LOGO VNBET
       KINH THẬP TRỤ
            QUYỂN 3
Phẩm 6: ĐỊA HIỆN TIỀN

Các Bồ-tát nghe nói
Hành tướng của địa trên
Đang ở trong hư không
Mưa các loại hoa quý
Phóng ánh sáng thanh tịnh
Cúng dường Đấng Thế Tôn
Đều khen ngợi: Hay thay!
Hay thay! Kim Cang Tạng
Lại có vô lượng ức
Chư Thiên tâm hoan hỷ
Đang ở trong hư không
Làm mưa hương vị diệu
Ánh sáng đẹp xen lẫn
Thơm dịu thật đáng ưa
Các hoa thơm ánh lạc
Cờ lọng cúng dường Phật
Tha-hóa-tự-tại vương
Và các hàng quyến thuộc
Mưa các loại báu vật
Lả tả như tuyết rơi
Ngợi khen cúng dường Phật
Ca tụng Kim Cang Tạng
Đều nói: Hay thay!
Hay thay! Vui giảng thuyết.   

* Trang 68 *
device

Ngàn vạn ức Thiên nữ
Đang ở trong hư không
Trỗi các âm nhạc trời
Khen ngợi công đức Phật
Đều đồng thanh nói:
Giáo pháp của Như Lai
Vi diệu không hạn lượng
Diệt trừ các phiền não
Tánh các pháp vốn không
Không có một tướng nào
Trống rỗng, chẳng phân biệt
Giống như là hư không
Không có tướng đi đứng
Cũng không có hý luận
Xưa nay thường thanh tịnh
Như hư không phân biệt
Người nào không đạt được
Tánh của tất cả pháp
Ở trong hữu trong vô
Tâm không hề dao động
Chỉ dùng tâm đại Bi
Độ thoát các chúng sinh
Đó là các Phật tử
Sinh từ khẩu Phật pháp
Thường tu tập bố thí
Lợi ích các chúng sinh
Xưa nay tuy thiện, tịnh
Kiên tâm giữ tịnh giới
Tuy biết pháp không hại
Nhưng tu tập nhẫn nhục
Tuy biết pháp tánh lìa
Nhưng tu hạnh tinh tấn
Tuy đã diệt phiền não
Nhưng vẫn nhập thiền định

* Trang 69 *
device

Tuy đã hiểu pháp không
Nhưng vẫn phân biệt pháp
Tuy đủ trí tịch diệt
Nhưng cầu lợi thế gian
Diệt trừ mọi pháp ác
Gọi là bậc đại nhân
Thiên nữ cõi trời ấy
Dùng trăm ngàn tiếng hay
Khen ngợi ca tụng xong
Đều im lặng nhìn Phật.
Bồ-tát Giải Thoát Nguyệt
Thưa với Kim Cang Tạng
Nên dùng tướng mạo gì
Thành tựu Địa thứ sáu?
Bồ-tát Kim Cang Tạng nói:
–Này các Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh của Địa thứ năm, muốn nhập Địa thứ sáu, phải dùng mười pháp bình đẳng để nhập. Mười pháp đó là gì? 1. Vô tánh. 2. Vô tưởng. 3. Vô sinh. 4.Vô diệt. 5. Xưa nay thanh tịnh. 6. Không hý luận. 7.Không thủ xả. 8. Xa lìa. 9. Như mộng huyễn. 10. Có không chẳng hai.
Các Phật tử! Các Đại Bồ-tát đã đầy đủ hạnh của Địa thứ năm, dùng mười pháp bình đẳng này tức nhập Địa thứ sáu. Các Phật tử! Đại Bồ-tát quán tánh của tất cả pháp như vậy thì có khả năng chịu đựng, tùy thuận đạt Địa thứ sáu. Vô sinh pháp nhẫn tuy chưa hiện tiền nhưng tâm đã sáng suốt lanh lợi, thành tựu thuận nhẫn. Bồ-tát này quán tướng của tất cả các pháp như vậy, dùng đại Bi làm đầu, tăng trưởng đầy đủ, lại vượt lên quán sát tướng sinh diệt của thế gian, nên nghĩ: Chúng sinh thọ thân và chỗ ở trong thế gian đều vì tham trước ngã. Nếu lìa tham chấp ngã, sẽ không có chỗ thọ sinh trong thế gian. Kẻ phàm phu bị ngu si che mù, tham chấp nơi ngã, thích tìm cầu hữu, luôn theo tà niệm thực hành đạo tà vọng, ba hành phát sinh: Hành tội, hành phước, hành bất động; từ những hành đó mà khởi chủng tử của tâm nhiệt não, tâm hữu lậu hữu thủ, tạo thân sinh tử. Đó có nghĩa là nghiệp là đất, thức là hạt giống, vô minh che lấp, nước ái thấm nhuận,

* Trang 70 *
device

 tâm ngã tưới tắm, các loại tà kiến ngày càng làm cho thêm lớn, tạo mầm danh sắc. Do danh sắc mà có các căn. Vì các căn hợp nên có xúc, từ xúc có sinh thọ. Vì ham thọ nên có khát ái. Vì khát ái tăng trưởng nên có bốn thủ. Vì bốn thủ có nhân duyên nên tạo nghiệp, rồi từ hữu có thân năm ấm gọi là sinh, năm ấm suy yếu gọi là già, năm ấm diệt là chết. Do già chết nên có các khổ, ưu, bi, nhiệt não tụ tập. Mười hai nhân duyên này không có người tạo tác, tự nhiên có, không có người làm tan mất, tự nhiên tan mất. Nhân duyên hợp thì có, nhân duyên tan thì không. Đại Bồ-tát ở trong Địa thứ sáu tùy phải thuận quán mười hai nhân duyên.
Lại nghĩ: Vì không biết như thật Đệ nhất nghĩa đế nên có vô minh che tâm, nghiệp quả của vô minh là các hành. Từ các hành có thức ban đầu, cùng sinh với thức có bốn thủ ấm, dựa vào thủ ấm có danh sắc, danh sắc thành tựu có sáu nhập. Các căn chạy theo trần nên có thức. Từ sự hòa hợp đó có xúc hữu lậu. Cùng sinh với xúc là thọ, tham vui nơi thọ là ái, ái tăng trưởng là thủ, từ thủ tạo ra nghiệp hữu lậu. Có nghiệp nên có quả báo năm ấm là sinh. Năm ấm chín muồi là già, năm ấm hoại là chết. Lúc chết thì có xa lìa; kẻ ngu si buồn phiền tham chấp gọi là ưu bi, năm thức khóc kể là khổ. Ý thức là ưu. Ưu khổ càng nhiều là não. Cứ thế sinh ra rừng khổ lớn, khối khổ lớn. Khối khổ mười hai nhân duyên này không có ngã, ngã sở; không có ngưòi tạo tác, không có kẻ sai khiến sự tạo tác.
Bồ-tát lại nghĩ: Nếu có người tạo tác thì có việc được tạo tác. Nếu không có người tạo tác thì không có việc tạo tác. Trong Đệ nhất nghĩa, không có người tạo tác và việc tạo tác.
Lại nghĩ: Ba cõi hư dối chỉ do tâm tạo. Đức Như Lai dạy: Mười hai nhân duyên có được đều dựa vào tâm. Vì sao? Vì tùy thuận vào việc mà sinh tâm tham dục. Tâm ấy chính là thức; việc là hành; vì hành lừa dối tâm nên gọi là vô minh. Nơi thức nương tựa gọi là danh sắc. Vì nhập sinh tâm tham nên gọi là sáu nhập. Ba việc hòa hợp có xúc, sinh với xúc là thọ, tham chấp thọ là khát ái, không bỏ khát ái là thủ, thủ hòa hợp là hữu. Hữu lại hữu, hữu liên tục là sinh. sinh suy yếu là già, già hoại là chết. Trong đó vô minh có hai loại: 1. Duyên si. 2.

* Trang 71 *
device

 

 Nhân của hành. Hành có hai: 1. Sinh ra quả báo đời sau. 2. Nhân của thức. Thức có hai: 1. Làm cho hữu liên tục. 2.Nhân của sinh sắc. Danh sắc có hai: 1. Nương tựa tạo thành. 2. Nhân của sáu nhập. Sáu nhập có hai: 1.Duyên sáu trần. 2. Nhân của xúc. Xúc có hai: 1. Xúc cảnh sở duyên. 2. Nhân của thọ. Thọ có hai: 1. Biết việc yêu ghét. 2. Nhân của si. Ái có hai: 1. Sinh tâm tham chấp với cảnh đáng nhiễm. 2. Nhân của thủ. Thủ có hai 1. Tăng trưởng phiền não. 2. Nhân của hữu. Hữu có hai: 1. Sinh ở các cõi khác. 2. Nhân của sinh. Sinh có hai: 1. Sinh năm ấm. 2. Nhân của già. Già có hai: 1. Làm cho các căn yếu kém. 2. Nhân của chết. Chết có hai: 1. Hoại thân năm ấm. 2. Vì không thấy biết nên liên tục không dứt. Trong đó, vô minh duyên các hành, vô minh làm cho hành không đoạn, hỗ trợ cho hành thành tựu. Hành duyên thức, làm cho thức không đoạn, hỗ trợ cho thức thành tựu. Thức duyên danh sắc, làm cho danh sắc không đoạn, hỗ trợ cho danh sắc thành tựu cho đến sinh duyên già, chết, ưu, bi, khổ, não, làm cho sinh không đoạn, lien tục hỗ trợ cho thành. Vì vô minh diệt, nên các hành diệt; cho đến già, chết, ưu, bi, khổ, não cũng thế. Trong đó, nếu vô minh không thì các hành cũng không. Nhân diệt thì quả diệt, các phần khác cũng như vậy. Trong đó ba phần là vô minh, ái, thủ không đoạn phiền não đạo; các hành, hữu không đoạn nghiệp đạo; các phần khác của nhân duyên không đoạn khổ đạo. Vì trước sau nối tiếp không dứt, nên ba đạo không đoạn. Ba đạo này lìa ngã, ngã sở nhưng có sinh diệt. Ví như hai cây tre dựa vào nhau mà đứng thì không vững mà giống như vững. Nhân duyên, vô minh, các hành thuộc về việc quá khứ; thức, danh sắc, Sáu nhập, xúc, thọ là việc hiện tại; ái, thủ, hữu, sinh, già, chết là việc vị lai. Như vậy là có ba đời. Vô minh diệt, nên các hành diệt; gọi đó là đoạn trừ sự liên tục. Mười hai nhân duyên gồm có ba khổ: Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập là hành khổ. Xúc, thọ là khổ khổ. Ái, thủ, hữu, sinh, già, chết ưu, bi, khổ, não là hoại khổ. Vô minh diệt nên hành diệt, cho đến già chết gọi là đoạn trừ ba khổ liên tục. Do vô minh mà các hành sinh, các phần khác cũng thế. Vô minh diệt các hành diệt, vì thể tánh của các hành là không; các phần khác cũng thế. Do vô minh nên các hành sinh khởi trói buộc, các phần khác cũng thế. Vô minh diệt nên các hành diệt, vì diệt sự trói buộc,

* Trang 72 *
device

các phần khác cũng thế. Vô minh làm duyên cho các hành là tùy thuận quán vô sở hữu. Vô minh diệt nên các hành diệt là tùy thuận quán diệt tận; các phần khác cũng thế. Cứ thế có mười hai cách nghịch thuận để quán pháp mười hai nhân duyên. Đó là, nhân duyên chia thành thứ tự thuộc về thân tâm, hỗ trợ thành pháp, không tách rời nhau, tùy ba đạo hành, phân biệt có trước sau, ba khổ sai khác, từ nhân duyên có sinh diệt trói buộc, có quán vô sở hữu tận.
Lúc ấy, Bồ-tát tùy thuận mười hai nhân suyên mà quán không ngã, không chúng sinh, không thọ mạng, không nhân, tánh trống rỗng, không có người tạo tác, kẻ khiến tạo tác, không có chủ tớ, nhân duyên là vô sở hữu. Lúc quán như vậy thì pháp môn không giải thoát hiện tiền. Diệt các việc đó thì không có sự liên tục khác, nên gọi là môn vô tướng giải thoát hiện tiền. Biết hai môn này, thì không còn thích thọ sinh, chỉ trừ tâm đại Bi để giáo hóa chúng sinh, nên gọi là môn vô nguyện giải thoát hiện tiền. Bồ-tát tu hành ba môn giải thoát này; lìa những tướng nhân, ngã, người tạo tác, người thọ; lìa tướng có không, tâm bi tăng trưởng. Vì tôn trọng tâm bi nên siêng năng tu tập. Tuy chưa đầy đủ các trợ pháp Bồ-đề, nhưng vì muốn được đầy đủ, Bồ-tát nghĩ: Pháp hữu vi do hòa hợp nên tăng, ly tán thì diệt. Đủ các duyên thì tăng, không đủ thì diệt. Ta đã biết pháp hữu vi nhiều tội lỗi, không nên tạo duyên hòa hợp, cũng chẳng cần diệt sạch hết pháp hữu vi là vì để giáo hóa chúng sinh.
Các Phật tử! Bồ-tát biết pháp hữu vi nhiều tội lỗi, không có tánh chân thật, lìa tướng bền vững, không sinh diệt, như vậy nên hòa hợp với đại Từ bi, không bỏ chúng sinh, tức thời đạt Bát-nhã ba-la-mật không chướng ngại, ánh sáng hiện tiền; đạt trí tuệ như vậy, tu tập đầy đủ, tạo duyên Vô thượng Bồ-đề nhưng không sống trong pháp hữu vi. Quán tánh của pháp hữu vi là tướng tịch diệt, cũng không trụ trong đó, vì muốn đầy đủ phần Vô thượng Bồ-đề. Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, đạt Tam-muội quyết định không, Tam-muội tánh không, Tam-muội Đệ nhất nghĩa không, Tam-muội Đệ nhất không, Tam-muội đại không, Tam-muội hợp không, Tam-muội sinh không, Tam-muội như thật không phân biệt khômg, Tam-muội nhiếp không, Tam-muội ly bất ly không. Cứ thế, vạn môn Tam-muội không hiện tiền. Tam-muội vô

* Trang 73 *
device

tướng vô nguyện cũng thế. Bồ-tát này trụ ở địa Hiện tiền đạt tâm chí thành, tâm quyết định, tâm thâm, tâm diệu, tâm không thay đổi, tâm không xả, tâm rộng lớn, tâm vô biên, tâm lạc trí, tâm tuệ phương tiện hòa hợp. Các tâm ấy dần tăng trưởng, thù thắng; tùy thuận Vô thượng Bồ-đề. Tất cả luận sư ngoại đạo không thể lay đổ được, nhập vào trí địa, chuyển hóa Thanh văn, Bích-chi-phật, quyết định hướng đến trí Phật. Tất cả ma chướng, phiền não không làm gì được, an trụ trong trí sáng của Bồ-tát; khéo tu pháp môn giải thoát ứng với Không, Vô tướng, Vô nguyện. Chuyên dùng phương tiện trí tuệ, tu hành pháp trợ Bồ-đề.
Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, ở trong Bát-nhã ba-la-mật, đạt hạnh thù thắng, đạt thượng thuận nhẫn thứ ba, vì lấy thuận làm pháp, nên không trái nghịch, Bồ-tát trụ ở địa Hiện tiền, được gặp vô số trăm ngàn ức Phật, tôn trọng, cung kính, khen ngợi, cúng dường y phục, thức ăn uống, thuốc men, ngọa cụ; được gần gũi chư Phật, ở chỗ chư Phật nghe pháp. Nghe pháp rồi, thật sự theo ánh sáng trí tuệ tu hành theo pháp, khiến chư Phật hoan hỷ. Vị ấy càng thăng tiến, biết được tạng pháp của chư Phật; cho đến trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, các căn lành cũng dần dần được tinh diệu sáng suốt. Các Phật tử! Ví như vàng ròng, dùng lưu ly mài dũa, thì ánh sáng màu sắc càng rực rỡ hơn. Bồ-tát trụ ở địa Hiện tiền nhờ phương tiện trí tuệ nên căn lành dần thù thắng, sáng suốt vắng lặng, các địa khác không thể sánh bằng. Các Phật tử! Ví như trăng sáng có thể làm cho chúng sinh dễ chịu, bốn loại gió thổi không lấn át được. Cũng thế, Đại Bồ-tát trụ địa Hiện tiền, căn lành dần được thù thắng, dập tắt được vô lượng phiền não của chúng sinh, bốn loại ác ma không hại được.
Các Phật tử! Đó là địa Hiện tiền của Đại Bồ-tát. Bồ-tát trụ địa này, thường làm Thiên vương Tha hóa tự tại, trí tuệ sắc bén, phá trừ tất cả kẻ tăng thượng mạn, các Thanh văn, không bị cùng tận. Làm những việc như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp và niệm chúng Bồ-tát bạn, cho đến không rời niệm Nhất thiết chủng trí, thường phát nguyện: Ta ở trong chúng sinh, luôn là người đứng đầu, người tôn quý, cho đến làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh. Bồ-tát này, siêng năng tu tập, thì trong khoảnh khắc, sẽ

* Trang 74 *
device

đạt được mười vạn ức Tam-muội, cho đến thị hiện được mười vạn ức Bồ-tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực thì hơn cả số kia, dù trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp cũng không tính kể được.
Bấy giờ, Bồ-tát Kim Cang Tạng, muốn nêu lại nghĩa trên, bèn nói kệ rằng:
Các Bồ-tát đã đạt
Hạnh nghiệp Địa thứ năm
Biết các pháp không tánh
Không tướng, chẳng sinh diệt
Xưa nay luôn thanh tịnh
Không có sự hý luận
Tu tập trí như vậy
Được nhập Địa thứ sáu
Các pháp luôn lìa tướng
Không thủ cũng không xả
Tánh không, giống như huyễn
Lìa hai, không phân biệt
Ai có thể tùy thuận
Thật nghĩa vi diệu đó
Tâm không hề trái nghịch
Được nhập Địa thứ sáu
Trụ ở lợi thuận nhẫn
Đạt trí tuệ thần lực
Quán sát hết tất cả
Tướng sinh diệt thế gian
Nên biết được thế gian
Đều từ si ám sinh
Khi si ám đoạn diệt
Thì không còn thế gian
Quán sát pháp nhân duyên
Tùy thuận Đệ nhất nghĩa
Nhưng không hoại nhân quả
Tạo tác và giả danh
Như thật không người làm

* Trang 75 *
device

Cũng chẳng có người nhận
Quán pháp hữu vi vậy
Như mây, không có thật
Không biết nghĩa chân đế
Nên gọi là vô minh
Từ đó có suy xét
Quả báo thân, khẩu hành
Do hành nên có thức
Liền tạo ra danh sắc
Cứ thế sinh ra đời
Đến chỗ sinh già chết
Hiểu rõ ba cõi này
Chỉ do tâm mà có
Biết mười hai nhân duyên
Đều từ một tâm này
Như vậy sự sống chết
Đều từ tâm mà có
Một khi tâm diệt rồi
Thì không còn sống chết
Vô minh có hai loại
Ngu si và tạo nghiệp
Cho đến già và chết
Phá tan loại năm ấm
Từ những việc như vậy
Nên có đủ khổ não
Việc này chấm dứt hết
Phiền não cũng không còn
Nếu đầy đủ vô minh
Thì liên tục không đoạn
Nếu chẳng đủ nhân duyên
Thì không còn liên tục
Vô minh và ái thủ
Chính là phiền não đạo
Hành hữu là nghiệp đạo

* Trang 76 *
device

Các thứ khác khổ đạo
Từ si đến sáu nhập
Được gọi là hành khổ
Xúc thọ là khổ khổ
Các thứ khác hoại khổ
Diệt ba khổ liên tục
Thì không còn ngã chấp
Vô minh và các hành
Là việc đời quá khứ
Từ thức cho đến thọ
Là việc của hiện tại
Từ ái đến sinh khổ
Là việc đời vị lai
Một khi vô minh diệt
Thì không còn khổ não
Si từ nhân duyên sinh
Nên có sự trói buộc
Chúng duyên nếu đã diệt
Các trói buộc cũng diệt
Từ nhân nên có quả
Nhân diệt thì quả diệt
Cứ thế quán các pháp
Tự tánh là trống không
Tùy thuận ở vô minh
Nên mới có thế gian
Nếu không thuận vô minh
Thì thế gian không có
Do đây nên có kia
Đây không thì kia không
Cứ thế mười cách quán
Pháp nhân duyên sâu xa
Quán nhân duyên liên tục
 Khứ, lai và hiện tại
Không ngoài một tâm này

* Trang 77 *
device

Phân biệt có ba đạo
Từ ba khổ quán sát
Các pháp sinh diệt kia
Không sỡ hữu, cùng tận
Nên quán theo thuận nghịch
Bồ-tát dần thâm nhập
Pháp mười hai nhân duyên
Biết trống không như huyễn
Như mộng, lại như bóng
Như ánh lửa, huyễn hóa
Giả dối không người tạo
Cũng chẳng có người nhận
Chỉ lừa gạt kẻ ngu
Cứ thế quán nhân duyên
Người trí tu pháp không
Không duyên thì không tướng
Biết hai thứ giả hư
Trong tất cả hữu ấy
Nơi đó không sở nguyện
Chỉ dùng tâm đại Bi
Thương xót độ chúng sinh
Bậc Đại sĩ cứ thế
Tu tập môn giải thoát
Tâm bi luôn vui thích
Vô lượng công đức Phật
Biết các pháp hữu vi
Đều từ hòa hợp có
Nên đạt vạn định không
Vô tướng và vô nguyện
Trí tuệ dần tăng trưởng
Thâm nhập thượng thuận nhẫn
Đạt được trí giải thoát
Vô vi của Bồ-tát
Do vậy các căn lành

* Trang 78 *
device

Dần dần thêm sáng trong
Cúng dường vô lượng Phật
Được chư Phật ngợi khen
Thường ở chỗ chư Phật
Xuất gia học Phật đạo
Đại tạng pháp chư Phật
Căn lành càng thêm lớn
Ví như dùng lưu ly
Để mài dũa vàng ròng
Ánh sáng càng rực rỡ
Dụ này cũng như vậy
Ví như trăng trong không
Tròn đầy và sáng rực
Bốn ngọn gió thổi đến
Cũng không thể ngăn dứt
Ánh sáng trí Bồ-tát
Dập tắt lửa phiền não
Bốn ma không thể phục
Dụ này cũng như vậy
Bồ-tát trụ địa này
Thường làm Thiện hóa vương
Các căn đều nhặm lẹ
Phá trừ tăng thượng mạn
Làm tất cả nghiệp lành
Đều tùy thuận trí tuệ
Thanh văn có vấn nạn
Vẫn không bị cùng tận
Phật tử này nếu muốn
Siêng năng mà tu tập
Thì đạt được trăm vạn
Vạn ức môn Tam-muội
Được gặp trăm ngàn vạn
Ức số mười phương Phật
Như mùa Xuân trong mát

* Trang 79 *
device

 
Đại Tập 40 - Bộ Hoa Nghiêm V - Số 286- 292 & Số 293 (Q.1-22)