LOGO VNBET
KINH ĐẠI BẢO TÍCH
 
QUYỂN 104
 
Hán dịch: Đời Tùy, Tam tạng Đạt-ma-cấp-đa, người xứ Thiên Trúc.
 
Pháp hội 36: THIÊN TỬ THIỆN TRỤ Ý (Phần 3)
 
Phẩm 6: PHÁ TƯỚNG BỒ-TÁT
 
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật dạy Bồ-tát mới phát tâm ấy, do nghĩa gì mà gọi là mới phát tâm?
Đức Phật dạy:
–Này Văn-thù-sư-lợi! Nếu có Bồ-tát bình đẳng xem ba cõi của tất cả tưởng sinh như vậy, được nói ban đầu phát tâm. Đây gọi là Bồ-tát mới phát tâm.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bạch:
–Bạch Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa của Phật nói: Nếu có Bồ-tát tâm tham dục sinh là mới phát tâm, tâm sân khuể sinh là mới phát tâm, tâm ngu si sinh là mới phát tâm. Lời Đức Thế Tôn nói phải chăng bảo đó là mới phát tâm?
Thiên tử Thiện Trụ Ý hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bạch Đại sĩ! Nếu các Bồ-tát khởi tham, sân, si mà gọi là mới phát tâm thì tất cả phàm phu đủ mọi sự ràng buộc đều là Bồ-tát mới phát tâm. Vì sao? Vì từ xưa đến nay các phàm phu ấy thường phát ba độc tâm tham, sân, si như vậy.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Thiên tử nói tất cả phàm phu ấy từ xưa đến nay thường phát được ba độc tâm ấy, nghĩa đó không đúng. Vì sao? Vì tất cả phàm phu tâm lực kém yếu chẳng thể phát khởi tham, sân, si ấy.

* Trang 264 *
device

Duy chỉ có chư Phật Thế Tôn, tất cả A-la-hán, Bích-chi-phật, các vị Bồ-tát ở địa vị không thoái chuyển, mới hay phát khởi tham, sân, si thôi. Vì thế nên phàm phu chẳng phát được.
Thiên tử Thiện Trụ Ý nói:
–Bạch Đại sĩ! Nay Đại sĩ cớ chi nói như vậy, khiến chúng hội này chẳng hiểu, chẳng biết sa vào lưới nghi rất đáng kinh sợ.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Như chim kia bay qua lại trong hư không, dấu chân chim ấy tại hư không là có hiện khởi hay không có hiện khởi?
–Bạch Đại sĩ! Chẳng phải không hiện khởi.
–Này Thiên tử! Đúng như vậy! Do nghĩa ấy nên tôi nói nếu có người phát khởi tham, sân, si, thì duy chư Phật Thế Tôn, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát không thoái mới có thể dứt trừ sự phát khởi ấy được thôi.
Này Thiên tử! Không có y xứ đó gọi là phát, không có thủ trước đó gọi là phát. Đã không y xứ lại không thủ trước thì tức là không lập câu, đây gọi là phát; là câu vô phân biệt, đây gọi là phát; là câu chẳng thể sinh, đây gọi là phát; là câu bất thiện đây gọi là phát; là câu chẳng phải vật, đây gọi là phát; là câu chẳng phải đến, đây gọi là phát; là câu chẳng phải sinh, đây gọi là phát; là câu vô sinh, đây gọi là phát; là câu vô phan duyên, đây gọi là phát; là câu vô chứng, đây gọi là phát; là câu bất tránh, đây gọi là phát; là câu bất tư, đây gọi là phát; là câu bất hoại, đây gọi là phát; là câu vô ngôn, đây gọi là phát; là câu bất phá, đây gọi là phát; là câu vô tự, đây gọi là phát; là câu vô chấp, đây gọi là phát; là câu vô trụ, đây gọi là phát; là câu bất thủ, đây gọi là phát; là câu bất xả, đây gọi là phát; là câu bất bạt, đây gọi là phát. Này Thiên tử! Nên biết đây là Bồ-tát mới phát tâm.
Này Thiên tử! Bồ-tát phát tâm, nếu ở nơi tất cả pháp như vậy mà chẳng ái trước, chẳng tư tưởng, chẳng thấy, chẳng biết, chẳng nghe, chẳng hiểu, chẳng lấy, chẳng bỏ, chẳng sinh, chẳng diệt, thì gọi là chân thật phát tâm.
Này Thiên tử! Đại Bồ-tát, nếu hay nương nơi pháp giới như vậy, bình đẳng như vậy, thật tế như vậy, phương tiện như vậy, thì

* Trang 265 *
device

tham dục sân khuể, ngu si kia phát. Lại nếu quyết hay nương tựa như vậy, thì nhãn, nhó, tỷ, thiệt, thân, ý kia phát, thì sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn kia phát, như vậy thì tất cả kiến chấp phát, vô minh hữu ái phát, mười hai nhân duyên hữu phần phát, năm dục các sự phát, ái trước ba cõi phát, ngã kiến phát, ngã sở kiến phát, sáu mươi hai kiến phát, ngã kiến làm căn bản nên Phật tưởng phát, Pháp tưởng phát, Tăng tưởng phát, tự tưởng phát, tha tưởng phát, địa, thủy, hỏa, phong, không thức đại tưởng phát, bốn điên đảo phát, bốn thức trụ phát, năm cái phát, tám tà phát, chín phiền não phát, mười điều ác đạo phát. Tóm lại, Thiên tử nên biết! Tất cả phân biệt, tất cả đối tượng phân biệt, tất cả ngữ ngôn, tất cả các tướng, tất cả đều nhằm đến tất cả hy cầu, tất cả thủ trước, tất cả tư tưởng, tất cả ý niệm, tất cả chướng ngã, các Bồ-tát đều phải phát cả, Thiên tử nên biết như thật.
Này Thiên tử! Do nghĩa ấy, nếu nay Thiên tử có thể ở nơi các pháp này mà chẳng ái trước, chẳng tư tưởng, thì gọi là chân thật.
Đức Thế Tôn khen:
–Lành thay, lành thay! Này Văn-thù-sư-lợi! Nay ông có thể vì các Bồ-tát mà tuyên đủ những nghĩa mới phát tâm như vậy. Từ quá khứ ông đã từng cúng dường vô lượng, vô biên hằng sa chư Phật Thế Tôn nên ông có thể tuyên nói như vậy.
Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nay những điều Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói về tối sơ phát tâm và được Vô sinh pháp nhẫn của Bồ-tát, trước sau hai sự việc bình đẳng không khác ư?
Đức Phật dạy:
–Đúng như vậy! Này Xá-lợi-phất! Thuở xưa Đức Nhiên Đăng Thế Tôn thọ ký ta rằng: “Ma-na-bà, đời vị lai trải qua a-tăng-kỳ kiếp ông sẽ được thành Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác.”
Này Xá-lợi-phất! Lúc ấy ta cũng chẳng lìa tâm này mà được Vô sinh pháp nhẫn. Ông nên biết nghĩa mới phát tâm của tất cả Bồ-tát đúng như lời Văn-thù-sư-lợi nói không có sai khác.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch:

* Trang 266 *
device

–Bạch Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa của Phật nói đều là sơ phát. Vì sao? Vì như lời Phật nói tất cả sơ phát tức là chẳng phát, chẳng phát ấy tức là Bồ-tát tối sơ phát tâm.
Lúc nói pháp này, có hai vạn ba ngàn Bồ-tát chứng Vô sinh nhẫn, năm ngàn Tỳ-kheo ở trong các pháp được lậu tận giải thoát, sáu mươi ức chư Thiên tử xa lìa trần cấu, được Pháp nhãn tịnh.
Tôn giả Đại Ca-diếp bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nay Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại còn làm được việc khó làm, tuyên nói pháp môn sâu xa như vậy, khiến các chúng sinh được nhiều lợi ích.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Tôn giả Đại Ca-diếp! Thật tôi chẳng làm việc khó làm. Vì sao? Vì tất cả pháp đều không có chỗ làm, cũng không có đã làm, nay làm, sẽ làm. Thưa Đại Ca-diếp! Đối với các pháp, tôi chẳng có gì làm hay không làm, ý nghĩ đó như trên.
 Lại nữa, này Tôn giả! Với chúng sinh tôi không có độ thoát cũng không trói buộc. Vì sao? Vì tất cả các pháp vô sở hữu vậy. Sao Tôn giả ở trước Phật nói là hay làm việc khó làm.
Lại nữa, này Đại Ca-diếp! Tôi không có đối tượng làm, vậy hãy thận trọng, đừng nói tôi có thể làm những việc khó khăn.
Lại nữa, này Tôn giả! Thật ra tôi chẳng làm. Chẳng phải riêng tôi chẳng làm mà tất cả Như Lai cũng chẳng làm, Bích-chi-phật cũng chẳng làm, A-la-hán cũng chẳng làm.
Lại nữa, này Tôn giả Đại Ca-diếp! Có những hạng người nào hay làm việc khó làm? Nếu muốn nói đúng hay làm sự khó làm thì chỉ có tất cả anh nhi, phàm phu kia nói như vậy là khéo nói. Vì sao? Vì như chư Phật không có cái đã được, nay được hay sẽ được, cho đến tất cả Thanh văn tất cả Bích-chi-phật cũng vô sở đắc, chỉ có phàm phu kia tất cả đều được.
Tôn giả Đại Ca-diếp hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bạch Đại sĩ! Tất cả chư Phật chẳng được những gì?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Tất cả chư Phật, chẳng được ngã, chẳng được nhân, chúng

* Trang 267 *
device

sinh, thọ mạng, sĩ phu; chẳng được đoạn thường, chẳng được ấm, nhập, giới, chẳng được các danh sắc; chẳng được Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới; chẳng được phân biệt, tư duy, niệm xứ; chẳng được nhân sinh, chẳng được điên đảo, chẳng được tham, sân, si, chẳng được đời này, đời kia; chẳng được ngã, ngã sở; cho đến chẳng được tất cả các pháp.
Này Tôn giả! Tất cả các pháp tuần tự chẳng được như vậy, cũng lại chẳng mất, chẳng trói chẳng mở, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng xa chẳng gần. Vì thế nên phải biết rõ pháp môn như vậy.
Nếu chư Phật Thế Tôn đều chẳng thể, thì tất cả pháp chẳng phải pháp chẳng phải nghe. Còn phàm phu tất cả đều đắc nên phàm phu hay làm sự khó làm, mà chẳng phải chư Phật làm, chẳng phải Bích-chi-phật làm, chẳng phải A-la-hán. Đây gọi là phàm phu hay làm vậy.
Tôn giả lại hỏi:
–Bạch Đại sĩ! Làm những gì?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Làm đoạn làm thường, làm nhiễm trước, làm nương tựa, làm ức niệm, làm thủ xả cho đến làm tất cả hý luận phân biệt tùy thuận các sự việc cao thấp.
Vì các pháp như vậy, chư Phật Thế Tôn đều không làm, không có đã làm nay làm hay sẽ làm, mà chỉ có phàm phu kia hay làm sự khó làm.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Vô sinh nhẫn được nói ấy, thế nào gọi là Vô sinh nhẫn? Bạch Thế Tôn! Lại do nghĩa gì mà còn gọi là pháp Vô sinh nhẫn, Bồ-tát làm thế nào được pháp nhẫn ấy?
Đức Phật dạy:
–Này Văn-thù-sư-lợi! Thật không có người ở trong sinh pháp mà được Vô sinh nhẫn. Nói là được ấy, chỉ có ngữ ngôn danh tự. Vì sao? Vì Vô sinh pháp chẳng thể được, vì lìa phan duyên vậy nên chẳng được pháp nhẫn; được cái không chỗ được nên không được không mất do đây mà gọi là được Vô sinh pháp nhẫn.
Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Vô sinh pháp nhẫn ấy nghĩa là vì

* Trang 268 *
device

tất cả pháp vô sinh nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không đến nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không đi nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không có ngã, không có chủ nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không giữ, không bỏ nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không sở hữu, không thật có nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không bằng, không gì sánh bằng nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không so sánh nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không nhiễm như hư không nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không phá hoại nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không đoạn mất nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không nhơ, không sạch nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp lìa tham, sân, si nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp như như, pháp tánh, thật tế nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không phân biệt, không tương ưng, không ức niệm, không hý luận, không tư duy nên nhẫn như vậy; vì tất cả pháp không tạo tác, không năng lực gầy kém hư cuống, như ảo, như mộng, như âm vang, như ảnh, như bóng trong gương, như cây chuối, như bọt tụ, như bong bóng nước nên nhẫn như vậy. Cái bị được nhẫn cũng không có được nhẫn, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, chỉ dùng danh tự nói lên pháp ấy thôi. Mà danh tự ấy cũng chẳng thể nắm bắt được, bản tánh tự lìa. Nói nhẫn như vậy tin hiểu thích vào không nghi hoặc, không kinh bố, không động, không mất, đầy khắp nơi thân rồi chính thọ mà hành chẳng được, thân mình cũng không chỗ trụ. Đây là Đại Bồ-tát ở trong các pháp được Vô sinh nhẫn cho đến chẳng hành tất cả tưởng.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nói rằng nhẫn ấy, thế nào là nhẫn cho đến chẳng bị cảnh giới phá hoại nên gọi là nhẫn.
Thiên tử Thiện Trụ Ý hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bạch Đại sĩ! Những gì chẳng bị cảnh giới phá hoại?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Đó là nhãn. Pháp nào hoại nhãn? Đó là sắc đẹp sắc xấu kia hay làm hoại nhãn. Như sắc hoại nhãn, các thứ thanh hoại nhó, hương hoại tỷ, vị hoại thiệt, xúc hoại thân và pháp hoại ý cũng như vậy.

* Trang 269 *
device

Này Thiên tử! Nếu Bồ-tát mắt thấy sắc chẳng nắm lấy tướng, chẳng ham tốt, chẳng phân biệt, chẳng tư tưởng, chẳng ưa thích, chẳng nhàm chán, biết bản tánh là không, chẳng có niệm tưởng, chẳng bị các sắc làm hư hại, cho đến ý đối với pháp cũng như vậy.
Này Thiên tử! Nếu sáu căn ấy không dính mắc, không ràng buộc, không hoại, không hại, Bồ-tát này an trụ nơi pháp nhẫn. Vì an trụ pháp nhẫn nên đối với tất cả pháp không phân biệt không có sinh hay bất sinh, không có lậu hay bất lậu, không có thiện hay bất thiện, không có làm hay không làm, chẳng truy niệm thế pháp và xuất thế pháp, chẳng phân biệt chẳng tư duy thì gọi là Vô sinh pháp nhẫn.
Lúc nói pháp này, có sáu vạn ba ngàn chúng sinh phát tâm Vô thượng Bồ-đề, một vạn hai ngàn Bồ-tát được Vô sinh pháp nhẫn.
Thiên tử Thiện Trụ Ý lại bạch hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bạch Đại sĩ! Thế nào là Đại Bồ-tát phát khởi thắng hạnh, siêu việt chuyển dần lên nhập vào các địa?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Trong ấy ai có thể phát khởi thắng hạnh mà cho rằng các địa có người siêu chuyển ư?
–Bạch Đại sĩ! Đại sĩ lẽ nào chẳng biết các Bồ-tát tu hành thù thắng càng tăng cho đến siêu việt hay viên mãn mười địa sao?
 –Này Thiên tử! Chẳng phải vậy. Như tôi được nghe Đức Phật dạy rằng tất cả các pháp như huyễn hóa, Thiên tử có tin chăng?
–Bạch Đại sĩ! Lời chân thành của Đức Phật ai dám chẳng tin.
–Này Thiên tử! Như huyễn nhân ấy và sự huyễn, lẽ nào lại có thắng hạnh siêu việt chuyển nhập cho đến đầy đủ mười địa ư?
–Bạch Đại sĩ! Không có.
–Này Thiên tử! Như vậy, giả sử nếu huyễn nhân và sự huyễn hay có thắng hạnh siêu việt chuyển nhập thì các Bồ-tát chúng tôi sẽ siêu việt chuyển nhập như vậy. Vì sao? Vì như Đức Thế Tôn nói tất cả pháp như huyễn hóa nên không có chuyển nhập. Vì thế nên nếu nói chư địa có người chuyển nhập tức là chẳng phải chuyển nhập.

* Trang 270 *
device

Tôi cũng chẳng nói địa có chuyển nhập. Vì sao? Vì tất cả pháp không có chuyển nhập vậy. Vì thế nên pháp ở trong pháp chẳng được chuyển nhập, nghĩa là sắc ở trong thụ chẳng được chuyển nhập, thọ ở trong sắc chẳng được chuyển nhập, tưởng ở trong hành không được chuyển nhập, hành ở trong tưởng không được chuyển nhập, thức ở trong sắc không được chuyển nhập, sắc ở trong thức không được chuyển nhập. Như vậy, cho đến tất cả pháp đều như thế mà hình thành thuyết tứ cú. Lại nữa, mắt không ở trong tai mà chuyển nhập, tai không ở trong mắt mà chuyển nhập, thân không ở trong ý mà chuyển nhập, ý không ở trong thân mà chuyển nhập. Vì sao? Vì tất cả pháp, mỗi cái đều có đặc tính riêng biệt tự vận động trong cảnh giới của nó, ngu si vô tri không có giác thức, cũng như cỏ cây ngói đá tường vách, như tượng trong gương, như huyễn như hóa chẳng chứng xúc được, một tướng không có tướng. Do ý nghĩa ấy nên tất cả các pháp không có siêu chuyển, chẳng xuất chẳng nhập, không đến cũng không đi.
Này Thiên tử! Nếu các Bồ-tát hiểu biết tất cả pháp không siêu chuyển như vậy thì chẳng lẽ lại còn có các địa sai khác, cũng không có nhập đạo, không có xả địa, cũng không thoái chuyển, ở trong Bồ-đề siêu chuyển ấy không có dứt mất. Vì sao? Vì nếu người thấy những ấm giới nhập kia là chân thật thì không có siêu chuyển. Vì sao? Vì thể tánh tất cả pháp vốn trong sạch. Đây gọi là Bồ-tát siêu việt đạo địa.
Này Thiên tử! Như huyễn sư hóa làm mười thứ xe cộ cung điện rồi sai hóa nhân ở trong đó. Này Thiên tử! Ý Thiên tử thế nào, hóa nhân cung điện ấy có định sở chăng?
–Bạch Đại sĩ! Không có chỗ nhất định.
–Này Thiên tử! Đúng như vậy! Người thấy Bồ-tát địa có siêu chuyển, cũng như vậy.

* Trang 271 *
device

Phẩm 7: PHÁ TƯỚNG NHỊ THỪA (Phần 1)
Bấy giờ, Thiên tử Thiện Trụ Ý lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Bạch Đại sĩ! Nếu lúc có người đến chỗ Đại sĩ để cầu xuất gia, thì đáp thế nào? Vì họ nói pháp xuất gia giải thoát thế nào? Thụ giới và bảo trì giới thế nào?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Nếu có người đến chỗ tôi cầu xuất gia, tôi sẽ dạy họ rằng: “Này các thiện nam! Các ông chẳng nên phát tâm xuất gia. Nếu các ông chẳng phát tâm xuất gia thì tôi sẽ dạy các ông pháp chân xuất gia. Tại sao? Này Thiên tử! Nếu cầu xuất gia, thì cầu Dục giới, cũng cầu Sắc giới, cũng cầu Vô sắc giới, lại cầu năm dục lạc thế gian và cầu các sự quả báo ở đương lai. Nếu thiện nam mà có sở cầu thì họ chẳng chứng pháp, vì chẳng chứng pháp, nên họ thấy có tâm. Này Thiên tử! Nếu vô sở thủ thì họ chứng pháp, vì chứng pháp thì chẳng thấy có tâm, vì chẳng có tâm thì chẳng xuất gia, vì chẳng xuất gia thì không tâm xuất gia, vì không tâm xuất gia nên họ chẳng phát, vì chẳng phát nên không có sinh, vì vô sinh nên họ tận khổ, vì tận khổ nên cứu cánh tận, vì cứu cánh tận nên họ vô tận, vì vô tận nên chẳng thể cùng tận, chẳng thể cùng tận đó tức là hư không.” Này Thiên tử! Tôi sẽ dạy thiện nam cầu xuất gia kia như vậy.
Lại nữa, này Thiên tử! Nếu có người đến chỗ tôi cầu xuất gia, tôi sẽ dạy họ như vậy: Này thiện nam! Nay ông chớ phát tâm xuất gia. Vì sao? Vì tâm ấy vô sinh không phát được. Ông chớ làm cách gì khác mà bảo thủ tâm ấy.
Này Thiên tử! Nếu có người đến tôi cầu xuất gia, tôi lại bảo người cầu xuất gia ấy rằng: “Nay nếu ông chẳng cạo bỏ râu tóc thì ông xuất gia chân thật.”
Bấy giờ Thiên tử Thiện Trụ ý hỏi:
–Bạch Đại sĩ! Tại sao lại nói như vậy?
Văn-thù đáp:
–Này Thiên tử! Vì Đức Phật nói tất cả các pháp không chỗ dứt trừ.

* Trang 272 *
device

Thiên Trụ ý hỏi:
–Những pháp nào không đoạn cũng không trừ.
Văn-thù đáp:
–Đó là sắc pháp chẳng đoạn cũng chẳng trừ, thọ, tưởng, hành, thức chẳng đoạn cũng chẳng trừ.
Này Thiên tử! Nếu có người cho rằng: Tôi trừ bỏ râu tóc mới là xuất gia, thì nên biết người ấy có ngã tướng, vì có ngã tướng nên chẳng thấy bình đẳng. Lại vì thấy ngã nên thấy chúng sinh, vì thấy Chúng sinh nên thấy râu tóc, vì thấy râu tóc nên có ý nghĩ trừ bỏ.
Này Thiên tử! Nếu họ chẳng thấy có ngã tướng thì không thấy tha tướng, vì không tha tướng nên không ngã mạn, vì không ngã mạn thì không thấy có cái ngã là ta, vì không thấy cái ngã là ta, nên không phân biệt, vì không phân biệt nên không dao động, vì không dao động nên không hý luận, vì không hý luận nên không thủ xả, vì không thủ xả, nên không có tác bất tác, không có đoạn bất đoạn, không ly không hợp không giảm không tăng, không tập không tán, không tư không niệm, không thuyết không ngôn, như đây thì gọi là an trụ chân thật.
Thiên tử Thiện Trụ Ý bạch:
–Bạch Đại sĩ! nghĩa chân thật thế nào?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:
–Này Thiên tử! Nói chân thật ấy tức là hư không, hư không như vậy được gọi là thật tức không khởi, không tận, không giảm, không tăng. Vì nghĩa ấy mà hư không là thật, tánh không là thật, như như là thật, pháp giới là thật, thật tế là thật, thật như vậy cũng là chẳng thật. Vì sao? Vì trong thật ấy chẳng thể nắm bắt được vậy nên gọi là bất thật.
Lại nữa, này Thiên tử! Nếu có người đến chỗ tôi cầu xuất gia, tôi sẽ dạy họ rằng: Nay nếu ông có thể chẳng thủ trước y ca-sa ấy thì tôi cho rằng ông là chân thật xuất gia.
Thiên trụ ý hỏi:
–Vì sao lại nói như vậy?
Văn-thù đáp:

* Trang 273 *
device

–Vì chư Phật Thế Tôn không có thủ trước, hễ có chỗ thuyết pháp đều không được thủ trước.
Thiên Trụ ý hỏi:
–Không nắm giữ những gì?
Văn-thù đáp:
–Này Thiên tử! Đó là chẳng thủ sắc là thường hay vô thường, cho đến chẳng thủ thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường. Chẳng thủ nhãn là thường hay vô thường, cho đến chẳng thủ nhó, tỷ, thiệt, thân, ý là thường hay vô thường. Chẳng thủ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; chẳng thủ tham dục, sân khuể, ngu si; chẳng thủ điên đảo, cho đến tất cả pháp đều chẳng thủ, mà cũng chẳng xả, chẳng hợp, chẳng lìa.
Này Thiên tử! Nếu thủ trước ca-sa, thì nên biết họ có kiến chấp lớn. Vì thế nên tôi nói chẳng do thủ trước ca-sa mà được thanh tịnh và được giải thoát. Vì sao? Vì đối với Đại Bồ-đề của chư Phật. Thế Tôn không có ca-sa.
–Bạch Đại sĩ! Pháp gì là ca-sa?
Này Thiên tử! Ngài hỏi pháp gì là ca-sa? Chính tham dục là ca-sa, sân khuể là ca-sa, ngu si là ca-sa, nhân là ca-sa, kiến là ca-sa, danh sắc là ca-sa, vọng tưởng là ca-sa, chấp trước là ca-sa, thủ tướng là ca-sa, ngữ ngôn là ca-sa, như vậy cho đến hý luận tất cả các pháp là ca-sa cả. Nếu biết các pháp không có thiện bất thiện, không tư không niệm thì gọi là không có ca-sa. Nếu không ca-sa thì vô sở hữu, nếu vô sở hữu thì không cấu trược, nếu không cấu trược thì không chướng ngại, nếu không chướng ngại thì không có tác, đây gọi là suy lường.
Thiên Trụ ý hỏi:
–Được gọi là suy lường, vậy suy lường ấy, vì sao gọi là suy lường?
Văn-thù đáp:
–Này Thiên tử! Suy lường ấy đối với pháp bình đẳng không tăng không giảm không có tác bất tác, đây gọi là suy lường.
Này Thiên tử! Nếu có thể đối với các pháp không làm tăng

* Trang 274 *
device

giảm, chẳng nên lại khởi tưởng niệm phân biệt, đúng như lời Đức Phật dạy thì gọi là suy lường vậy.
–Bạch Đại sĩ! Những gì gọi là chẳng làm tăng giảm?
Này Thiên tử! Quá nơi bình đẳng, quá bình đẳng rồi pháp chẳng thể nắm bắt, đó là quá khứ chẳng thể nắm bắt, vị lai chẳng thể nắm bắt, hiện tại chẳng thể nắm bắt, pháp ấy chẳng phải như như, không có tăng giảm làm, không có cái ngã cho là ta làm, không tha nhân làm, không chúng sinh làm, không thọ mạng làm, không có đoạn làm, không có thường làm, không có phân biệt ấm, nhập, giới làm, không có phân biệt Phật, Pháp, Tăng làm, cũng không có quan niệm trì giới làm, phá giới làm, phiền não làm, thanh tịnh làm, đắc quả làm, Tu-đà-hoàn làm, Tư-đà-hàm làm, A-na-hàm làm, A-la-hán làm, Bích-chi-phật làm, cho đến không có quan niệm là cái Không làm, là Vô tướng làm, là Vô nguyện làm, là minh giải thoát làm, là ly dục làm.
Như vậy, này Thiên tử! Đây đều là vì kẻ vô văn phàm phu ấy mà tư lương phân biệt nói pháp này thôi, Thiên tử cần phải biết. Đây là người tối hạ ngu si cầu muốn đắc pháp hư vọng thủ trước. Nên Đức Như Lai vì đoạn trừ sự chấp trước của họ mà diễn nói sự tư lương phân biệt tác bất tác ấy.
Thiên tử Thiện Trụ Ý khen Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Lành thay! Đại sĩ hay nói pháp môn sâu xa như vậy.
Đức Phật cũng khen Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Lành thay, lành thay! Văn-thù-sư-lợi, nay ông có thể tuyên nói như vậy.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại nói với Thiên tử Thiện Trụ Ý:
–Này Thiên tử! Nếu có người đến tôi cầu xuất gia, tôi sẽ dạy họ rằng: “Này thiện nam! Nay nếu ông chẳng thọ giới cụ túc thì gọi là chân xuất gia.”
Thiên Trụ ý hỏi:
–Vì sao lại nói như vậy?
Văn-thù-sư-lợi:
–Này Thiên tử! Vì Đức Phật dạy: Chỉ có hai hạng thọ pháp cụ

* Trang 275 *
device

giới: Một là thọ giới chánh bình đẳng, hai là thọ giới tà bất đẳng.
Trong đây những gì là giới tà bất đẳng? nghĩa là rơi vào ngã kiến, rơi vào nhân kiến, rơi vào chúng sinh kiến, rơi vào thọ mạng kiến, rơi vào sĩ phu kiến, rơi vào đoạn kiến, rơi vào thường kiến, rơi vào tà kiến, rơi vào kiêu mạn, rơi vào tham muốn, rơi vào sân giận, rơi vào ngu si, rơi vào Dục giới, rơi vào Sắc giới, rơi vào Vô Sắc giới, rơi vào thủ trước phân biệt.
Này Thiên tử! Đây là lược nói rơi vào trong tất cả pháp bất thiện, theo kể ác tri thức vọng chấp lấy tất cả pháp, rơi vào nơi chẳng hiểu biết sự giải thoát cốt yếu nhất. Đây gọi là thọ giới tà bất đẳng. 
Này Thiên tử! Trong đây thế nào là thọ giới chánh bình đẳng? Không là bình đẳng, Vô tướng là bình đẳng, Vô nguyện là bình đẳng. Nếu có thể nhập ba môn giải thoát như vậy, giác tri như thật chẳng phân biệt, chẳng tư niệm, đối với tất cả pháp không có thoái chuyển. Đây gọi là thọ giới chánh bình đẳng.
Lại nữa, này Thiên tử! Nếu tham dục phát, nếu sân khuể phát, nếu ngu si phát, nếu ái vô minh phát, ngã kiến phát. Lấy ngã kiến làm căn bản nên sáu mươi hai kiến phát, ba tà hạnh phát, bốn điên đảo phát, cho đến tám tà, chín phiền não, mười nghiệp đạo bất thiện phát, nên gọi là thọ chánh giới vậy. Ví như tất cả chủng tử cỏ cây rừng bụi đều nương nơi đại địa mà được sinh trưởng. Đất ấy bình đẳng không có tâm niệm làm như vậy. Cũng vậy, trong Phật pháp, nếu thọ chánh giới thì thành tựu cụ túc.
Này Thiên tử! Nếu tất cả chủng tử cỏ cây nương đại địa được hiện hữu tồn tại, mà được tăng trưởng như chủng tử giới kia cũng lại như vậy. Phải nên như vậy mà thọ cụ chánh giới. Vì sao? Vì an trụ nơi giới mà đạo pháp được tăng trưởng. Lại như chủng tử tăng trưởng được gọi là thành tựu, như vậy vì an trụ nơi giới nên tất cả pháp trợ Bồ-đề phần xuất sinh tăng trưởng nên gọi là thành tựu.
Này Thiên tử! Đây là chư Phật Thế Tôn tất cả Thanh văn quá khứ, vị lai, hiện tại, tất cả Thanh văn thọ chánh giới vậy, đó được gọi là nhập vào ba môn giải thoát ấy, nơi mà tất cả hý luận ngữ ngôn dứt diệt.

* Trang 276 *
device

Này Thiên tử! Phải biết nếu người có thể thọ cụ giới như vậy thì gọi là thọ chánh giới, chẳng phải chẳng chánh giới.
Này Thiên tử! Nay tôi lại đối với người xuất gia như vậy, thọ cụ như vậy mà dạy họ: Các thiện nam! Nếu nay ông có thể chẳng trì cấm giới thì chính là chân thật thọ trì.
Thiên Trụ ý hỏi:
–Vì ý nghĩa gì lại nói vậy?
Văn-thù đáp:
–Này Thiên tử! Vì tất cả pháp đều không có chỗ chấp giữ nên không chỗ trì, cớ sao riêng nơi giới này mà có trì.
 Này Thiên tử! Nếu giới có thể trì thì là trì nơi ba cõi.
Này Thiên tử! Ý ông thế nào, lấy gì làm giới?
–Bạch Đại sĩ! Nếu có thể đầy đủ Ba-la-đề-mộc-xoa thì gọi là giới.
–Này Thiên tử! Thế nào gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa?
 –Bạch Đại sĩ! Đó là trì thân và khẩu ý, ba nghiệp đầy đủ thì gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa.
–Này Thiên tử! Ý Thiên tử thế nào? Nay đang là hiện tiền, vậy nơi nào hiện hữu thân nghiệp có thể tạo tác ấy? Như vậy, phải chăng quá khứ và vị lai cũng không có hữu tác, bởi chúng đều vô tác nên không có hình tượng tướng mạo để có thể khẳng định là có, hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ hoặc trắng hoặc trong suốt như pha-lê?
–Bạch Đại sĩ! Đều không vậy.
–Này Thiên tử! Nó gọi là gì và nói thế nào?
–Bạch Đại sĩ! Nó gọi là vô vi thật không thể nói vậy. Cho đến ý tác cũng lại như vậy.
–Này Thiên tử! Ý Thiên tử thế nào, vô vi kia có thể làm hữu vi được chăng?
–Bạch Đại sĩ, không!
–Này Thiên tử! Nếu nói giới học tăng thượng, tâm học tăng thượng, tuệ học tăng thượng đó là học thật tế phải nên biết, vì không chỗ trì nên nói tuệ học tăng thượng, vì không đối tượng biết nên nói

* Trang 277 *
device

tâm học tăng thượng; vì không đối tượng thấy nên nói tuệ học tăng thượng; vì tâm không phân biệt, chẳng ức niệm, chẳng sinh khác lạ nên gọi là tâm học tối thượng, giới học và tuệ học cũng vậy.
Này Thiên tử! Nếu chẳng được tâm thì chẳng niệm giới. Nếu không niệm giới thì chẳng tư tuệ. Nếu chẳng tư tuệ thì không còn khởi tất cả nghi hoặc, đã không nghi hoặc thì chẳng trì giới, nếu chẳng trì giới thì gọi là chân thật trì giới.
Này Thiên tử! Người trì giới ấy thì không chỗ mong muốn, vì không mong muốn nên không thoát hoàn, vì không thoát hoàn thì thanh tịnh, vì thanh tịnh nên giải thoát, vì giải thoát nên tinh tấn, vì tinh tấn nên vô lậu, vì vô lậu nên an trụ chính hạnh, vì trụ chính hạnh nên không tượng mạo, vì không tượng mạo nên tức là hư không. Vì sao? Vì hư không kia không có hình mạo vậy. Vì thế nên, này Thiên tử! Nếu có người học được như vậy là chẳng học, vì vô học nên là chân học. Ở chỗ nào học? Là không chỗ học. Thế nào không có chỗ? Đó là hư không bình đẳng. Nếu có thể chính trụ hư không bình đẳng thì gọi là chân trụ giới học.
Lại nữa, này Thiên tử! Nếu là người có thể xuất gia như vậy, có thể thọ cụ như vậy, tôi sẽ dạy họ như vầy:
–Này thiện nam! Nay nếu ông có thể lãnh thọ cúng dường của tất cả đàn-việt trong tam thiên đại thiên thế giới mà ở trong ấy chẳng khởi phân biệt, chẳng nghĩ báo ân thì mới gọi là thanh tịnh trì giới.
Thiên Trụ ý hỏi:
–Vì sao lại nói như vậy?
Văn-thù-sư-lợi:
–Vì này Thiên tử! Nếu người nắm lấy kẻ thí kẻ thọ và tài vật, ba sự đó là báo ân. Lại nếu thấy nếu tư duy nếu phân biệt ba sự ấy đó là báo ân. Còn nếu chẳng nắm lấy chẳng thấy chẳng tư duy, chẳng phân biệt ba sự ấy thì có gì báo ân được. Vì sao? Vì báo ân như vậy từ xưa nay rốt ráo thanh tịnh.
Này Thiên tử! Nếu là người nắm lấy, nếu thấy, nếu tư duy, nếu phân biệt, nếu nghĩ nhớ báo ân thì là phàm phu chớ chẳng phải A-la-hán. Vì hàng phàm phu trong tất cả thời gian luôn thủ trước, tư lương

* Trang 278 *
device

phân biệt, đây thọ nhận kia ban cho, kia nhơ đây sạch, do phân biệt mà có báo ân. Thế nào là báo ân? Đó là hàng phàm phu ở trong cõi sinh tử lấy thân đời sau nên ở nơi kia muốn làm sự báo ân. Này Thiên tử! Hàng A-la-hán chẳng thọ thân sau, cứu cánh chẳng thấy, chẳng tư lương, chẳng phân biệt, không có đây kia, chẳng còn thọ thân thì sẽ ở chỗ nào để báo ân.
Này Thiên tử! Nếu thọ người thí nên hành ba sự thanh tịnh rồi sau mới thọ. Những gì là ba sự thanh tịnh?
1. Chẳng thấy tha nhân tức không người thí.
2. Chẳng thấy tự thân tức không người thọ.
3. Chẳng thấy tài vật tức không có sự bố thí.
Này Thiên tử! Ba sự thanh tịnh như vậy là cứu cánh thanh tịnh, thanh tịnh như đây thì còn cần gì báo ân. Do nghĩa này mà tôi nói rằng nếu thọ lãnh đồ thí của tất cả đàn-việt trong tam thiên đại thiên thế giới mà chẳng phân biệt chẳng nghĩ báo ân, người này được gọi là phước điền chân thật thù thắng ở thế gian, là chân xuất gia, là tịnh trì giới.
Lại nữa, này Thiên tử! Tôi làm cho người ấy xuất gia như vậy, trì giới như vậy rồi, tôi sẽ còn dạy họ:
–Này thiện nam! Nay nếu ông có thể chẳng hành A-lan-nhã, chẳng ở tụ lạc, chẳng ở gần, chẳng ở xa, chẳng ngồi một mình, chẳng ở trong đại chúng, chẳng nói nhiều, chẳng nín lặng, chẳng khất thực, chẳng thọ thỉnh, chẳng dùng y phấn tảo, chẳng nhận y bát của người, chẳng ăn nhiều, chẳng thiểu dục, chẳng cầu nhiều, chẳng tri túc, chẳng ngồi dưới cây, chẳng ngồi chỗ trống, chẳng uống thuốc đã quá hạn, chẳng dùng thịt và tô lạc.
Này thiện nam! Nếu ông đối với tất cả hạnh Đầu-đà chẳng khởi phân biệt, hành như vậy thì gọi là hành viên mãn hạnh Đầu-đà. Vì sao? Vì nếu dùng ghi nhớ phân biệt để hành tức là ngã mạn, nơi tâm còn thấy có các tướng.
Này Thiên tử! Nếu thực hành như vậy tất sẽ suy nghĩ: “Tôi thọ y phấn tảo, tôi khất thực, tôi ở dưới cây, tôi ngồi chỗ trống, tôi hành A-lan-nhã, tôi uống thuốc đã quá hạn, tôi thiểu dục, tôi tri túc, tôi hành Đầu-đà.” Nếu thấy có, thật không có sự kiện đó.

* Trang 279 *
device

Này Thiên tử! Nếu là người chánh hành thì chẳng sinh niệm tưởng như vậy. Vì sao? Vì người này không có tất cả phân biệt vậy. Người này còn chẳng thấy có ngã huống là có thấy công đức Đầu-đà. Vì lẽ ấy nên, này Thiên tử! Nếu có người hành hạnh Đầu-đà mà chẳng ghi nhớ, chẳng phân biệt, như vậy thì tôi cho là chân Đầu-đà. Vì sao? Vì người như vậy thì phủi bỏ tham dục, sân khuể, ngu si, phải bỏ ba cõi, phủi bỏ năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, tôi nói là chân Đầu-đà. Vì sao? Vì Đầu-đà ấy chẳng giữ, chẳng bỏ, chẳng tư chẳng niệm, chẳng tu chẳng hành phi pháp phi phi pháp. Vì thế nên tôi nói là chân Đầu-đà.
Lại nữa, này Thiên tử! Tôi làm cho người ấy xuất gia như vậy thực hành như vậy rồi, tôi sẽ dạy họ:
–Nay nếu ông có thể chẳng quán bốn Thánh đế, chẳng tu bốn Niệm xứ, chẳng tu bốn Chánh cần, chẳng tu bốn Như ý túc, chẳng tu năm Căn, năm Lực, chẳng tu bảy Giác phần, tám Thánh đạo cho đến chẳng tu ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề phần, chẳng chứng ba môn giải thoát. Vì sao? Vì Thánh đế ấy nhập vào tướng vô sinh, không thể nhớ biết, chẳng thể tu chứng. Vì sao? Vì trong vô sinh, thế nào nói là chứng. Vì thế, nên tôi nói luận về niệm xứ là chẳng niệm, chẳng tư, tất cả pháp nên gọi là Niệm xứ.
Này Thiên tử! Nếu Tỳ-kheo chẳng trụ Dục giới, chẳng trụ Sắc giới, chẳng trụ Vô sắc giới thì gọi là Tỳ-kheo chẳng trụ nơi bốn Niệm xứ mà tư tu bốn Niệm xứ. Thế nào là tư tu? Như trên kia nói chẳng tư chẳng tu thì gọi là tư tu. Và theo thứ lớp như vậy cho đến ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần nên biết như vậy.
Này Thiên tử! Nếu thiền hành Tỳ-kheo ấy đối với tất cả pháp đều vô sở đắc, vì vô sở đắc nên chẳng tư niệm, chẳng phân biệt, chẳng tu, chẳng chứng. Vì sao? Vì các pháp ấy chỉ có danh tự thôi. Như ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề, dù có danh tự mà chẳng thể nắm bắt, chỉ do nhân duyên phân biệt mà sinh, là nhất tướng vô tướng. Do danh tự như vậy nên nói như vậy, lời nói ấy cũng không. Nên dù do danh tự chứng biết mà trọn chẳng thể nắm bắt. Đây gọi là như thật giác tri ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề.
–Bạch Đại sĩ! Thế nào gọi là thiền hành Tỳ-kheo?

* Trang 280 *
device

–Này Thiên tử! Nếu Tỳ-kheo ấy đối với tất cả pháp chỉ lấy một hạnh rồi tùy thuận tột mức, nghĩa là vô sinh, đây gọi là thiền hành. Lại không có một chút pháp để nắm lấy, đây gọi là thiền hành. Chẳng lấy pháp gì? Đó là chẳng lấy đời này đời kia, chẳng nắm bắt ba cõi cho đến chẳng nắm bắt tất cả pháp, bình đẳng như vậy thì gọi là thiền hành.
Này Thiên tử! Như thiền hành ấy, cho đến không có một pháp tương ưng, không hợp không tán, đây là thiền hành.
Bấy giờ trong pháp hội có đa số vô lượng trăm ngàn chúng sinh đều nghi ngờ:
–Nay Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói như vậy làm sao tương ưng với lời của Đức Phật đã dạy. Vì sao? Vì như Đức Thế Tôn thường nói: Nếu người nhập được ba môn giải thoát thì gọi là Niết-bàn. Đức Thế Tôn lại nói: Nếu ai hay tu tập ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề thì có thể chứng Niết-bàn. Nhưng nay Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bảo, chẳng nên tu ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề, cũng chớ nhập ba môn giải thoát. Có phải Văn-thù-sư-lợi vọng thuyết ư?
Biết sự nghi ngờ của các Tỳ-kheo và đa số chúng hội, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi liền nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
–Này Tôn giả! Nay Tôn giả rất nên chứng tín. Đức Phật nói Tôn giả là bậc Trí tuệ đệ nhất. Này Tôn giả! Ý Tôn giả thế nào? Nơi đâu mà ngài là bậc chứng được pháp ly dục? Đương lúc chứng ấy lẽ nào chẳng thấy bốn Thánh đế ư?
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:
–Chẳng có.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi:
–Lẽ nào chẳng tu ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề?
Tôn giả đáp:
–Chẳng có.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:
–Lẽ nào chẳng nhập ba môn giải thoát?
Tôn giả đáp:
–Chẳng có. Thưa Đại sĩ! Lúc ấy đối với tôi, cho đến không có

* Trang 281 *
device

một pháp có thể thấy, có thể trừ, có thể tu, có thể chứng, có thể tuyển trạch được. Vì sao? Vì tất cả pháp vô vi, vô sinh, vô ngôn đều là không. Nếu đã là không thì có gì để chứng đắc được.
Lúc nói pháp này, trong chúng có ba vạn Tỳ-kheo đối với pháp các lậu đều được đoạn tận, tâm được giải thoát vô ngại.

* Trang 282 *
device

 
Đại Tập 44 - Bộ Bảo Tích III - Số 310 (Q. 91 - 120) & Số 311 -> 312