LOGO VNBET
PHẬT NÓI KINH ĐẠI THỪA BÍ MẬT CHẲNG NGHĨ BÀN CỦA NHƯ LAI
 
QUYỂN 19
 
Phẩm 22: VUA A-XÀ-THẾ HỎI ĐÁP (Phần 2)
 
Vua A-xà-thế lại hỏi Đức Phật:
–Bồ-tát nên tu bao nhiêu pháp mới được tự tại, để hướng đến tự tại?
Đức Phật đáp:
–Này Đại vương! Bồ-tát nên tu tám pháp mới được pháp tự tại, để hướng đến tự tại.
 1. Lời nói tốt đẹp tâm ý ngay thẳng.
2. Tâm luôn nhu nhuyến.
3. Tâm khéo yêu mến.
4. Tâm thường thẳng thắn bình đẳng.
5. Không quanh co.
6. Không dối gạt.
7. Không ganh ghét.
8. Tâm điều hòa thông suốt. Bồ-tát nếu đầy đủ tám pháp như vậy, mới được pháp tự tại, để hướng đến tự tại.
Vua A-xà-thế lại hỏi Phật:
–Bồ-tát nên tu bao nhiêu pháp mới trụ trong tự tại?
Đức Phật đáp:
–Này Đại vương! Bồ-tát phải tu bốn pháp mới có thể trụ trong tự tại.
 1. Nếu sinh trong nhân gian, nguyện làm Chuyển luân thánh vương, gặp Phật ra đời.

* Trang 939 *
device

2. Nguyện làm Đế Thích gặp Phật ra đời.
3. Nguyện làm Đại phạm Thiên vương, chủ cõi Ta-bà, gặp Phật ra đời.
4. Nguyện làm trưởng giả giàu có thù thắng, gặp Phật ra đời. Bồ-tát nếu đầy đủ bốn pháp như vậy, mới có thể trụ trong tự tại.
Vua A-xà-thế hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tịnh tín lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Này Đại vương! Lấy Thiện tri thức làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Đa văn lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Đa văn lấy tuệ làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Bố thí lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Bố thí lấy sự giàu có tột cùng làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Trì giới lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Trì giới lấy việc sinh đường thiện làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Nhẫn nhục lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Nhẫn nhục lấy tùy hộ chúng sinh làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Tinh tấn lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Tinh tấn lấy sự khéo léo viên mãn tất cả pháp Phật làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Thiền định lấy gì làm rốt ráo?

* Trang 940 *
device

Đức Phật đáp:
–Thiền định lấy Cận tịch làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Thắng tuệ lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Thắng tuệ lấy sự dứt trừ các phiền não làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Lắng nghe pháp lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Lắng nghe pháp lấy đoạn trừ mọi nghi hoặc làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Hỏi pháp lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Hỏi pháp lấy lìa các tạp thuyết làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Ở chỗ vắng lặng lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Ở chỗ vắng lặng lấy sự chứng đắc thiền định thần thông làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Quán tưởng lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Quán tưởng lấy sự lìa niệm làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Thanh vô thường lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Vô thường lấy thanh lìa các chấp trước làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Khổ thanh lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Khổ thanh lấy việc không chấp giữ làm rốt ráo.
Vua hỏi:

* Trang 941 *
device

–Vô ngã thanh lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Vô ngã thanh lấy sự diệt ngã, ngã sở làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Thanh tịch tĩnh lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Thanh tịch tĩnh lấy Tùy chỉ làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Tác ý sâu xa, chắc thật lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Tác ý sâu xa, chắc thật lấy phát khởi chánh kiến làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Nếu lìa thân tâm lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Lìa thân tâm lấy phát khởi thiền định thần thông làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Thánh đạo lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Thánh đạo lấy quả Tam-muội hiện tiền làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Tín giải lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Tín giải lấy giải thoát viên mãn làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Chư Phật ra đời lấy gì làm rốt ráo?
Đức Phật đáp:
–Chư Phật ra đời lấy sự thành tựu tất cả pháp Bồ-đề phần làm rốt ráo.
Vua hỏi:
–Như thế nào mới gọi là Phật ra đời?
Đức Phật đáp:
–Này Đại vương, tùy sự phát tâm Bồ-đề tức là Phật ra đời.

* Trang 942 *
device

Vua hỏi:
–Thế nào là phát tâm Bồ-đề?
Đức Phật đáp:
–Là phát sinh đại Bi.
Vua hỏi:
–Thế nào là phát sinh đại Bi?
Đức Phật đáp:
–Là phát khởi lòng tin thanh tịnh.
Vua hỏi:
–Thế nào là phát khởi lòng tin thanh tịnh?
Đức Phật đáp:
–Nếu phát tâm Bồ-đề tức là phát lòng tin thanh tịnh.
Vua hỏi:
–Làm thế nào để phát tâm Bồ-đề?
Đức Phật đáp:
–Thâm tâm không thoái chuyển là phát tâm Bồ-đề.
Vua hỏi:
–Thế nào là thâm tâm không thoái chuyển?
Đức Phật đáp:
–Là phát khởi đại Bi. Vua hỏi:
–Làm sao có thể phát khởi đại Bi?
Đức Phật đáp:
–Đối với tất cả chúng sinh, không sinh tâm nhàm chán, buông bỏ tức là đại Bi.
Vua hỏi:
–Làm thế nào để không nhàm chán, buông bỏ chúng sinh?
Đức Phật đáp:
–Là không vướng mắc vào cái vui của chính mình.
Vua hỏi:
–Thế nào là không vướng mắc vào cái vui của chính mình?
Đức Phật đáp:

* Trang 943 *
device

–Là không bao giờ xa lìa Tam bảo.
Vua hỏi:
–Làm thế nào để không xa lìa Tam bảo?
Đức Phật đáp:
–Nếu luôn trừ khử tất cả phiền não, là không xa lìa Tam bảo.
Bấy giờ vua A-xà-thế một lần nữa, ở trước Đức Phật cung kính bạch:
–Hy hữu thay, thưa Thế Tôn! Hy hữu thay, bạch Thiện Thệ! Như Lai đã khéo nói pháp luật thanh tịnh, Như Lai đã khéo trình bày rõ ràng các học xứ, lại hay tùy thuận với chánh pháp mà chư Phật Thế Tôn đã nói, không hoại nhân quả, lìa xa chấp đoạn, thường, tùy theo những gì đã nói mà thành tựu sự nghiệp, quả báo thiện ác đều không hoại mất. Những lời Đức Phật đã dạy lìa mọi dối gạt. Giáo pháp thanh tịnh rộng lớn tối thượng như vậy, ai là người dám phá? Ai là người vấn nạn? Và ai sinh tâm hủy báng? Chỉ trừ những người không trồng căn lành, chịu nhiều tội nghiệp.
Bạch Thế Tôn! Con xưa chưa từng trồng căn lành đối với Đức Phật, không thể tự cắt máu thịt để báo thâm ân Phật. Nay nguyện cầu oai lực của Phật gia hộ, tất cả phiền não, tất cả tội nghiệp của con thảy đều tiêu diệt.
Bạch Thế Tôn! Đồng chân Bồ-tát Diệu Cát Tường là Thiện tri thức lợi lạc trong nhiều kiếp, đã dứt trừ các ác tác cho con, phóng ánh sáng pháp soi chiếu cho con, con cũng không thể báo được thâm ân ấy. Thế Tôn, Đấng Đại Từ Đại Thiện Tri Thức đã vì con mà nói về Chánh pháp truyền bá cùng khắp và phạm hạnh tối thượng.

 
Phẩm 23: THIÊN TỬ HIỀN VƯƠNG

 
Khi ấy Đại Bồ-tát Tịch Tuệ đến trước Đại bí mật chủ Bồ-tát Kim Cang Thủ thưa:
–Những việc biến hóa của chư Phật Thế Tôn; Bí mật chủ! Ngài có thể biến hóa được những việc như vậy không?

* Trang 944 *
device

Bồ-tát Kim Cang Thủ nói:
–Nay Đức Phật hiện làm chứng cho ta, hằng hà sa số chư Phật Như Lai có các việc biến hóa, ta đây cũng có thể theo Phật mà biến hóa như là các sắc tướng thần thông du hý, chỉ lấy thâm tâm thanh tịnh đời trước mà làm rốt ráo.
Bồ-tát Tịch Tuệ lại thưa:
–Nay tôi khuyến thỉnh Đại bí mật chủ, mong ngài dùng thần lực gia trì hộ niệm, khiến cho chánh pháp năm trăm năm về sau càng được lưu truyền rộng rãi, đem chánh pháp này nhiếp thọ và trao truyền cho các Bồ-tát.
Bồ-tát Kim Cang Thủ nói:
–Này thiện nam! Chư Phật Như Lai đã cùng gia trì chánh pháp này rồi. Vì sao? Vì nay chánh pháp này thành từ văn tự, nhưng văn tự đó không sinh khởi, không tận cùng cũng không diệt mất. Văn tự ấy và nghĩa cũng không thể ẩn tàng, pháp thậm thâm mà Như Lai đã nói đó cũng không mai một. Vì sao? Vì không có pháp có thể sinh. Nếu pháp đã không sinh, thì không diệt, nên biết như vậy. Như Phật đã nói, dù Phật có ra đời hay không ra đời, các pháp vẫn thường trụ. Pháp ấy là pháp tánh, pháp giới, pháp trụ, chân thật thanh tịnh vì là pháp Như thị.
Như trên đã nói, các pháp là từ duyên sinh cũng không trái nhau. Nếu pháp duyên sinh không trái nhau thì đó là chánh pháp, mà đã là chánh pháp thì không diệt mất. Nói như vậy mới là chánh pháp.
Bồ-tát Tịch Tuệ thưa:
–Thưa Bí mật chủ! Thế nào là mặc giáp tinh tấn nhiếp hộ chánh pháp?
Bồ-tát Kim Cang Thủ đáp:
–Nếu đối với tất cả pháp mà không trái nhau, thì có thể mặc giáp tinh tấn nhiếp hộ chánh pháp. Vì sao? Vì chánh pháp này không trái nhau với tất cả pháp.
Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi:
–Vậy thì pháp nào trái nhau?

* Trang 945 *
device

Bồ-tát Kim Cang Thủ đáp:
–Văn tự trái nhau thì pháp trái nhau, nhưng không trái nhau với sinh pháp. Nếu nó không trái nhau thì là nhiếp hộ chánh pháp.
Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi:
–Nhiếp hộ chánh pháp ấy có trái nhau với tất cả thế gian không?
Bồ-tát Kim Cang Thủ đáp:
–Có, này thiện nam! Vì sao? Vì chúng sinh thế gian chấp trước các kiến, chấp lời nói Không. Đó tức là trái với thế gian. Lại còn cho rằng thế gian là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nhưng thế gian là vô thường, là khổ, là vô ngã, là bất tịnh. Như vậy là trái với thế gian. Lại chúng sinh thế gian là thuận dòng sinh tử, nghịch dòng chánh pháp. Như vậy là trái với thế gian. Lại chúng sinh thế gian tôn trọng pháp đời này, người hộ chánh pháp tôn trọng pháp đời khác. Như vậy tức là trái với thế gian. Lại chúng sinh thế gian chấp uẩn, xứ, giới, người hộ chánh pháp nói tất cả pháp là không chấp trước. Như vậy là trái nhau với thế gian.
Tịch Tuệ nên biết! Vì lý do đó cho nên người hộ chánh pháp trái nhau với thế gian.
Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi:
–Thưa Đại bí mật chủ! Bồ-tát làm thế nào để nhiếp hộ chánh pháp?
Bồ-tát Kim Cang Thủ đáp:
–Việc nhiếp hộ của ta là không ngã, không chúng sinh, không pháp. Đó mới là nhiếp hộ.
Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi:
–Việc ấy như thế nào?
Bồ-tát Kim Cang Thủ đáp:
–Là lìa ngã, lìa chúng sinh, lìa pháp, lìa ngã-chúng sinh-pháp; lìa quá khứ, lìa vị lai, lìa hiện tại; không lìa quá khứ-hiện tại-vị lai; lìa ba đời, không lìa ba đời; lìa chư Phật, không lìa chư Phật; lìa các cõi độ, không lìa các cõi, lìa pháp, không lìa pháp. Nếu thông đạt pháp như vậy tức có thể nhiếp hộ chánh pháp.

* Trang 946 *
device

Lúc đó Đức Thế Tôn khen Đại bí mật chủ Bồ-tát Kim Cang Thủ:
–Hay thay, hay thay! Đại sĩ! Ông đã khéo nhiếp hộ chánh pháp. Nếu đối với tất cả pháp mà không chấp, không thủ, tức là nhiếp hộ chánh pháp. Nếu đối với tất cả pháp có tướng hý luận mà không chấp thủ, không tập, cho đến tất cả phân biệt biến kế đều không phân biệt. Như vậy mới là nhiếp hộ chánh pháp.
Khi ấy, trong hội có một vị Thiên tử tên là Hiền Vương ở trước Phật bạch:
–Bạch Thế Tôn! Cận chỉ, Cận tịch là điều mà Thế Tôn đã nói. Theo lời Thế Tôn đã dạy thì tất cả các đối tượng duyên đều tịch chỉ mà không có đối tượng để quán, vì Cận tịch ấy không hòa hợp phát sinh lại các pháp. Tuy pháp Cận tịch vắng lặng, hoàn toàn tịch tĩnh, nhưng lại nắm giữ chánh pháp của Như Lai và cũng không xả bỏ. Tuy nắm giữ, nhưng đối với tất cả pháp không nắm giữ cũng không xả bỏ pháp nào.
Khi vị Thiên tử nói pháp này, trong hội có một ngàn Tỳ-kheo được tâm giải thoát, một ngàn vị Thiên tử được Pháp nhãn tịnh.
Lúc đó, Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi Thiên tử Hiền Vương:
–Làm thế nào để được biện tài?
Thiên tử đáp:
–Đoạn trừ tất cả tập khí, lìa đường nói năng, không có ký thuyết. Trong Thắng nghĩa đế, không có một pháp nào có thể nắm bắt, cho nên được biện tài.
Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi:
–Này Thiên tử! Làm thế nào để phát sinh biện tài?
Thiên tử đáp:
–Không biện tài, lìa biện tài. Vì sao? Không biện tài ở đây nói là nghĩa không hòa hợp. Lìa biện tài ở đây nói là nghĩa lìa hý luận.
Lại nữa, này thiện nam! Như ông đã hỏi làm sao để được biện tài? Nếu vì người khác mà nêu rõ thức là không chuyển; nếu tự nêu rõ thức cũng không trụ, như vậy mới được biện tài. Nếu đối với các đối tượng duyên dùng ý để nêu rõ, thì lại không chướng ngại. Vì

* Trang 947 *
device

trong pháp tánh không có chỗ trụ, cho nên được biện tài. Lại trong tất cả pháp, trí không có chuyển, không có một pháp nhỏ nào trí có thể biết rõ, cho nên được biện tài. Lại trong pháp không trụ, không xuất, không nhập, siêu xuất các nhiễm pháp, cho nên được biện tài. Lại tất cả pháp không sinh mà sinh, không diệt mà diệt, cho nên được biện tài.
Khi ấy Bồ-tát Tịch Tuệ bạch Phật:
–Hy hữu thay! Thưa Thế Tôn! Thiên tử Hiền Vương này đầy đủ đại Biện tài.
Phật bảo Tịch Tuệ:
–Vị Thiên tử Hiền Vương này từ thế giới Cực lạc trong cõi Phật A-súc đến đây, để nghe chánh pháp Bí mật của Như Lai, do Đại bí mật chủ Bồ-tát Kim Cang Thủ nói. Vị Thiên tử này đã được tùy nhập vào tất cả pháp tướng Đà-la-ni, trong trăm kiếp không có cầu nguyện, mà tự nhiên được vô ngại biện tài, tùy nơi mà tuyên nói biện tài vô ngại.

 
Phẩm 24: NÓI THÍ DỤ KHEN NGỢI CÔNG ĐỨC TỔNG TRÌ VÔ TẬN (Phần 1)

Bấy giờ Bồ-tát Tịch Tuệ bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thế nào là tùy nhập tất cả pháp tướng Đà-la-ni?
Đức Phật đáp:
–Này Tịch Tuệ! Tùy nhập pháp tướng nghĩa là trí tùy nhập văn tự vô tận. Như chữ A là tùy nhập tất cả pháp. Lại chữ A là phát sinh ra các pháp. Lại chữ A là các pháp đầu tiên sinh ra hậu tế. Lại chữ A đối với tất cả chỗ thành tựu sự nghiệp, tùy khởi ngữ nghiệp, không hiểu biết, không phải là không hiểu biết. Vì chữ A tùy nhập tất cả pháp. Đó gọi là tùy nhập pháp tướng Đà-la-ni-môn.
Lại nữa, này Tịch Tuệ! Nói tùy nhập nghĩa là đối với tất cả xứ không có một pháp nhỏ như vi trần nào mà có thể xuất, có thể nhập. Do không có văn tự nên từ đâu mà đến, lại nhập vào đâu và trụ vào

* Trang 948 *
device

chỗ nào. Vì trong văn tự không có trụ, nên nó cũng không đi đến đâu cả. Vì văn tự không hòa hợp, tức là không có văn tự mà có thể ký thuyết, cũng không phải là không thuyết, không tăng, không giảm. Vì không có văn tự, cho nên không có pháp này, cũng không có phi pháp mà có thể phân biệt. Vì không có văn tự cho nên không có pháp có thể sinh, không có pháp có thể diệt, không có pháp có thể thành, không có pháp có thể hoại.
Tịch Tuệ nên biết! Tính đếm văn tự như vậy tức là tâm tính đếm; nếu tâm tính đếm tức là tất cả pháp tính đếm; nếu tất cả pháp tính đếm tức là không phải tính đếm. Vì sao? Vì pháp không thể tính đếm mà được. Vì pháp không tính đếm mà có thể tính đếm, cho nên tất cả pháp không thể tính đếm được. Như thế, tức là tùy nhập pháp tướng, tùy nhập vô sinh xưa nay như vậy. Nếu nhập vô sinh cũng lại không khởi, đây không có một pháp nhỏ nào mà có thể nhập. Thế nên, các pháp không nhập mà nhập.
Này Tịch Tuệ! Nếu có thể nhập vào các tính đếm như vậy, thì đối với biện tài không thể đoạn. Vì sao? Vì pháp tánh không đoạn. Nếu thông đạt như vậy tức là tùy theo sự thích ứng mà vì người khác nói pháp, tùy theo những gì đã được nói ra đó hiện tiền tác chứng. Do tùy nhập vào các pháp tướng như vậy nên tùy nhập vào tướng chúng sinh. Vì tùy nhập vào tướng của chúng sinh nên tùy theo sự tín giải mà khéo nói các pháp.
Này Tịch Tuệ! Bồ-tát được Đà-la-ni này rồi tâm ấy lìa cấu bẩn, ý vui thanh tịnh, chánh hạnh thanh khiết. Tâm ấy tối thắng, sự tu hành khéo trụ vào diệu tuệ tối thượng, chứng được thần thông kiên cố viên mãn, không bị quân ma phá hoại, hàng phục ngoại đạo, ngăn chặn phiền não, giải trừ oán kết, thân có sức lực, tâm không mệt mỏi, biện tài vô tận, diễn pháp vô biên, khéo nói vô cùng; thắng trí vô ngại, đầy đủ trí tuệ thậm thâm vi diệu, khéo nói pháp sâu xa, đa văn như biển; trụ Tam-ma-địa như núi Tu-di; tất cả chúng hội như vua sư tử; thế pháp thanh tịnh như hoa sen, trưởng dưỡng chúng sinh như là đại địa; cắt đứt ái phiền não cũng như nước lớn; thành thục chúng sinh như lửa dữ, khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh cũng như trăng sáng; phá phiền não si ám

* Trang 949 *
device

cũng như mặt trời chiếu; trừ oán phiền não cũng như người có sức mạnh mẽ; khéo điều phục tâm cũng như rồng mạnh; tuyên thuyết pháp âm như sấm sét lớn; rộng thí pháp vũ như trận mưa lớn; trị liệu các bệnh phiền não của chúng sinh như đại y vương; làm đại Pháp vương như vua tự tại; khéo hộ thế pháp như trời Hộ thế; khéo quán trời, người như chúa trời Đế Thích; tâm được tự tại, đầy đủ lực tăng thượng cũng như Phạm vương; không bị trói buộc cũng như chim bay; sợ những nơi ồn ào cũng như nai, khỉ; đối với tất cả chúng sinh nhẫn nhục các ác cũng như mẹ hiền; dạy dỗ trao truyền tài nghệ đa năng, mở các trường học cũng như cha hiền; thí các pháp bảo chảy hoài vô tận như Tỳ-sa-môn Thiên vương; được phước trang nghiêm, đầy đủ các tướng hảo mọi người thích ngắm nhìn sinh tâm hoan hỷ; đầy đủ bảy báu không bị nghèo cùng khốn khổ, nhiếp hóa người vô trí, khen ngợi người trí. Nhờ đầy đủ trí tuệ cho nên lìa các lỗi lầm; khéo hộ chư Thiên, khéo hộ loài Rồng và chúng Dạ-xoa…; nói pháp tự tại thần thông vô ngại, biết rõ được ý vui của tất cả chúng sinh, tùy nhập vào tất cả căn tánh của chúng sinh, nghe pháp không nhàm chán, không mong cầu tất cả danh tiếng, lợi dưỡng, thuyết pháp không keo kiệt. Do không nhiễm trước nên đầy đủ giới thanh tịnh. Do không oán hại nên nhẫn lực thanh tịnh. Khéo hay thành tựu các sự nghiệp, cho nên tinh tấn thanh tịnh. Do được tự tại nên thiền định thanh tịnh. Do trí trong sáng nên thắng tuệ thanh tịnh. Phạm hạnh tối thượng nên đầy đủ bốn vô lượng, khéo tu xuất thế tĩnh lự đẳng trì, thành tựu Bồ-đề Thánh đạo vô thượng. Do đầy đủ các tướng công đức như vậy, cho nên được quán đảnh Pháp vương vô thượng.
Tịch Tuệ nên biết! Bồ-tát được Đà-la-ni, lại còn được vô lượng công đức như vậy. Nếu lại được thần lực gia trì của Như Lai, thì mọi sự nghiệp đều được công đức Đà-la-ni của Bồ-tát, dù có trải qua trăm ngàn năm xưng tán thí dụ cũng không thể hết được.
Khi ấy Bồ-tát Tịch Tuệ hỏi Thiên tử Hiền Vương:
–Nhân giả! Nay nhân giả chắc chắn được thiện lợi vì đã có thể khen ngợi công đức vô lượng, vô biên của Như Lai.
Thiên tử Hiền Vương thưa với Bồ-tát Tịch Tuệ:

* Trang 950 *
device

–Thiện nam! Trong thắng nghĩa đế, không có một pháp nhỏ nào được khen ngợi. Vì sao? Vì pháp không có tướng, không phải hình hiển sắc, cho nên không thể khen ngợi hết công đức vô biên ấy. Nếu trong hình hiển sắc ấy quyết định có tướng, thì mới có thể dùng ngôn từ tuyên nói khen ngợi.

* Trang 951 *
device

 
Đại Tập 44 - Bộ Bảo Tích III - Số 310 (Q. 91 - 120) & Số 311 -> 312