LOGO VNBET
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 131
 
 
 
 
 
 
BỘ KINH SỚ
XVII
 
SỐ 1744 -> 1753
 
 

 
 
 
 
 
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 942 *
device

* Trang 943 *
device

Lời Giới Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
 
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
 
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
 
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay  ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
 
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
 
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương

* Trang 944 *
device

Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
 
  • Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
  • Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
 
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
 
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
 
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
 
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh

* Trang 945 *
device

Lời Nói Đầu
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
 
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
 
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
 
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
 
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
 
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
 
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “

* Trang 946 *
device

quý vị đang có trước mắt.
 
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
 
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
 
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
 
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
 
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
 
P.L: 2544 – (2000)
 
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH

* Trang 947 *
device

NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:

* Trang 948 *
device

1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh

* Trang 949 *
device

VÀI NÉT VỀ TẬP 37
 
Tập 37 – Kinh Sớ Bộ phần 5 được thu vào trong Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 21 luận sớ giải các Kinh, từ No 1744 đến 1764 và được chuyển dịch việt ngữ thành 4 quyển 131, 132, 133, 134,của Tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
Đó là:
No 1744 – Thắng Man Bảo Quật, 6 quyển, cũng gọi là Thắng Man Bảo Quật Kinh, do Ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Đây là sách chú giải tỉ mỉ rõ ràng nhất trong các sách chú giải kinh Thắng Man. Trước hết nói rõ về năm huyền nghĩa, tức giải thích tên kinh, trình bày về duyên khởi, biện minh tông chỉ, nêu ra sự khác nhau giữa các giáo và bàn về phạm vi giải thích kinh… Kế đến dùng 15 chương để bàn rõ về yếu chỉ của kinh. Trong luận nay trích dẫn hơn 40 bộ kinh luận như Pháp Hoa, Duy Ma, luận Đại Trí độ … và một số chú giải kinh Thắng Man của các vị khác.
No 1745 – Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, 2 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời Tùy. Đây là luận chú thích Kinh Vô Lượng Thọ do ngài Khương Tăng Khải dịch. Trước hết nêu ra giáo phán Nhị tạng nhị giáo, cho rằng kinh Vô Lượng thọ thuộc Bồ tát Tạng Đốn giáo, kế đến giải thích tên Kinh, chia khoa văn Kinh và lần lượt giải thích văn nghĩa. Tác phẩm này là sách chú sớ Kinh Vô Lượng Thọ xưa nhất hiện còn, phương pháp chia khoa và phân loại ba nguyện của sách này được các nhà Tịnh độ xưa nay xử dụng rất nhiều.
No 1746 – Vô Lượng Thọ Nghĩa Sớ Kinh, 1 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Nội dung luận này giải thích kinh Vô Lượng Thọ theo lập trường của tông Tam Luận. Đầu tiên, là lời tựa khen ngợi cõi Tịnh độ phương Tây, kế nói về tông chỉ của kinh Vô Lượng Thọ, tiếp đến bàn về việc thuyết pháp của Đức Như Lai, sau cùng chia ra khoa tiết để giải thích chính văn.
No 1747 – Lưỡng quyển Vô Lượng Thọ Kinh Tông yếu, 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu soạn ở Tân La.

* Trang 950 *
device

No 1748 – Vô Lượng Thọ kinh liên nghĩa thuật văn Tán, 3 quyển, do ngài Cảnh Hưng soạn ở Tân La. Đây là sách chú thích Kinh Vô Lượng Thọ 2 quyển ( hiện nay không còn ) do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn. Nội dung chia làm 3 môn: Lai ý, Thích danh và Giải bản văn. Giải thích ngắn gọn rõ ràng, nhưng bản hiện còn có thiếu mấy đoạn.
No 1749 – Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa sớ, 2 quyển, do ngài Tuệ viễn soàn vào đời Tùy. Ngài Tuệ viễn đứng trên lập trường của Tông địa luận để giải thích kinh Quán Vô Lượng Thọ. Bộ sớ này phán định thân độ của đức Phật A-di-đà là Ứng thân ứng độ, người sinh về chín phẩm ở Tịnh độ của ngài là các vị Thánh lớn, nhỏ và quy tắc chung về sự tu chứng cũng như tự lực tu hành của các vị Thánh này không khác nhau.
No 1750 – Phật thuyết Quán vô Lượng Thọ Phạt kinh Sớ, 1 quyển, do ngài Trí Khải thuyết giảng vào đời Tùy. Đây là sách chú thích kinh quán Vô Lượng Thọ Phật. Ngộ dung sớ này trước hết lập năm lớp huyền nghĩa để giải thích tên Kinh, kế đến phán định Kinh lấy quán tâm làm tông chỉ, lấy thực tướng làm thể, lấy sinh mệnh làm diệt ác lạm dụng, thuộc về Đốn giáo của Tạng Bồ tát, Sau hết theo văn giải nghĩa và cho tất cả 16 pháp quán đều là Định thiện.
No 1751 - |Quán Vô Lượng Thọ Phạt kinh Sớ diệu tông Sao, 6 quyển, do ngài Tri Lễ soạn thuật vào đời Tống. Trong tác phẩm này ngài Tri Lễ soạn thuật vào đời Tống. Trong tác phẩm này ngai Tri Lễ thuộc phái Sơn gia đã theo văn giải thích bộ Quán kinh sớ của đại sư Thiên Thai Trí giả, nhằm phê phán những ý kiến khác của phái Sơn ngoại, đề xướng nghĩa Tức tâm niệm Phật,  đồng thời lập thuyết Sắc tâm song cụ. Sau khi bộ sách này được lưu hành đã dẫn đến cuộc tranh luận giữa phái Sơn gia và Sơn Ngoại.
No 1752 – Quán Vô Lượng Thọ kinh nghĩa sớ, 1 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Trong bộ sớ này, ngài Cát Tạng đã đứng trên lập trường của Tam luận mà giải thích kinh Quán Vô Lượng Thọ. Thuyết của ngài Cát Tạng cũng giống như thuyết của ngài Tuệ viễn, đều đúng ý nghĩa tu hành tự lực của Thánh đạo môn đều phán định nhân quả bẩm sinh tịnh độ Di đà.

* Trang 951 *
device

No 1753 – Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn ghi vào đời Đường.
No 1754 – Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh nghĩa sớ, 3 quyển, do ngài Nguyên Chiếu soạn thuật vào đời Tống. Sách này nghiên cứu rộng về nghĩa trọng yếu của các nhà, phần giải thuyết thì sử dụng lối thích nghĩa của các ngài Trí Khải và Thiện Đạo như giải thích 16 pháp quán thì sử dụng thuyết Quán tâm của ngài Trí Khải.
No 1755 – A di đà kinh nghĩa ký, 1 quyển, do ngài Trí Khải thuyết giảng vào đời Tùy.
No 1756 – A di đà kinh nghĩa Thuật, 1 quyển, do ngìa Tuệ Tịnh soạn thuật vào đời Đường.
No 1757 – A di đà kinh Sớ, 1 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn thuật vào đời Đường. Là sách chú thích kinh A di đà do ngài Cưu ma la thập dịch. Chia làm 7 môn: 
1. Giải rõ thân phận A di đà gồm báo thân và hóa thân. Bồ tát Thập địa thấy thân thọ dụng của Phật; Bồ tát dưới Thập địa và pham phu chỉ thấy thân ứng hóa.
2. Giải rõ 4 loại cõi Phật: cõi Pháp tính, cõi Tự thọ dụng, cõi Tha thọ dụng và cõi Biến hóa.
3. Giải rõ nghĩa bất thoái.
4. Giải rõ tâm khen ngợi chỉ cõi Tịnh độ ở phương Tây.
5. Nói sơ lược về thể tính: Tịnh độ lấy trí duy thức của Phật và Bồ tát làm thể.
6. Trình bày bộ loại nhiều ít, nêu rõ tông thú.
7. Phân tích giải thích nghĩa văn chính trong kinh.
No 1758 – A di đà kinh thông tán Sớ, 3 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.
No 1759 – Phật thuyết A di đà kinh Sớ, 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu soạn thuật ở Tân La. Sách này chú thích kinh A-di-đà bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập. Trước hết trình bày đại ý nói kinh này mang ý nghĩa lớn lao của việc đức Phật ra đời là cửa chính yếu để vào đạo của bốn chúng. Thứ đến giải thích tông chỉ của kinh nói.

* Trang 952 *
device

Kinh này lấy vượt qua ba cõi và hai thứ trong sạch làm tông chỉ khiến cho chúng sinh đối  với đạo Vô thượng không còn trở lui. Sau cùng giải thích văn kinh lấy nhiều thiện căn phúc đức nhân duyên làm hạnh tu chính yếu, lấy việc trì niệm danh hiệu Phật từ một ngày đến bày ngày làm hạnh tu phụ trợ nhờ đó mà được quản sinh.
No 1760 – Phật thuyết A di đà kinh Sớ, 1 quyển, do ngài Trí Viên soạn thuật vào đời Tông. Nội dung trước hết lập ra năm lớp nghĩa sâu kín:
1. Lấy hai đức Phật đã chứng quả ở hai cõi là đức Thế tôn ở Sa-bà và đức Di-đà ở Tịnh độ làm tên kinh.
2. Lấy thực tướng phương đẳng làm thể của kinh.
3. Lấy tín nguyện tịnh nghiệp làm tông chỉ của kinh.
4. Lấy bỏ khổ được vui làm dụng.
5. Lấy sinh tô Phương đẳng đại thừa làm giáo.
No 1761 – Phật thuyết A di đà kinh nghĩa Sớ, 1 quyển, do ngài Nguyên Chiếu soạn thuật vào đời Tống.
No 1762 – Phật thuyết A-di-đà kinh yếu giải, 1 quyển, do ngài, Trí Húc thuyết giải vào đời Minh.
No 1763 – Đại bát Niết bàn kinh tập giải, 71 quyển, do nhóm các ngài Bảo Lượng, Đại Sinh, Tăng Lượng, Pháp Thụy, Đàm Tế, Tăng Tông… soạn tập theo sắc chỉ của Vũ đế nhà Lương. Nội dung thu chép những thuyết của các nhà giải thích kinh Niết bàn ( bản Nam) và tùy chỗ có nêu sự giải thích riêng của các soạn giả. Đây là bộ sách xưa nhất trong những sách chú thích sớ giải kinh Niết bàn hiện còn.
No 1764 – Đại bát Niết bàn kinh nghĩa ký, 10 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn thuật vào đời Tùy.
Trên đây là tóm lược nội dung tập 37 Hán tạng Đại Chánh Tân Tu.

 
BAN BIÊN TẬP

* Trang 953 *
device

MỤC LỤC

(BỘ KINH SỚ 17 – TẬP 131)


 
SỐ 1744 – THẮNG MAN BẢO QUẬT................................................................................. 3
QUYỂN THƯỢNG................................................................................................................... 6
PHẦN ĐẦU .............................................................................................................................. 6
PHẦN CUỐI............................................................................................................................ 49
QUYỂN TRUNG.................................................................................................................... 91
PHẦN ĐẦU............................................................................................................................. 91
PHẦN CUỐI......................................................................................................................... 141
QUYỂN HẠ:......................................................................................................................... 189
PHẦN ĐẦU.......................................................................................................................... 189
PHẦN CUỐI......................................................................................................................... 240
SỐ 1745 – PHẬT THUYẾT KINH VÔ LƯỢNG THỌ NGHĨA SỚ................................ 293
QUYỂN THƯỢNG.............................................................................................................. 293
QUYỂN HẠ.......................................................................................................................... 363
SỐ 1746 – KINH VÔ LƯỢNG THỌ NGHĨA SỚ............................................................. 415
SỐ 1747 – KINH VÔ LƯỢNG THỌ TÔNG YẾU............................................................ 443
SỐ 1748 – KINH VÔ LƯỢNG THỌ LIÊN NGHĨA THUẬT VĂN TÁN....................... 463
QUYỂN THƯỢNG.............................................................................................................. 463
QUYỂN TRUNG.................................................................................................................. 495
QUYỂN HẠ.......................................................................................................................... 534
SỐ 1749 – KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ NGHĨA SỚ ............................................... 571
PHẦN ĐẦU.......................................................................................................................... 571
PHẦN CUỐI......................................................................................................................... 597
SỐ 1750 – PHẬT THUYẾT KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT SỚ..................... 629

* Trang 954 *
device

SỐ 1751 – KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT SỚ DIỆU TÔNG SAO.................. 655
QUYỂN 1.............................................................................................................................. 655
QUYỂN 2.............................................................................................................................. 675
QUYỂN 3.............................................................................................................................. 694
QUYỂN 4.............................................................................................................................. 714
QUYỂN 5.............................................................................................................................. 737
QUYỂN 6.............................................................................................................................. 751
SỐ 1752 – QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ KINH NGHĨA SỚ................................................ 775
SỐ 1753 – PHẬT THUYẾT KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT SỚ..................... 819
QUYỂN 1: PHẦN HUYỀN NGHĨA................................................................................... 819
QUYỂN 2: NGHĨA PHẦN TỰA........................................................................................ 841
QUYỂN 3: Ý NGHĨA ĐỊNH THIỆN PHẦN CHÁNH TÔNG......................................... 876
QUYỂN 4: ............................................................................................................................ 911

* Trang 955 *
device

Đại Tập 131, Bộ Kinh Sớ XVII, Số 1744 (Quyển 1- 6)