LOGO VNBET
KINH ĐẠI BẢO TÍCH
 
QUYỂN 113 
 
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Sa-môn Thích Đạo Củng.
 
Pháp hội 44: BẢO LƯƠNG TỤ (Phần 1)
 
Phẩm 1: TỨ SA-MÔN
 
Tôi nghe như vầy:  Một thời Đức Phật ở thành Vương xá trong núi Kỳ-xà-quật cùng đại Tỳ-kheo tám ngàn người đều hội họp. Còn có sáu ngàn Đại Bồ-tát đều không thoái chuyển nơi Vô thượng Bồ-đề, đều là bậc Nhất sinh bổ xứ từ các Phật thế giới mười phương đến nơi đây hội họp.
Bấy giờ Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn! Gọi Sa-môn thì thế nào là Sa-môn?
Đức Phật dạy:
 –Này Đại Ca-diếp! Gọi là Sa-môn vì tịch diệt, vì điều phục, vì thọ giáo, vì giới thân thanh tịnh, vì nhập thiền định, vì được trí tuệ, vì hiểu biết thật nghĩa được giải thoát, vì ba môn Giải thoát không còn nghi ngờ, vì an trụ pháp sở hành của Thánh nhân, vì khéo tu bốn Niệm xứ, vì lìa tất cả pháp bất thiện, vì an trụ bốn Chánh cần, vì khéo tu bốn Như ý túc, vì thành tựu tín căn, vì tin Phật, Pháp, Tăng, vì thành tựu kiên tín nơi Phật, Pháp, Tăng, vì chẳng tin đạo pháp khác, vì siêng tu lìa tất cả phiền não, vì khéo tu bảy Bồ-đề phần, lìa tất cả bất thiện, như thật tu tất cả thiện pháp, vì khéo biết chánh niệm, chánh trí phương tiện, vì chuyên niệm tất cả các thiện pháp, vì khéo biết định tuệ phương tiện, vì thành tựu năm Lực, vì chẳng bị tất cả phiền não nhiễu loạn, vì khéo tu bảy Bồ-đề phần, vì khéo biết nhân duyên phương tiện trong tất cả pháp, vì khéo biết phương tiện Thánh đạo, vì khéo biết phương tiện chánh kiến, chánh định, vì được

* Trang 509 *
device

sức bốn Biện tài vô ngại chẳng tin ngoại đạo, vì y nghĩa chẳng y ngữ, y trí chẳng y thức, y kinh liễu nghĩa, chẳng y kinh không liễu nghĩa và y pháp không y theo người nói pháp, vì lìa bốn ma, vì khéo biết năm ấm, vì dứt tất cả phiền não, vì được tối hậu thân, vì lìa đường sinh tử, vì lìa tất cả ái, vì siêng tu biết Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo, vì khéo thấy bốn Thánh đế, vì an trụ trong Phật pháp chẳng tin đạo khác, vì chỗ làm đã xong, vì dứt tất cả lậu, vì tu tám bội xả, vì được Thích, Phạm thiên vương khen, vì từ xưa đến giờ chuyên tâm hành đạo, vì ưa chỗ A-lan-nhã vậy, vì an trụ trong Thánh pháp, vì vui nghi thức Phật pháp, vì tâm chẳng khuynh động, vì chẳng thân cận chúng xuất gia tại gia, vì tâm thích độc hành như tê giác, vì sợ chúng đông nhiều não loạn, vì thích ở một mình, vì thường kinh sợ ba cõi, vì thật sự được quả Sa-môn, vì lìa tất cả hy vọng, vì lìa tám pháp thế gian, đó là đối với lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ khổ lạc tâm, vững chắc bất động như đại địa, vì hộ ý mình ý người không chỗ phạm, vì chẳng trược, vì chính hạnh, vì tâm hành thành tựu như hư không, với các hình tướng tâm không dính mắc, như giữa hư không múa tay không vướng ngại.
Này Đại Ca-diếp! Nếu người hay thành tựu các hành pháp như vậy thì gọi là Sa-môn.
Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp bạch:
–Bạch Thế Tôn! Thật chưa từng có, Như Lai khéo nói đức hạnh của Sa-môn.
Bạch Thế Tôn! Nếu đời sau có các Sa-môn chẳng phải thật là Sa-môn mà tự nói là Sa-môn, người chẳng phải phạm hạnh mà tự nói có phạm hạnh, người như vậy tức là đã xâm tổn Vô thượng Bồ-đề được Như Lai tu tập từ vô lượng, vô số kiếp.
Đức Phật dạy:
 –Này Đại Ca-diếp! Tội xâm tổn Bồ-đề của Như Lai như vậy, nói chẳng hết được.
Này Đại Ca-diếp! Sau khi ta diệt độ, ông và các đại đệ tử cũng đều diệt độ, các Đại Bồ-tát ở thế giới này lại đi qua thế giới chư Phật phương khác, bấy giờ trong pháp của ta sẽ có hàng Tỳ-kheo ở nơi sở hành tâm nhiều siểm khúc. Nay ta sẽ nói tội cấu của Sa-môn.

* Trang 510 *
device

Này Đại Ca-diếp! Trong thời kỳ mạt pháp sẽ có Tỳ-kheo chẳng tu thân, chẳng tu giới, chẳng tu tâm, chẳng tu tuệ, ngu si như đứa trẻ hướng đến tối tăm mà không biết, tâm họ chẳng điều phục nên thành Sa-môn cấu uế.
Này Đại Ca-diếp! Cấu uế của Sa-môn có ba mươi hai thứ mà người xuất gia phải xa lìa. Những gì là ba mươi hai?
1. Dục giác là Sa-môn cấu.
2. Sân giác là Sa-môn cấu.
3. Não giác là Sa-môn cấu.
4. Tự khen là Sa-môn cấu.
5. Chê người là Sa-môn cấu.
6. Tà cầu lợi dưỡng là Sa-môn cấu.
7. Do lợi cầu lợi là Sa-môn cấu.
8. Tổn phước cúng thí của người là Sa-môn cấu.
9. Che giấu tội lỗi là Sa-môn cấu.
10. Thân cận người tại gia là Sa-môn cấu.
11. Thân cận người xuất gia là Sa-môn cấu.
12. Ưa ở đông ồn náo là Sa-môn cấu.
13. Chưa được lợi dưỡng mà phương tiện cầu là Sa-môn cấu.
14. Có lòng hy vọng lợi dưỡng của người là Sa-môn cấu.
15. Với lợi dưỡng của mình lòng chẳng biết đủ là Sa-môn cấu.
16. Tật đố lợi dưỡng người là Sa-môn cấu.
17. Thường tìm lỗi người là Sa-môn cấu.
18. Chẳng thấy lỗi mình là Sa-môn cấu.
19. Chẳng kiên trì giới giải thoát là Sa-môn cấu.
20. Chẳng biết hổ thẹn là Sa-môn cấu.
21. Không có ý cung kính, mà khinh mạn là Sa-môn cấu.
22. Khởi các kiết sử là Sa-môn cấu.
23. Nghịch mười hai nhân duyên là Sa-môn cấu.
24. Nhiếp thủ biên kiến là Sa-môn cấu.
25. Chẳng tịch diệt chẳng ly dục là Sa-môn cấu.
26. Ưa sinh tử chẳng ưa Niết-bàn là Sa-môn cấu.

* Trang 511 *
device

27. Ưa thích ngoại điển là Sa-môn cấu.
28. Năm triền cái che tâm, khởi các phiền não là Sa-môn cấu.
29. Chẳng tin nghiệp báo là Sa-môn cấu.
30. Sợ ba môn giải thoát là Sa-môn cấu.
31. Chê pháp thâm diệu và chẳng hành tịch diệt là Sa-môn cấu.
32. Ở trong Tam bảo lòng chẳng tôn kính là Sa-môn cấu.
Đây gọi là ba mươi hai cấu của Sa-môn, nếu có thể rời lìa các cấu này thì gọi là Sa-môn.
Này Đại Ca-diếp! Còn có tám pháp chướng che hạnh Sa-môn. Những gì là tám?
1. Chẳng kính thuận sư trưởng.
2. Chẳng tôn kính pháp.
3. Chẳng khéo tư duy.
4. Với pháp chưa nghe, khi được nghe thì phỉ báng.
5. Nghe pháp không có ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng thì sợ.
6. Nghe tất cả hành pháp vô sinh rồi, mà hiểu pháp hữu vi chẳng hiểu pháp vô vi.
7. Nghe nói pháp thứ lớp rồi sa vào chỗ chấp không.
8. Nghe tất cả pháp vô sinh, vô tánh, vô xuất rồi tâm mê một.
Đây gọi là tám pháp che hạnh Sa-môn nên xa lìa.
Này Đại Ca-diếp! Ta chẳng nói cạo đầu, đắp y gọi là Sa-môn, mà ta nói người có công đức và nghi thức đầy đủ gọi là Sa-môn.
Này Đại Ca-diếp! Vị Sa-môn thân mặc ca-sa, tâm phải lìa tham, sân, si. Vì sao? Vì tâm không tham, sân, si ta mới cho phép mặc ca-sa.
Nếu tâm có tham, sân, si mà thân mặc ca-sa, trừ người chuyên tâm trì giới, còn những kẻ chẳng trì giới thì gọi là đốt diệt mất ca-sa. Vì sao? Vì biểu thức của Thánh nhân là người tùy thuận tịch diệt, hành tâm Từ bi, ly dục tịch diệt, mới nên mặc ca-sa.
Này Đại Ca-diếp! Nay ông lắng nghe ta nói biểu thức của Thánh nhân, có mười hai điều. Những gì là mười hai?

* Trang 512 *
device

1. Trì giới là biểu thức của Thánh nhân.
2. Thiền định là biểu thức của Thánh nhân.
3. Trí tuệ là biểu thức của Thánh nhân.
4. Giải thoát là biểu thức của Thánh nhân.
5. Giải thoát tri kiến là biểu thức của Thánh nhân.
6. Nhập bốn Thánh đế là biểu thức của Thánh nhân.
7. Hiểu mười hai nhân duyên là biểu thức của Thánh nhân.
8. Hành bốn Vô lượng tâm là biểu thức của Thánh nhân.
9. Hành bốn Thiền là biểu thức của Thánh nhân.
10. Hành bốn Định vô sắc là biểu thức của Thánh nhân.
11. Nhập bốn hướng Chánh định là biểu thức của Thánh nhân.
12. Dứt tất cả lậu là biểu thức của Thánh nhân.
Đây gọi là mười hai biểu thức của Thánh nhân. Nếu có Tỳ-kheo chẳng đủ mười hai điều này mà thân họ mặc ca-sa, thì ta gọi họ là hành tà pháp, chẳng phải hành tịch diệt, là lìa Phật pháp, hành chẳng gần Niết-bàn, thuận theo sinh tử, bị ma bắt chẳng khỏi sinh tử, thoái thất chánh pháp, mà hành tà pháp.
Do vậy, này Đại Ca-diếp! Vị Tỳ-kheo thân mặc ca-sa nếu chưa được quả Sa-môn thì nên dùng tám pháp kính trọng ca-sa. Những gì là tám? Đó là đối với ca-sa trên thân tưởng như tháp, tưởng như Phật, tưởng tịch diệt, tưởng Từ bi, kính như Phật, tưởng tàm, tưởng quý, tưởng nó khiến tôi đời sau lìa tham, sân, si, đủ pháp Sa-môn. Đây là tám pháp kính trọng ca-sa.
Này Đại Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo, chẳng hành tri túc đối với bốn Thánh chủng thì đó là lìa pháp Sa-môn, họ cũng chẳng dùng tám pháp kính trọng ca-sa, mà họ riêng có trong số tợ Sa-môn, phải đọa tiểu địa ngục. Trong tiểu địa ngục ấy, người tợ Sa-môn thọ tội nóng đốt: Y bát trên thân đều cháy đỏ, chỗ ngồi nằm những vật dùng đều cháy đỏ như đống lửa lớn. Vì họ thành tựu thân, khẩu, ý nghiệp bất tịnh, nên họ phải đọa chỗ chịu tội ấy.
Này Đại Ca-diếp! Nếu người chẳng phải Sa-môn mà tự xưng Sa-môn, người chẳng phải phạm hạnh, mà tự nói có phạm hạnh, nếu có người trì giới công đức đầy đủ hữu nhiễu cung kính tôn trọng. Tỳ-

* Trang 513 *
device

kheo phá giới này thọ sự cúng dường cung kính ấy, mà chẳng tự biết xấu, do căn bất thiện này mắc tám tội khinh. Đó là ngu si, miệng câm ngọng, thân lùn xấu, dung mạo xấu xí, mặt nghiêng méo, người thấy chê cười, thọ thân nữ nhân nghèo hèn, thân gầy yếu yểu thọ, người chẳng kính mến, thường mang tiếng xấu và chẳng gặp đời có Phật.
Phá giới Tỳ-kheo nghe pháp này rồi chẳng nên lãnh thọ sự trì giới lễ bái cúng dường của Tỳ-kheo.
Này Đại Ca-diếp! Nếu có người chẳng phải Sa-môn mà tự xưng Sa-môn, chẳng phải phạm hạnh mà tự nói có phạm hạnh, người ấy ở khắp đại địa này, còn không có chỗ để họ nhổ nước miếng, nước mũi huống là chỗ để họ bước đi, co duỗi, lui tới. Vì sao? Vì quá khứ Đại vương đã đem đại địa này bố thí cho người trì giới, có hạnh đức, khiến ở trong ấy hành đạo.
Này Đại Ca-diếp! Chỗ mà Tỳ-kheo phá giới, đặt bàn chân đến thì tất cả tín thí chẳng đến người ấy, huống là Tăng phường và Tăng xá thường trụ, chỗ kinh hành. Người ấy chẳng nên nhận tất cả tín thí như là phòng nhà, giường ghế, vườn rừng, y bát, ngọa cụ, y dược.
Này Đại Ca-diếp! Nay ta sẽ nói người phá giới ấy chẳng thể báo đáp chừng đầu lông cho tín thí. Vì sao? Vì Thánh chúng phước điền như biển cả tối diệu tối thắng, trong đây nếu có thí chủ do tịnh tâm bố thí, đem hạt giống bố thí gieo trong phước điền, thí chủ này khởi ý tưởng bố thí vô lượng. Ví như chia một sợi lông làm trăm phần, nếu Tỳ-kheo phá giới nhận của thí chủ chừng một phần lông, liền tổn mất phần phước báo đại hải của thí chủ, chẳng thể báo đáp hết được.
Vì lẽ ấy nên các Tỳ-kheo phải thanh tịnh tâm mình mà nhận sự tín thí của người. Phải học như vậy.
Bấy giờ trong đại chúng có hai trăm Tỳ-kheo có tịnh hạnh, thiểu dục, ly khổ, nghe lời trên đây, rồi gạt lệ bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng con thà chết chớ chẳng muốn, do chẳng được quả Sa-môn mà nhận của tín thí dù chỉ là một bữa ăn.
Đức Phật dạy:

* Trang 514 *
device

 –Lành thay, lành thay! Này các thiện nam! Các ông xấu hổ lo sợ như vậy, với đời sau dụ như kim cương, còn hiện đời là anh lạc.
Nay ta sẽ nói trong đời có hai hạng người đáng nhận của tín thí. Thế nào là hai?
1. Người siêng tu tinh tấn.
2. Người được giải thoát.
Nếu có Tỳ-kheo, người được giải thoát, người tu pháp lành như ta đã nói, người giữ giới vững chắc, người quán tất cả hành vô thường khổ, tất cả pháp vô ngã, người quán Niết-bàn tịch diệt, nguyện cầu muốn được. Các Tỳ-kheo này nhận của tín thí khối lượng như núi Tu-di cũng quyết có thể báo được phước tín thí. Tỳ-kheo này nhận của tín thí, khiến thí chủ ấy được lợi ích lớn, được quả báo lớn. Tại sao vậy? Vì thường sinh phước đức. Có ba thứ phước: Một là thường thí thực phẩm, hai là thí Tăng phường xá và ba là hành Từ tâm. Trong ba phước này hành Từ tâm là hơn hết.
Nếu có Tỳ-kheo nhận thí nơi thí chủ, những thứ uống ăn y phục, ngọa cụ, thuốc men, thọ rồi nếu nhập vô lượng định, thì khiến thí chủ ấy được vô lượng phước vô lượng báo.
Ví như tất cả biển lớn trong tam thiên đại thiên thế giới, có thể cạn khô, nhưng phước báo của thí chủ ấy vẫn chẳng hết được.
Trái lại nên biết Tỳ-kheo phá giới, làm tổn mất bao nhiêu phước đức ấy của thí chủ. Nếu nhận thí chủ cúng thí rồi mà hành ác pháp thì tổn tín thí ấy.
 Này Đại Ca-diếp! Như vậy, ta nói Sa-môn cấu, Sa-môn tội, Sa-môn siểm khúc, kẻ giặc trong hàng Sa-môn.
Tỳ-kheo trì giới, phải nên chuyên nhớ xa lìa tất cả ác pháp như vậy.
Này Đại Ca-diếp! Gọi là Sa-môn, có nghĩa là người mắt chẳng duyên theo sắc, tai chẳng duyên theo thanh, mũi chẳng duyên theo hương, lưỡi chẳng duyên theo vị, thân chẳng duyên theo xúc và ý chẳng duyên theo pháp.
Sa-môn là người tuyển trạch sáu Căn, liễu đạt sáu thông, chuyên niệm sáu niệm, an trụ sáu kính pháp và hành sáu trọng pháp.

* Trang 515 *
device

Người như vậy mới gọi là Sa-môn chân chánh.

Phẩm 2: TỲ-KHEO
Bấy giờ, Đức Phật bảo Trưởng lão Đại Ca-diếp:
–Được gọi là Tỳ-kheo, vì là người hay phá phiền não, nên được gọi là Tỳ-kheo, vì hay phá ngã tưởng, nhân tưởng, chúng sinh tưởng, nam tưởng, nữ tưởng nên gọi là Tỳ-kheo.
Này Đại Ca-diếp! Vì có tu giới tu tuệ nên gọi là Tỳ-kheo.
Lại vì lìa sự sợ hãi, vì qua khỏi ba hữu bốn lưu, vì thấy lỗi họa của hữu và lưu, vì lìa tất cả hữu và lưu, vì ở an nơi đạo vô úy, đây gọi là Tỳ-kheo.
Này Đại Ca-diếp! Nếu có Tỳ-kheo tự biết chẳng thành tựu các pháp như vậy và các thiện pháp khác, lại lìa bỏ pháp ấy mà hành đạo khác, thì chẳng phải là đệ tử Phật, ta chẳng phải là Thầy của họ.
Này Đại Ca-diếp! Có nhiều ác Tỳ-kheo phá hoại Phật pháp của ta, chớ chẳng phải chín mươi lăm phái ngoại đạo phá hoại Phật pháp được.
Ví như sư tử là chúa muông thú, khi nó chết tất cả hổ lang điểu thú không thể ăn thịt nó được. Trong thân sư tử tự sinh các thứ trùng tự ăn thịt nó.
Cũng vậy, trong Phật pháp ta sản sinh các ác Tỳ-kheo như vậy, họ tham lợi dưỡng, vì lòng tham nên chẳng dứt ác pháp chẳng tu thiện pháp chẳng lìa vọng ngữ. Các Tỳ-kheo này có thể làm hư hoại Phật pháp ta.
Này Đại Ca-diếp! Có bốn pháp thành tựu nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là tham, sân, si và ngã mạn.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là ngạo mạn tự cao, vô tàm, vô Úy và chẳng giữ gìn lỗi của miệng.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là tự điệu động, khinh khi người, tham cầu lợi dưỡng và làm nhiều điều phi pháp.

* Trang 516 *
device

Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là có nhiều gian ngụy, huyễn hoặc người, làm nhiều tà mạng và nói nhiều ác ngôn.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là hiện chịu ân người chẳng biết báo đáp, làm ân nhỏ mong báo lớn, trước đã chịu ân người mà chẳng ghi nhớ và xâm tổn thân hữu.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là nhận của tín thí làm tổn thất phước báo của người, chẳng khéo giữ giới, khinh giới đã thụ, chẳng trì luật vững chắc.
Lại có bốn pháp thành tựu nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là luận có ngã, luận có nhân, luận có chúng sinh và luận có thọ mạng.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là chẳng kính Phật, chẳng kính Pháp, chẳng kính Tăng và chẳng kính Giới.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là nếu Tăng hòa hợp thì lòng chẳng vui, chẳng ưa ở một mình, ưa ở trong chúng và khi nói chuyện thường luận thế tục.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là cầu lợi, cầu danh, cầu nhiều tri thức và chẳng an trụ Thánh chủng.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là hệ thuộc nơi ma, bị ma làm hại, ngủ nghỉ nhiều và làm lành chẳng mừng.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là hủ bại trong Phật pháp, tâm nhiều siểm khúc, bị phiền não hại và lìa quả Sa-môn.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là bị dâm dục thiêu đốt, bị sân khuể thiêu đốt, bị ngu si thiêu đốt và bị tất cả phiền não thiêu đốt.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là đi nhiều vào xóm dâm chẳng biết tội lỗi, chẳng biết tri túc dù học vấn nhiều, chẳng biết tri túc nơi vật cần dùng và thường có lòng bỏn sẻn chẳng hay bố thí.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là từ tối vào nơi tối, từ si vào nơi si, chẳng thấy Thánh đế, lòng nhiều nghi hoặc và bị sinh tử cột trói, đóng cửa Niết-bàn.
Lại có bốn pháp nên biết là ác Tỳ-kheo. Đó là thân nhiều gian

* Trang 517 *
device

hành, khẩu nhiều gian hành, ý nhiều gian hành và nghi thức nhiều gian hành.
Những gì là thân gian hành? An tường mà đi là thân gian hành. Chẳng ngó hai bên là thân gian hành. Nếu ngó hai bên chẳng quá một tầm là thân gian hành. Tà mạng mặc y là thân gian hành. Siểm khúc đi nơi không nhàn mà chẳng cầu pháp hành không nhàn, siểm khúc khất thực mà chẳng quán tướng khất thực, siểm khúc mặc y phấn tảo mà chẳng biết là vì xấu hổ, siểm khúc đi nơi núi rừng dưới cây mà chẳng biết phân biệt mười hai duyên hành, siểm khúc uống thuốc cũ bỏ mà chẳng cầu pháp dược cam lộ đây gọi là thân nhiều gian hành.
Những gì gọi là khẩu nhiều gian hành? Như nói rằng: Họ biết tôi, họ thỉnh tôi, như sở cầu tôi đã được, tôi chẳng cầu lợi dưỡng mà họ đưa đến cho tôi, đồ cúng dường tế diệu tôi đều được, nhiều lợi dưỡng tôi đều được, tôi thường hành thiện pháp đáng nhận cúng dường, tôi vấn đáp giỏi, tôi hay thuận hay nghịch pháp tướng, với tất cả pháp tôi hiểu nghĩa và phi nghĩa, nếu họ hỏi tôi như vậy, tôi có thể đáp như vậy, tôi đáp rồi chế phục họ khiến họ nín lặng, tôi nói như vậy rồi có thể khiến đại chúng vui đẹp cũng khiến mọi người khen thiện tai khiến đại chúng ấy thỉnh tôi cúng dường, cúng dường rồi còn khiến thí chủ thỉnh tôi nhiều lần.
 Này Đại Ca-diếp! Nếu người chẳng điều phục khẩu mà có nói ra điều gì, tất cả lời nói đều chẳng phải chánh ngôn, là khẩu nhiều gian hành.
Những gì là ý nhiều gian hành? Lòng luôn nghĩ tưởng tham cầu lợi dưỡng, y bát, ẩm thực, ngọa cụ, y dược mà miệng nói tôi chẳng cần tất cả lợi dưỡng, lòng thì cầu nhiều mà nói gạt là biết đủ, đây gọi là ý nhiều gian hành.
Đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Lòng cầu lợi dưỡng
Miệng nói biết đủ
Tà mạng cầu lợi
Thường không vui sướng.
Lòng họ nhiều gian

* Trang 518 *
device

Khi dối mọi người
Tâm mà như vậy
Đều chẳng thanh tịnh.
Trời, Rồng, Thần thảy
Người có Thiên nhãn
Chư Phật, Bồ-tát
Đều thấy biết rõ.
Này Đại Ca-diếp! Ác Tỳ-kheo như vậy rời lìa thiện pháp nghi thức mà làm hạnh tà mạng phải đọa ba ác đạo.
 

 
Phẩm 3: SA-MÔN CHIÊN-ĐÀ-LA
 
Đức Phật bảo Trưởng lão Đại Ca-diếp:
 –Thế nào là Sa-môn Chiên-đà-la?
Này Đại Ca-diếp! Ví như người Chiên-đà-la không có tâm Từ bi nhìn các chúng sinh, họ thường ở trong gò mả tìm tử thi, họ được thấy tử thi thì lòng họ rất vui mừng. Cũng vậy Sa-môn Chiên-đà-la thường không có Từ tâm, họ đến nhà thí chủ hành tâm bất thiện cầu các lợi dưỡng, cầu được rồi sinh lòng quý trọng, nhận lợi dưỡng nơi nhà thí chủ rồi họ chẳng dạy thí chủ về giới luật Phật pháp, họ vì lợi dưỡng mà thân cận tại gia, chớ chẳng vì Phật pháp, họ cũng không có Từ tâm thường cầu lợi dưỡng. Đây gọi là Sa-môn Chiên-đà-la.
Ví như Chiên-đà-la bị mọi người bỏ rời, những hàng Quốc vương, Đại thần, Trưởng giả, Sát-lợi Bà-la-môn, các thứ dân cho đến kẻ hạ tiện đều xa rời họ chẳng muốn cùng làm tri thức với họ. Cũng vậy, Sa-môn Chiên-đà-la bị tất cả người trì giới có đức đáng kính Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà xa rời, vì biết họ phá giới làm ác. Đây gọi là Sa-môn Chiên-đà-la.
Ví như Chiên-đà-la có những đồ vật dụng như y phục, ẩm thực đều chẳng phải là vật mà người tốt ưa thích, cũng chẳng thọ dụng. Cũng vậy, Sa-môn Chiên-đà-la nếu có y bát vật dụng, đều là do phá

* Trang 519 *
device

giới phi pháp thân, khẩu, ý nghiệp siểm khúc mà được, các vật dụng ấy chẳng được Sa-môn, Bà-la-môn trì giới ưa thích, cũng chẳng thọ dụng, thường sinh lòng thương xót đối với kẻ ấy. Đây gọi là Sa-môn Chiên-đà-la.
Ví như Chiên-đà-la lòng thẹn thùng, cầm chén bát xin ăn nơi người. Cũng vậy, Sa-môn Chiên-đà-la, lòng luôn thẹn thùng khi vào nhà người hoặc đến trong chúng, họ cũng thẹn thùng khi đến chỗ Phật, họ thẹn thùng lễ tháp Như Lai, đến lui, cúi ngửa, đi đứng, ngồi nằm họ đều thẹn thùng, vì họ che đậy ác pháp.
Này Đại Ca-diếp! Nay ta nói chỗ đến của người Chiên-đà-la chẳng đến chỗ lành, vì họ tự hành ác pháp vậy. Cũng thế, Sa-môn Chiên-đà-la chỗ đi đến cũng chẳng đến thiện đạo vì họ làm nhiều nghiệp ác, không ngăn pháp ác đạo. Đây gọi là Sa-môn Chiên-đà-la.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là Sa-môn bại hoại?
Ví như rượu tốt được cất lấy hết khí vị thơm ngon, còn lại cặn bã bị người chê bỏ. Cũng vậy Sa-môn bại hoại rời lìa pháp vị lấy cặn phiền não, họ bỏ hương trì giới mà ngửi mùi hôi phiền não, họ đến chỗ nào đều chẳng thể tự lợi cũng chẳng lợi cho người. Đây gọi là Sa-môn bại hoại.
Ví như thực phẩm được ăn biến thành phân uế hôi thối bất tịnh bị người chán lìa. Cũng vậy, Sa-môn bại hoại thân, khẩu, ý nghiệp chẳng thanh tịnh nhơ uế cũng như vậy.
Ví như hạt giống hư gieo vào đất, hoàn toàn chẳng mọc mầm kết trái. Cũng vậy, Sa-môn bại hoại dù ở trong Phật pháp mà chẳng sinh thiện căn, chẳng được quả Sa-môn.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là tráp Sa-môn?
Ví như cái tráp sơn vẽ, do thợ khéo làm thành, trong ấy đựng các thứ bất tịnh hôi thối. Cũng vậy, tráp Sa-môn ngoài hiện thành tựu tợ hạnh Sa-môn mà nội tâm nhiều thứ cấu uế, hành những nghiệp ác.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là Sa-môn Câu-lan-trà?
Ví như hoa Câu-lan-trà màu sắc sáng đẹp cứng như gỗ đá có mùi hôi thối như trét phân. Người có trí nếu thấy hoa này thì chẳng gần chẳng chạm đến mà tránh đi xa, kẻ ngu chẳng biết lợi hại, họ

* Trang 520 *
device

thấy hoa ấy liền đến gần để ngửi. Cũng vậy, Sa-môn Câu-lan-trà hiện tợ hạnh Sa-môn mà có thô bạo ngạo mạn tự cao ác bất tịnh, họ lại phá giới phá chánh kiến. Người trí chẳng thân cận lễ kính họ, vì họ là ác nhân nên người trí lánh xa. Có kẻ ngu si như trẻ nít thân cận lễ kính họ, tin lời họ nói. Đây gọi là Sa-môn Câu-lan-trà.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là Sa-môn cầu lợi?
Ví như có người siểm khúc, tâm thường bỏn sẻn bị tham che lấp, nếu thấy tài vật người thì hy vọng muốn được, chứa dao bén, gậy cứng, không lòng hổ thẹn không lòng thương xót, thường có lòng tổn hại, lúc đi trong núi chầm thôn ấp có tâm nguyện đối với tài vật người mong cầu muốn được, thường lẫn trốn chẳng cho người thấy. Cũng vậy, Sa-môn cầu lợi lòng thường bỏn sẻn bị tham che lấp, nơi lợi dưỡng đã được, lòng không biết đủ, với tài vật người hy vọng muốn được, khi đến thành ấp thôn xóm thì vì lợi dưỡng chẳng vì thiện pháp, che giấu tội ác, cho rằng các Tỳ-kheo tốt, biết tôi phá giới, đã biết tất lúc thuyết giới hoặc có thể đuổi tôi ra. Người này ở nơi Tỳ-kheo tốt, chỉ sinh lòng e sợ, thường dua nịnh hiện làm nghi thức. Trời, Rồng, Quỷ thần có Thiên nhãn thấy biết Tỳ-kheo này đến là giặc đến, đi là giặc đi, ngồi là giặc ngồi, nằm là giặc nằm, dậy là giặc dậy, lấy y là giặc lấy y, mặc y là giặc mặc y, vào thôn xóm là giặc vào thôn xóm, xuất thôn xóm là giặc xuất, ăn là giặc ăn, uống là giặc uống, cạo tóc là giặc cạo tóc. Người ngu si ấy đến, đi, cử động đều bị Trời, Rồng, Quỷ thần thấy biết liền quở mắng kẻ ác này chính là kẻ làm hoại diệt pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni. Sa-môn cầu lợi này xuất gia trong Phật pháp chẳng sinh được một niệm tịch diệt ly dục huống là được quả Sa-môn. Đây gọi là Sa-môn cầu lợi.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là Sa-môn cỏ dại?
Ví như trong ruộng lúa mọc cỏ dại giống cây lúa khó phân biệt được, nông phu cho là lúa tốt, đến khi trổ bông mới biết chẳng phải là lúa. Cũng vậy, Sa-môn cỏ dại ở trong đại chúng giống như người trì giới có đức hạnh, thí chủ thấy cho là Sa-môn, mà kẻ si này chẳng phải Sa-môn tự nói là Sa-môn, chẳng phải phạm hạnh tự xưng phạm hạnh, từ trước đã bại hoại rời trì giới cũng chẳng vào số

* Trang 521 *
device

Tăng chúng, trong Phật pháp không có trí tuệ mạng sẽ đọa ác đạo như cỏ dại ở trong ruộng lúa. Bấy giờ Trời, Rồng, Quỷ thần có Thiên nhãn thấy kẻ si ấy đọa địa ngục, họ bảo nhau rằng: Đây là người ngu si trước kia tợ Sa-môn mà hành pháp bất thiện nay sẽ đọa trong đại địa ngục. Từ nay về sau hoàn toàn không có được đức hạnh Sa-môn và quả Sa-môn như cỏ dại ở trong ruộng lúa. Đây gọi là Sa-môn cỏ dại.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là bồ sinh Sa-môn?
Ví như cỏ lác mọc trong ruộng lúa, vì nó chẳng chín nên gọi là bồ sinh, vì nó không có hạt bị gió thổi bay nó không có sức cứng nặng, tợ lúa mà chẳng phải lúa. Cũng vậy, bồ sinh Sa-môn thân hình tợ Sa-môn mà không người dạy bảo không có đức lực bị ma phong thổi bay, họ cũng không sức huyết khí trì giới, lìa đa văn, tổn thất định lực, cũng xa trí tuệ chẳng thể phá hoại giặc phiền não, người như vậy yếu kém không có sức lực bị hệ thuộc nơi ma, bị ma nó câu chìm trong tất cả phiền não, bị ma phong thổi bay như bồ sinh trong ruộng lúa.
Này Đại Ca-diếp! Hạt cỏ lác không dùng làm lúa giống được, không mọc mầm lúa được. Cũng vậy, ở trong Phật pháp bồ sinh Sa-môn không có chủng tử đạo, trong pháp Hiền thánh không được giải thoát. Bồ sinh Sa-môn là Tỳ-kheo phá giới làm ác. Đây gọi là bồ sinh Sa-môn.
Lại nữa, này Đại Ca-diếp! Thế nào là hình tợ Sa-môn?
Ví như có thợ khéo dùng vàng mạ lên đồng màu sắc tợ vàng mà giá trị chẳng giống với vàng, lúc chà mài mới biết chẳng phải vàng. Cũng vậy, người hình tợ Sa-môn ưa tự nghiêm sức thường tắm rửa đắp y tề chỉnh, nghi thức Sa-môn tất cả đều đủ, đến đi cúi ngước thường đúng nghi thức, nhưng người này thường bị tham, sân, si làm hại, cũng bị lợi dưỡng cung kính, tán thán làm hại, cũng bị ngã mạn tăng thượng mạn tất cả phiền não làm hại, dù được người quý trọng mà y không trọng pháp, thường siêng trang nghiêm thân, nhưng chỉ cầu ẩm thực chẳng cầu Thánh pháp, chẳng lo sợ đời sau, thấy sự tôn trọng hiện tại chẳng phải vị lai tôn trọng, chỉ lo mập béo thêm, dựa nơi lợi dưỡng chẳng phải dựa nơi pháp, nhiều thứ trói buộc, siêng tạo

* Trang 522 *
device

gia nghiệp thuận lòng người tại gia cũng tùy theo sở thọ của họ, lúc khổ thọ khổ lúc vui thọ vui, bị ghét thương làm hại, nơi pháp Sa-môn, họ không có lòng muốn thực hành rời các nghi thức, tất sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Người này không có thật nghĩa Sa-môn, không có thật danh Sa-môn, chẳng đồng với Sa-môn. Đây gọi là hình tợ Sa-môn.
Này Đại Ca-diếp! Thế nào là mất huyết khí Sa-môn?
Ví như có nam tử hay nữ nhân, hoặc đồng nam hay đồng nữ bị phi nhân ăn mất huyết khí. Người này gầy yếu xanh xao vì bị mất huyết khí, các thứ thuốc men chú thuật và dao gậy chẳng chữa trị được, tất phải chết. Cũng vậy, Sa-môn không có huyết khí giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và huyết khí Từ, Bi, Hỷ, Xả, cũng không có huyết khí bố thí điều phục, hộ trì thân, khẩu, ý nghiệp, cũng không có huyết khí an trụ bốn Thánh chủng, không có huyết khí nghi thức Sa-môn, không có huyết khí thanh sinh thân, khẩu, ý. Đây gọi là Sa-môn mất huyết khí. Sa-môn mất huyết khí này, dù nhận pháp dược của Như Lai mà chẳng dùng pháp dược để tự độ như: “Nếu khởi dâm dục phải quán bất tịnh, nếu sinh sân hận phải hành Từ tâm, nếu khởi ngu si nên quán mười hai nhân duyên, với các phiền não nên chánh tư duy, rời lìa lòng ưa thích chúng đông, xả bỏ sở hữu, ba sự xuất gia phải nên yêu mến giữ gìn: Một là trì giới thanh tịnh, hai là điều phục tâm mình và ba là nhập định chẳng loạn.” Các pháp dược như vậy được Như Lai tuyên nói, được Như Lai cho phép uống. Người này dù nhận pháp dược ấy mà chẳng dùng tự độ. Lại còn những pháp xuất thế, như là không quán, vô tướng quán, vô tác quán, tỏ ấm giới nhập, biết bốn Thánh đế và mười hai nhân duyên. Các pháp dược như vậy cũng chẳng được người ấy dùng tự độ. Sa-môn này hôi thối bất tịnh vì phá giới vì bạc đức vậy, sẽ sinh chỗ tột thấp vì kiêu mạn. Nơi thân ấy chết tất chẳng sinh nơi nào khác mà quyết sẽ đọa đại địa ngục, như người mất huyết khí quyết rồi sẽ chết. Đây gọi là Sa-môn mất huyết khí.
Lúc Đức Phật tuyên nói như vậy rồi, có năm trăm Tỳ-kheo xả giới hoàn tục. Các Tỳ-kheo khác quở rằng: “Ở trong Phật pháp nếu các Đại đức bỏ mà hoàn tục là phi thiện, là phi pháp.”

* Trang 523 *
device

Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Các ông chớ nói như vậy. Vì sao? Vì làm như vậy gọi là thuận pháp. Nếu Tỳ-kheo chẳng muốn nhận của tín thí mà thoái lui hoàn tục thì gọi là thuận pháp.” Các Tỳ-kheo kia vì tâm tín giải nhiều nên sinh lòng hối lỗi. Họ nghe lời dạy trên kia rồi tự suy nghĩ chúng ta hoặc có thể hành bất tịnh hạnh mà thọ của tín thí, chúng ta phải sinh lòng hối lỗi thoái lui mà hoàn tục.
Này Đại Ca-diếp! Nay ta nói các Tỳ-kheo thoái lui hoàn tục ấy sau khi mạng chung sinh trời Đâu-suất chỗ của Bồ-tát Di-lặc. Thời kỳ Di-lặc Như Lai xuất thế, các Tỳ-kheo ấy sẽ ở trong pháp hội đầu tiên.


Phẩm 4: DOANH SỰ TỲ-KHEO

 
Bấy giờ Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp bạch:
–Bạch Thế Tôn! Thế nào là Tỳ-kheo hay quản lý sự việc trong Tăng chúng?
Đức Phật dạy:
 –Này Đại Ca-diếp! Ta cho phép hai hạng Tỳ-kheo có thể quản lý chúng sự: Một là người hay trì giới thanh tịnh, hai là người sợ nơi đời sau, ví như kim cương.
Lại có hai hạng: Một là biết các nghiệp báo, hai là có lòng xấu hổ và lòng hối lỗi.
Lại có hai hạng: Một là A-la-hán, hai là có thể tu tập được tám bội xả.
Này Đại Ca-diếp! Đó là hai hạng Tỳ-kheo được ta cho quản lý chúng sự, tự mình không lầm lỗi. Vì sao? Vì hộ ý của người là việc khó.
Này Đại Ca-diếp! Trong Phật pháp có nhiều hạng xuất gia, nhiều loại tánh, nhiều thứ tâm, nhiều thứ giải thoát, nhiều thứ đoạn kết sử, hoặc có người A-lan-nhã, hoặc có người khất thực, hoặc có người thích ở núi rừng, hoặc có người thích ở gần thôn xóm thanh tịnh trì giới, hoặc có người hay lìa bốn ách nạn, hoặc có người siêng tu đa văn, hoặc có người biện nói các pháp, hoặc có người hay trì

* Trang 524 *
device

giới luật, hoặc có người hay trì Tỳ-ni nghi thức, hoặc có người du hành các thôn xóm vì người nói pháp. Có bao nhiêu Tỳ-kheo Tăng như vậy, Tỳ-kheo quản lý khéo biết và làm vừa ý mọi người.
Này Đại Ca-diếp! Nếu Tỳ-kheo A-lan-nhã ưa chỗ không nhàn, thì Tỳ-kheo quản sự chẳng nên sai khiến làm tất cả công việc, nếu là lúc họ phải làm việc trong Tăng chúng thì Tỳ-kheo quản sự nên làm thế, nếu tự mình không làm thì thuê người khác làm thay chẳng nên để họ làm, nếu chẳng phải là giờ hành đạo thì có thể sai làm chút ít.
Nếu Tỳ-kheo khất thực, thì Tỳ-kheo quản sự nên cho họ đồ ăn ngon.
Nếu Tỳ-kheo lìa bốn ách nạn, thì Tỳ-kheo quản sự phải cung cấp các thứ cần dùng như y phục, ẩm thực, ngọa cụ và y dược, chỗ họ ở không được nói to gọi lớn vì muốn phòng hộ ý niệm của họ. Đối với Tỳ-kheo ly ách thì Tỳ-kheo quản sự phải tôn kính tưởng như Đức Thế Tôn và nghĩ rằng: “Tỳ-kheo này có thể làm pháp trụ trong Phật pháp, tôi phải cung cấp các đồ cần dùng cho Đại đức.”
Nếu có Tỳ-kheo siêng tu đa văn, thì Tỳ-kheo quản sự phải khuyến khích họ rằng: “Đại đức siêng tu đa văn đọc tụng cho thông thuộc, tôi sẽ vì Đại đức mà lo cung cấp phục dịch.” Nếu các Đại đức mà siêng tu đa văn như vậy thì tức là anh lạc tốt trong Tăng chúng có thể lên tòa cao rộng thuyết chánh pháp cũng tự mình sinh trí tuệ. Với các Tỳ-kheo tu đa văn này, Tỳ-kheo quản sự chẳng nên sai làm việc phi thời phải ủng hộ cho họ tu đa văn.
Nếu có Tỳ-kheo giỏi thuyết pháp, thì Tỳ-kheo quản sự nên cung cấp mọi sự, nên dắt Tỳ-kheo ấy đến thôn xóm, thành ấp khuyến dụ mọi người đến để nghe thuyết pháp, chỗ thuyết pháp cũng phải cung cấp đồ cần thiết, vì người thuyết pháp mà đặt tòa cao tốt. Nếu có Tỳ-kheo khác dùng cường lực muốn phá hoại người thuyết pháp thì Tỳ-kheo quản sự nên đến hòa giải và cũng nên thường đến chỗ người thuyết pháp khen: “Lành thay!”.
Nếu có Tỳ-kheo khéo trì giới khéo hiểu nghĩa luật thì Tỳ-kheo quản sự phải thường đến hỏi: “Tôi lo công việc thế nào để khỏi phạm tội chẳng tổn mình cũng chẳng hại người?” Tỳ-kheo trì luật

* Trang 525 *
device

nên quan sát tâm của Tỳ-kheo quản sự mà chỉ dẫn việc ấy nên làm, việc ấy chẳng nên làm. Tỳ-kheo quản sự đối với Tỳ-kheo trì luật phải hết lòng kính tin cúng dường.
Nếu chúng Tăng có tài vật dùng chia, thì Tỳ-kheo quản sự phải tùy thời cung cấp cho Tăng chẳng nên cất giấu, tùy lúc Tăng cần dùng nên chia cho Tăng. Phải cho đúng lúc, chẳng vì ác tâm cho, chẳng vì phi pháp cho, chẳng vì tham, vì sân, vì si mà cho, chẳng vì sợ mà cho, theo pháp hành của Tăng chẳng theo pháp tục gia, tùy Tăng chế chẳng tùy tự chế, với tài vật của Tăng chẳng có ý tưởng tự do, cho đến việc nhỏ cũng cùng Tăng phân đoán, chẳng riêng tự đoán. Nếu là vật dụng hoặc vật thường trụ Tăng, vật của Phật, vật bốn phương Tăng, Tỳ-kheo quản sự phải biết rõ, vật của thường trụ Tăng chẳng nên cho bốn phương Tăng, vật của bốn phương Tăng chẳng nên làm vật thường trụ Tăng, vật thường trụ, vật bốn phương, chẳng nên lộn lạo, cũng chẳng lộn với vật của Phật. Nếu vật thường trụ Tăng nhiều mà bốn phương Tăng cần dùng thì Tỳ-kheo quản sự nên họp Tăng Yết-ma. Nếu Tăng hòa hợp chấp thuận nên đem vật thường trụ Tăng chia cho bốn phương Tăng. Nếu tháp điện Phật có chỗ cần, hay hư cần tu sửa mà vật thường trụ Tăng hay vật bốn phương Tăng nhiều thì Tỳ-kheo quản sự nên họp, Tăng Yết-ma, nếu Tăng hòa hợp chấp thuận cho thì quản sự Tỳ-kheo lấy vật ấy dùng tu bổ tháp điện. Nếu Tăng không hòa hợp chấp thuận thì Tỳ-kheo quản sự nên khuyên hóa hàng tại gia cầu xin tài vật để tu bổ tháp điện. Nếu vật của Phật nhiều nhất thiết không được đem chia cho thường trụ Tăng hay bốn phương Tăng. Vì sao? Vì trong những vật ấy dù là một sợi dây đều là của thí chủ tín tâm thí cho Phật, do đó chư Thiên và người đời đều có ý nghĩ là Phật tháp huống là các bảo vật. Nếu nơi Phật tháp trước đã có cúng y, thì y này nên để cho gió thổi mưa rã chớ chẳng nên đem đổi vật khác dù là bảo vật. Vì sao? Vì vật nơi tháp điện Phật không ai có thể đánh giá được, vả lại Phật không chỗ cần dùng. Với vật của Tam bảo, Tỳ-kheo quản sự tốt trong sạch chẳng nên để lộn lẫn nhau, với tự lợi dưỡng phải có tâm tri túc, nơi vật Tam bảo chẳng có ý nghĩ là của mình.

* Trang 526 *
device

Này Đại Ca-diếp! Ở nơi người trì giới có đức hạnh lớn đáng lễ kính hữu nhiễu, mà Tỳ-kheo quản sự có sân tâm dùng quyền sai khiến làm việc, vì sân tâm nên Tỳ-kheo quản sự sẽ đọa đại địa ngục, nếu được làm người thì làm tôi mọi bị chủ nhân sai khiến đánh mắng khổ cực.
Nếu Tỳ-kheo quản sự dùng quyền đặt quy chế nặng quá hạn thường của Tăng trách phạt các Tỳ-kheo sai làm phi thời, do cớ này nên quản sự Tỳ-kheo sẽ đọa tiểu địa ngục nhiều đinh bị trăm ngàn mũi đinh đóng căng thân thể cả thân cháy phừng như đống lửa lớn.
Nếu Tỳ-kheo trì giới có đức lớn mà dùng việc nặng để khủng bố, dùng tâm sân để nói, thì Tỳ-kheo quản sự này sẽ đọa trong địa ngục lưỡi dài rộng năm trăm do-tuần, bị trăm ngàn mũi đinh đóng vào phát lửa cháy đỏ.
Nếu thường được tài vật Tăng, quản sự Tỳ-kheo bỏn sẻn cất giấu, hoặc phi thời phát cho Tăng, hoặc làm khó dễ mà cho, hoặc làm khổ mà cho, hoặc cho ít hay chẳng cho, hoặc cho người này chẳng cho người kia. Do cớ này, Tỳ-kheo quản sự sẽ đọa uế ác ngạ quỷ thường ăn phân cục, có lúc ngạ quỷ khác đưa đồ ăn cho coi mà chẳng cho ăn phải thèm muốn khốn khổ. Bị khổ đói khát trong trăm ngàn năm thường chẳng được ăn. Nếu có được đồ ăn liền biến thành phân nhơ hoặc thành mủ máu. Vì sao? Vì nơi người trì giới đáng lễ kính, mà Tỳ-kheo quản sự ấy làm khó dễ khi đem Tăng vật phát cho.
Này Đại Ca-diếp! Nếu Tỳ-kheo quản sự chuyên tự dùng lộn lạo hoặc vật thường trụ Tăng, hoặc vật bốn phương Tăng, hoặc vật Phật tháp thì mắc báo khổ lớn trong một kiếp hay hơn một kiếp. Vì sao? Vì xâm phạm vật Tam bảo.
Nếu Tỳ-kheo quản sự nghe tội như vậy biết tội như vậy, mà cố sinh lòng sân nơi người trì giới, nay ta nói tội ấy chư Phật Thế Tôn chẳng cứu trị được. Vì thế nên Tỳ-kheo quản sự nghe tội phi pháp như vậy rồi phải nên khéo hộ thân, khẩu, ý nghiệp, tự hộ lấy mình và hộ cho người.
Này Đại Ca-diếp! Tỳ-kheo quản sự thà ăn thịt thân mình chớ quyết chẳng nên tạp dùng vật Tam bảo để làm y bát, ẩm thực.

* Trang 527 *
device

Bấy giờ Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp bạch:
–Bạch Thế Tôn! Thật chưa từng có, Như Lai dùng lòng Từ bi mà nói pháp như vậy, vì người không xấu hổ mà nói pháp không hổ thẹn, vì người có hổ thẹn mà nói pháp hổ thẹn.

* Trang 528 *
device

 
Đại Tập 44 - Bộ Bảo Tích III - Số 310 (Q. 91 - 120) & Số 311 -> 312