “Lành thay Thế Tôn!” trở xuống, là vì bốn chúng mà thỉnh. “Nhân duyên” là nhân duyên trước ba sau một.
Từ “Khi ấy Phật bảo ngài Xá-lợi-phất” trở xuống, là phần hai: Phật đáp. Văn chia làm ba phần: Phát khởi, Thí dụ, Khuyên tin.
Phần một: Phát khởi lại có hai:

* Trang 214 *
device

1.Ức.
2.Dẫn.
Ức chế khiến cho chúng uất ức, dũng cảm, dẫn khiến cho mau tiến. Từ “Ta trước há không nói rằng” xuống chỉ trên nêu Quyền, “đều là đạo Bồ-đề” chỉ trên hiển Thật, “đều vì dạy Bồ-tát” là hoặc Quyền hoặc Thật, đều nhập Phật đạo Niết-bàn Vô trụ. Trên đã nói rõ, tại sao còn chấp giáo mê muội tối tăm không hiểu? Trách như thế, chính là văn ức chế. Từ “Nhưng Xá Lơi Phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ” trở xuống, là dẫn dắt an ủi. Trước đã chê bai nghiêm khắc e rằng họ chìm đắm trong oán hận tự khinh mình, cho nên nay sẽ dùng thí dụ để nêu rõ lại nghĩa đó. Nếu người nào có thể hiểu, thì gọi là trí. Phần hai: Thí dụ, thuyết trường hàng và kệ tụng. Trường hàng có Khai thí và Hợp thí. Phần Khai thí không đồng, như trên đã nói, nay chia làm hai: Tổng và Biệt. Tổng thí, ví như chương Thích-ca “nay ta cũng như vậy”, hai hàng kệ lược tụng khai quyền hiển thật. Biệt thí, ví như trong chương Thích- ca, “ta dùng Phật nhãn xem thấy”. Kệ tụng gồm bốn mươi mốt hàng rưỡi kệ, rộng tụng khai Quyền hiển Thật, có sáu ý.
Tổng thí có sáu phần:
1.Trưởng giả.
2.Nhà ở.
3.Một cửa.
4.Năm trăm người.
5.Lửa cháy lên.
6.Ba mươi người con.
1.“Trưởng giả” là thí dụ cho ta, ta tức Phật Thích-ca chủ Nhất hóa. “Nhà lửa” là thí dụ tam giới không an ổn đối lại nơi an ổn trên. “Một cửa” là thí dụ trên chỉ bày cửa Phật đạo. “Năm trăm người” là thí dụ chúng sinh trên. “Lửa cháy lên” là thí dụ đối với pháp ngũ trược bát khổ không an ổn trên. “Ba mươi người con” là thí dụ trên nói biết chúng sinh tánh dục người hành tam thừa.
Thí dụ Trưởng giả có ba: a. Danh, hạnh. b. Vị hiệu. c. Đức nghiệp. Danh (tên gọi) như khách, hạnh như chủ. Hạnh có thân sơ, danh có gần xa, cho nên nêu xứ sở để hiển danh hạnh. Biên giới là nước rất xa, tể trị là ấp ở giữa, tụ lạc là làng xóm rất gần, danh hạnh của trưởng giả vang khắp ba nơi này. Gần thì không thấy sự thấp hèn nhỏ nhen kia, xa thì chỉ rút lui sự cao thượng kia. Miệng không phân biệt lời, thân không phân biệt hạnh, ý không phân biệt pháp. Danh hạnh tương xứng, chân thật là bậc đại nhân. Trong thì hợp với tam nghiệp Như Lai, theo

* Trang 215 *
device

trí tuệ mà hành xứng hợp căn cơ mà bố thí giáo hóa, danh xưng vang khắp đức bao trùm pháp giới. Xưa dùng mười phương hư-không, nơi chốn được từ bi gia bị gọi là nước, tam thiên là ấp, một tứ thiên hạ là tụ lạc. Lại, đại thiên là nước, trung thiên là ấp, tiểu thiên là tụ lạc. Nay đều không dùng. Đại luận quyển sáu mươi nói: “Nhu thuận nhẫn làm tụ lạc, vô sinh nhẫn Tam-bồ-đề làm thành, nhân quả cùng làm thí dụ”. Kinh nay dùng thẳng quả đức làm thí, cõi Thật báo làm nước, cõi Hữu dư làm ấp, cõi Đồng cư làm tụ lạc. Từ bản thùy tích, nhiếp tích trở lại bản. Danh hạnh tương xứng, không có phân biệt chủ khách, sáng suốt rõ ràng tràn đầy biển lớn biến khắp ba cõi.
b.Nêu vị hiệu, chia làm ba: Trưởng giả thế gian. Trưởng giả xuất thế. Quán tâm Trưởng giả.
-Trưởng giả thế gian đủ mười đức: 1.Dòng họ tôn quí. 2. Địa vị cao. 3. Đại phú. 4. Uy mãnh. 5. Trí sâu. 6. Cao (niên) tuổi. 7. Tu hành thanh tịnh. 8. Đủ lễ nghi. 9. Trên tán thán. 10. Dưới nương theo. Dòng họ thì có dòng dõi Tam hoàng, Ngũ đế, gia tộc Tả Điêu Hữu Bộ. Địa vị cao tột thì đến chức Thừa tướng Diêm mai, A Vệ. Phú thì tiền bạc vàng đầy kho, giàu có dư dật, phung phí xa xỉ. Uy là nghiêm trang lạnh lùng long trọng nghiêm túc tự nhiên. Trí thì chứa trong lòng như kho chứa binh khí quyền biến kỳ đặc vượt bực hơn mọi người. Tuổi thì tóc hoa râm, oai phong chững chạc mọi người đều kính nể. Hành động thì trong sáng như ngọc khuê không một tì vết, việc làm như lời nói. Lễ thì chừng mực thứ bực làm phép tắc cho đời. Trên thì là người đáng kính bậc nhất. Dưới thì thiên hạ nương theo. Mười đức đầy đủ như vậy gọi là đại Trưởng giả.
-Trưởng giả xuất thế gian: Đức Phật ở trong ba đời chân như thật tế sinh ra, công thành đạo đủ mười hiệu vô cực, pháp thí tài thí, vạn đức thảy đều đầy đủ, thập lực hùng mạnh, hàng ma chế phục ngoại đạo, nhất tâm tam trí thảy đều thông đạt, sớm thành chánh giác lâu xa như đây, tam nghiệp theo trí vận động không lầm lẫn, đủ oai nghi Phật tâm lớn như biển, mười phương chủng giác cùng khen ngợi bảy thứ phương tiện cùng đến y chỉ, đó gọi là Phật đại trưởng giả xuất thế.
-Quán tâm trưởng giả: Quán tâm là trí tuệ từ nơi thật tướng xuất ra, sinh trong dòng Phật chủng tánh chân chánh, tam Hoặc không khởi, tuy chưa phát chân, đó là mặc áo Như Lai, gọi là Tịch diệt nhẫn, tam đế hàm chứa hết thảy công đức, trí tuệ chánh quán hàng phục ái kiến, trung đạo song chiếu Quyền Thật đều sáng tỏ. Đã lâu tích chứa căn lành, năng tu quán này, quán này vượt lên trên bảy thứ phương tiện.

* Trang 216 *
device

Quán này là quán tâm tánh, gọi là thượng định. Ba nghiệp không lỗi, trải duyên đối cảnh oai nghi không mất. Năng quán như đây là tướng tin hiểu sâu xa. Chư Phật đều hoan hỷ, tán thán người trì pháp, thiên long bốn bộ cung kính cúng dường. Văn dưới nói: “Phật tử trụ địa này, tức là Phật thọ dụng, kinh hành và nằm ngồi”. Đã gọi người này là Phật, đâu không gọi là Quán tâm trưởng giả?
Nay dùng mười đức ghi chép kinh nghĩa đầy đủ mà thiếu một điều. Quốc ấp tụ lạc có đại trưởng giả, ba chỗ xứng tán là Đại, sao chẳng phải tánh tôn quí? Trưởng giả sao không phải địa vị cao? Suy yếu sao không phải tuổi già? Tài phú vô thượng sao không phải giàu sang đầy đủ? Có nhiều ruộng vườn nhà cửa sao không phải trí tuệ thâm sâu? Có nhiều nô bộc hầu hạ sao không phải thế lực mạnh? Nhà kia rộng lớn sao không phải thầy đức hạnh? Chỉ có một cửa sao không phải lễ tiết dạy người một lối đi? Nhiều người ở trong đó, tức nói người dưới nương theo. Chỉ thiếu một điều là thượng nhân được cung kính, nay dùng chữ “Đại” bao gồm ý đó. Người mà mọi người đều biết, nên gọi là “Đại”.
Từ “Tuổi đã già suy” trở xuống, là tán thán đức nghiệp. Đức có trong ngoài, trong thì trí lược ngoài thì của cải. Tuổi cao biết nhiều thông cả xưa nay ví như Trí đức của Phật. Căn già suy mà chí thuần thục, ví như Đoạn đức của Phật. “Tài phú” là dụ cho đức bên ngoài, “vô lượng” là tổng thí vạn đức, “nhà ruộng” là biệt thí. Ruộng (điền) năng nuôi mạng, dụ cho thiền định nuôi dưỡng Bát-nhã. Nhà là chổ để nương thân, cho cảnh thật là chỗ cho trí tuệ nương Tựa. Lược thì có mười tám cửa không, rộng thì vô lượng cửa không. Nếu luận về phước đức thì không hạnh nào mà không tu, nếu luận trí tuệ thì không cảnh nào mà không chiếu, cho nên nói: “Có nhiều nhà ruộng”. “Đồng bộc (Tôi tớ)” là người giúp việc hầu hạ người khác, dụ cho phương tiện tri kiến đều đã đầy đủ. Hòa ánh sáng vào sáu đường chúng sinh, khéo thuận vạn căn cơ, tức tôi tớ của thật trí.
2.“Nhà ông rộng lớn”, Nhà là dụ cho nơi an ổn đối với tam giới không an ổn bên trên. Chúng sinh trong hang hốc đều ở trong nhà tam giới, Như Lai ứng hiện giáo hóa tất cả giống như nuôi họ trong nhà, nên nói “rộng lớn”.
3.“Chỉ có một cửa”: Thí dụ văn trên các pháp môn tuyên bày Phật đạo. Đạo Tràng Quán nói: Lý Thật tướng thì không khác, tuệ cũng thích hợp với Nhất, thoát ra không có đường nào khác, cho nên nói “một cửa”. Sư Pháp Vân ở chùa Quang Trạch nói: Ba cõi tuy rộng, chín, mười giới tuy nhiều, nhưng nếu muốn thoát ra thì chỉ là Phật giáo, cho nên nói

* Trang 217 *
device

 “một cửa”. Nay nêu rõ: Nếu riêng lý làm cửa, mà lý không có thông nghẽn thì nghĩa gì là cửa? Nếu riêng giáo là cửa, thì sao các kinh không nêu ra? Nay chọn lý làm giáo sở thuyên. Văn nói dùng Phật giáo môn, vượt khỏi ba cõi, đắc chứng Niết-bàn. Môn lại có hai loại: Trạch (nhà) môn, xa môn. “Trạch” là sinh tử, “môn” là con đường chính để thoát ra. Đây là thuyên bày giáo lý phương tiện. “Xa” là pháp Đại thừa, “môn” là thuyên bày viên giáo. Nếu Trạch môn là Xa môn thì ban đầu tam xa (ba xe) cứu con cũng tức là đồng ban cho Đại xa (xe lớn). Nếu “môn” là chỗ để mà ra, không phải là chỗ để mà vào, thì nghiệm ra rằng Xa môn và Trạch môn khác nhau.
4.“Năm trăm người” là dụ cho chúng sinh, tức năm đường chúng sinh.
5.“Nhà dưới lầu gác mục” là thí dụ văn trên pháp an ổn đối với pháp không an ổn là năm trược vậy. Trước nêu tướng nhà bị cháy, dụ cho quả báo trong sáu đường, tiếp nêu lửa năng thiêu, dụ cho tám khổ năm trược. “Nhà dưới” ví như Dục Giới, “Lầu gác” ví như Sắc giới và Vô sắc giới. “Vách phên” dụ cho bốn đại, “sụp đổ” dụ cho tổn giảm, “xiêu ngã” dụ cho biến đổi. “Chân cột” dụ cho mạng. “Kèo cột” dụ cho ý thức. “Hư nát” dụ cho nguy hiểm sắp đến. Muốn cho dễ hiểu thì hãy xem: “Nhà dưới” dụ cho thân là phần dưới “gác” dụ cho đầu… là phần trên, “tường vách” dụ cho da thịt, “sụp đổ” dụ cho già yếu, “chân cột” dụ cho hai chân,” mục nát” dụ cho vô thường, “kèo cột” dụ cho xương cốt, “xiêu ngã” dụ cho trăm tuổi, “bốn bề che chắn co duỗi” là dụ cho đại tràng tiểu tràng, lại nói dụ cho tim vậy… “Giáp vòng bốn phía”… là nêu rõ lửa thiêu đốt, tám khổ biến khắp tứ đại tứ sinh cho nên nói “giáp vòng”. Thảy đều vô thường cho nên nói “đồng một lúc”. Bỗng nhiên là dụ cho xưa không nay có, xưa vốn không có khổ này mà do vô minh cho nên có.
6.“Các người con của trưởng giả” trở xuống. “Ba mươi người” là dụ cho bên trên nói: “biết chúng sinh tánh dục”, từng tu tập Phật pháp, tương quan thiên tánh là nghĩa “con”. Tánh dục có sai khác “hoặc mười” là Bồ-tát; “hoặc hai mươi hoặc ba mươi” là nhị thừa. Những căn cơ này đều được ra khỏi nhà, cho nên gọi là “con”. Không có căn cơ này là “năm trăm người”; hoặc giả Bích-chi-phật ẩn hiện không đồng, hoặc thuộc Tiểu thừa hoặc thuộc Trung thừa. Đều nói “mười”, là đều có tánh của Thập trí, cho nên nói: “Trong có trí tánh”. Chỉ vì không có tánh của Như thật trí đó thôi! Ở phần trên thì ba bài kệ trước tụng Thật, sau tụng Quyền, nay trong Tổng thí thì trước Thật sau Quyền…

* Trang 218 *
device

Đại Tập 119, Bộ Kinh Sớ V, Số 1718- 1719