LOGO VNBET
II. CHÁNH THUYẾT
 
Kinh nhãn
 
Kinh Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối, lời văn trong kinh dù rất sâu sắc, nhưng nó đều có một cái đại ý, đây gọi là ‘Kinh nhãn’, là con mắt của một bộ kinh. Chúng ta đọc tụng kinh điển cần phải xem qua để nắm chắc. Nếu như người không có mắt thì dù cho tiến vào bảo tạng cũng không phân biệt rõ cái nào là bảo vật quan trọng nhất. Như vậy, tiến vào hay không tiến vào đều như nhau. Một bộ kinh dù cho đọc mấy nghìn lần, nhưng không hiểu được cốt lõi của kinh, có thể nói, chỉ có công đức đọc tụng chứ không có được sự lợi ích của bộ kinh.
 
Năm đoạn văn trong kinh Vô Lượng Thọ
 
Đại ý của kinh Vô Lượng Thọ là phần cốt lõi, nằm ở năm đoạn văn của kinh Vô Lượng Thọ (gọi tắt là Đại kinh). Năm đoạn văn kinh này nếu nắm vững thì có thể thông hiểu được đạo lý, có thể nói rằng đã nắm chắc cả bộ kinh Vô Lượng Thọ.
 
Đoạn thứ nhất: ‘Văn Bản hoài xuất thế’ của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni:
 
Như Lai dùng lòng đại bi vô tận thương xót chúng sanh trong ba cõi1, cho nên xuất hiện ở
________________________

1 Ba cõi (tam giới 三界): Thế giới mà hạng phàm phu sanh tử
vãng lai chia ra làm ba:
1. Cõi Dục, 2. Cõi Sắc, 3. Cõi Vô sắc.


* Trang 22 *
device

thế gian để xiển dương giáo pháp, muốn cứu vớt quần sanh, ban bố sự lợi ích chân thật.
 
Đoạn kinh văn này nằm ở phần trước nhất trong kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ chủ yếu nói về 48 đại nguyện của Phật A-di-đà, trước lúc chưa nói 48 đại nguyện, đã cho thấy 48 đại nguyện được nói trong bộ kinh này là mục đích của Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện trên thế gian này.
 
Đoạn văn thứ hai: ‘Năm đoạn văn trong Đại kinh’ chính là nguyện thứ 18, nguyện Niệm Phật vãng sanh:
 
Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác. Chỉ trừ tội ngũ nghịch1 và phỉ báng chánh pháp.
 
Đoạn văn thứ ba: ‘Văn Thành tựu nguyện thứ 18’:
 
Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu Tôi, tín tâm hoan hỷ, cho đến một niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc liền được vãng sanh, trụ bậc bất thoái chuyển. Chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp.
________________________
1 Ngũ nghịch 五逆: Năm tội
nghịch theo Tiểu thừa là 5 thứ tội
 
nghiệp làm hủy hoại ân điền, phước điền là: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ,
3. Giết A-la-hán, 4. Làm thân Phật chảy máu, 5. Phá hòa hợp tăng.

 

* Trang 23 *
device

Văn này giải thích nguyện thứ 18
 
Đoạn văn thứ tư: ‘Văn Phó chúc lưu thông’ tức là Đức Phật Thích-ca-mâu-ni phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc, muốn ngài đem pháp môn niệm Phật vãng sanh lưu truyền nghìn năm, vạn năm, luôn luôn lưu thông một đoạn kinh văn này:
 
Nếu có người nào được nghe danh hiệu Phật A-di-đà sanh tâm hớn hở vui mừng, cho đến một niệm, nên biết người này được lợi ích rất lớn là đầy đủ công đức vô thượng.
 
Đoạn văn thứ năm: ‘Văn Đặc biệt lưu lại kinh này’:
 
Đời vị lai kinh đạo diệt hết, Ta mở rộng lòng từ bi thương xót chúng sanh, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại ở thế gian một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được kinh này, thì tùy theo ý nguyện mà có thể được độ.
 
Nguyện thứ 18 là quan trọng bậc nhất
 
Năm đoạn kinh văn này nằm trong kinh Vô Lượng Thọ, giống như năm cây cột chống đỡ cả giáo lý của bộ kinh Vô Lượng Thọ. Trong đó, nguyện thứ 18 là căn bản nhất, quan trọng nhất mà chúng ta ai ai cũng đều biết cả. Nếu như không có nguyện thứ 18 thì không có kinh Vô Lượng Thọ, không có thế giới Cực Lạc, không

* Trang 24 *
device

có Phật A-di-đà, và cũng không có việc chúng ta được độ vãng sanh.
 
Khai triển ra năm đoạn văn ấy là đại khái để giảng về nguyện thứ 18.
 
Đạo lý của năm đoạn văn này, tuy chúng ta không hiểu rõ hết, nhưng nắm được nguyện thứ 18 thì nắm được đại ý của kinh này. Bởi vì mục đích của Phật chỉ có một cái nguyện này, chính là nguyện thứ 18 ‘Niệm Phật vãng sanh’.
 
1. Văn Bản hoài xuất thế
 
Chúng ta xem đoạn thứ nhất ‘văn Bản hoài xuất thế’:
 
Như Lai dùng lòng đại bi vô tận thương xót chúng sanh trong ba cõi, cho nên xuất hiện ở thế gian này để xiển dương giáo pháp (quang xiển đạo giáo), muốn cứu vớt quần sanh, ban cho lợi ích chân thật.
 
‘Như Lai dùng lòng đại bi vô tận’: ‘Như Lai’ là chỉ cho ai? Đương nhiên là chỉ cho Đức Phật Thích-ca-mâu-ni.
 
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã xuất hiện ở thế gian này, đương nhiên phải nói nguyện Niệm Phật vãng sanh của Phật A-di-đà. Đồng thời, bởi vì nguyện Niệm Phật vãng sanh của Phật A-di-đà là độ hết tất cả chúng sanh trong mười phương, Hoằng nguyện

* Trang 25 *
device

Siêu thế độ hết chúng sanh trong mười phương, mà chư Phật ở mười phương đều không có. Mục đích của chư Phật trong mười phương xuất hiện chính là để độ hết chúng sanh, vì thế, chư Phật ở mười phương xuất hiện thì nhất định phải nói nguyện ‘Niệm Phật vãng sanh’, độ hết chúng sanh trong mười phương.
 
Vì thế, nói gần từ ‘Như Lai’ là chỉ cho Phật Thích-ca; nói xa là chỉ cho chư Phật trong mười phương ba thời.
 
Như Lai tại sao tuyên nói nguyện Niệm Phật vãng sanh của Đức Phật A-di-đà? Vì đây cũng là một trong 48 đại nguyện của Phật A-di-đà, đó là nguyện thứ 17 được thành tựu.
 
Nguyện thứ 17 nói:
 
Nếu Tôi thành Phật, vô lượng các Đức Phật trong các thế giới ở mười phương đều không ngợi khen danh hiệu của Tôi thì Tôi không thành Chánh giác.
 
Cũng chính là nói Đức Phật A-di-đà vì lấy danh hiệu để độ khắp tất cả chúng sanh trong mười phương, cần phải làm cho danh hiệu truyền khắp trong mười phương pháp giới, tận hư không biến pháp giới, hiện hữu khắp cả vũ trụ. Mười phương pháp giới có mười phương cõi nước, mười phương cõi nước đều có Phật giáo hóa chúng sanh, cho nên cần phải khiến cho mỗi vị Phật trong mười

* Trang 26 *
device

phương cõi nước đều đến tuyên dương pháp môn Tịnh Độ, mới có thể đạt đến công năng và mục đích của Đức Phật A-di-đà là cứu độ chúng sanh trong mười phương. Vì thế, trong 48 đại nguyện, Đức Phật A-di-đà cần phải phát ra lời nguyện khiến cho chư Phật trong mười phương khen ngợi công đức danh hiệu của Ngài, và đồng thời xưng niệm danh hiệu của Ngài.
 
Nếu như nguyện 17 không thành tựu, không chỉ chư Phật trong mười phương không đến khen ngợi và xưng dương danh hiệu của Phật A-di-đà, đồng thời nguyện thứ 18 cũng không thành tựu, thì sự vãng sanh của chúng ta cũng đều không có hy vọng. Cũng do nguyện thứ 18 thành tựu thì đương nhiên nguyện thứ 17 cũng thành tựu. Bởi vì nguyện thứ 17 thành tựu, cho nên chư Phật trong mười phương ba thời mới xuất hiện ở thế gian này, nhất định sẽ tuyên dương công đức danh hiệu của Phật A-di-đà, đồng thời để tuyên dương công đức danh hiệu của Ngài thành bản hoài duy nhất của chư Phật ở trong mười phương ba thời.
 
Vì thế, đoạn văn này là ‘văn Bản hoài xuất thế’ của Đức Thích Tôn, Ngài nương vào nguyện lực thứ 17 để tuyên dương danh hiệu của Phật A-di-đà.
 
‘Như Lai dùng lòng đại bi vô tận’: ‘Đại bi vô tận’ này chính là nguyện thứ 17.

* Trang 27 *
device

Chư Phật trong mười phương ba thời nương vào lòng đại bi vô tận của nguyện thứ 17, để tuyên nói về Đức Phật A-di-đà.
 
‘Vô tận’ chính là không có giới hạn, lòng đại từ đại bi của Đức Phật A-di-đà cứu độ chúng sanh không có giới hạn. Tại sao không có giới hạn? Bởi vì Ngài phát nguyện để cứu độ chúng sanh trong mười phương. Chúng sanh trong mười phương là trên đến Bồ-tát Di-lặc, dưới đến chúng sanh ở địa ngục A-tỳ, đều là chúng sanh trong mười phương. Nếu như Đức Phật A-di-đà chỉ có thể dạy người (thượng căn) thanh tịnh, biết tu hành vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì không thể xem là ‘đại bi vô tận’. Phật A -di-đà đồng thời khiến cho chúng sanh tạo nghiệp địa ngục A-tỳ, thậm chí chúng sanh đã đọa vào địa ngục A-tỳ chịu vô lượng thống khổ, cũng vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đó mới gọi là đại bi vô hạn, vô tận. Đại bi vô cùng vô tận không có giới hạn, nên gọi là ‘đại bi vô tận’.
 
‘Đại bi vô tận’, một phiên bản khác nói là ‘đại bi vô cái’, ‘vô tận’ với ‘vô cái’ đại để giống nhau, chẳng qua ‘vô cái’ có một ý nghĩa khác chính là: Đại bi của Đức Phật A-di-đà là bao trùm khắp chư Phật trong mười phương, còn chư Phật trong mười phương thì không thể bao trùm khắp được; đặc biệt là tất cả chúng sanh được bao phủ bởi lòng đại bi của Phật A-di-đà, cho nên gọi là ‘đại bi vô cái’.

* Trang 28 *
device

Phật Thích-ca-mâu-ni lấy đại bi vô cái của Phật A-di-đà làm đại bi, để tuyên dương pháp môn cứu độ của Phật A-di-đà. Giống như pháp sư, liên hữu của chúng ta hoằng dương đại nguyện từ bi của Phật A-di-đà, lấy đại bi vô cái của Phật A -di-đà làm đại bi của mình. Tuy chúng ta đều là phàm phu, không có lòng đại từ bi chân chính, nhưng hoằng dương được pháp môn này thì có bầu không khí ‘đại bi vô tận’ và ‘đại bi vô cái’, bởi vì đằng sau chúng ta có Phật A-di-đà, công đức năng lực của Ngài tạo nên, an bày, thôi thúc chúng ta.
 
‘Như Lai dùng lòng đại bi vô tận thương xót chúng sanh trong ba cõi’: ‘Thương xót’, chúng ta có thể hiểu là thương xót, đồng lòng, bảo vệ; ‘ba cõi’ chính là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. Tuy nhiên bi tâm của Phật A-di-đà lấy ba cõi làm đối tượng, nhưng có thể nói lấy chúng sanh khổ não của chúng ta làm người khách chính, làm đối tượng chủ yếu. Phật A-di-đà cứu độ chúng sanh trong ba cõi, là chỉ cho hạng chúng sanh đầy dẫy khổ não như chúng ta đây.
 
Sở dĩ chúng sanh có đầy các thứ khổ não như thế là bởi vì cảm nhận ba cõi bất an giống như nhà lửa, luân hồi trong sáu đường1 thống khổ không
___________________________
1 Sáu đường (lục đạo 六道) Cg: Lục thú. Tức là sáu đường ở thế gian mà chúng sanh phải thọ sanh: 1. Trời, 2. Người, 3. A-tu-la, 4. Súc sanh, 5. Ngạ quỷ, 6. Địa ngục.

* Trang 29 *
device

thể chịu nổi. Để thoát khỏi ba cõi, sáu đường thì nhất định phải mượn thân người. Hiện tại đã được thân người, nếu như không tận dụng, thì một khi mất thân người sẽ không biết phải đợi đến bao nhiêu kiếp sau nữa.
 
Tuy hiểu được rồi cần phải tận dụng thân này để nghe Phật pháp, phát tâm tu hành, nhưng chỉ phát giác bản thân mình có tâm tu hành, mà lại không có sức tu hành, như vậy thì sẽ khổ đau, giày vò. Không biết sự luân hồi trong ba cõi sáu đường, không biết thiện ác báo ứng, không biết người thiện là thiện, kẻ ác là ác, chỉ sống lây lất qua ngày; chúng ta biết mọi người đều có những bất an. Những bất an này, có lúc không thể hình dung, người càng biết Phật pháp thì càng có đạo tâm ‘sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc’.
 
Sanh tử là việc lớn. Tại sao là việc lớn? Nghĩa là ‘một phen mất thân người, muôn kiếp không được lại thân người’. Thân người khó được, đã mất thân người thì chắc chắn đọa vào ba đường. Đã đọa vào ba đường thì đau khổ cùng tột, chỉ cần chúng ta vừa nghĩ đến như thế thôi thì đã toát mồ hôi, cho nên gọi là ‘sanh tử sự đại’.
 
‘Vô thường tấn tốc’: Vô thường là chết mất. Sống với chết vốn là một thể, giống như hai mặt của tờ giấy, một khi hơi thở ra mà không trở lại tức là chết. Vì thế, khi chúng ta còn sống ở thế gian này tức là cùng sống chung với cái chết, qua


 

* Trang 30 *
device

một ngày thì mạng sống sẽ giảm đi một ngày, đối diện với cái chết một ngày, thì dĩ nhiên gần với vua Diêm-la một ngày. Huống gì, trước đây đối với chúng ta mà nói thì cái chết tiềm ẩn ở xung quanh chúng ta.
 
Người học Phật chân chính là người có tâm vô thường sâu dày; người có tâm vô thường sâu dày đó mới gọi là người học Phật chân chính.
 
Có tâm vô thường này, họ sẽ phát nguyện tu hành, trải qua một khoảng thời gian họ sẽ phát hiện, bản thân vốn là phàm phu tầm thường, thiện căn rất ít, phước đức cạn mỏng, không có biện pháp tu hành. Lúc đó, họ sẽ tìm một pháp môn không cần phải nhờ vào sức của bản thân mà có thể được giải thoát, được độ.
 
Như vậy, thệ nguyện từ bi của Phật A-di-đà là hy vọng cuối cùng của họ, là pháp môn cứu độ tìm được sự sống trong cái chết.
 
Vì thế, ‘thương xót chúng sanh trong ba cõi’, Ngài vào trong ba cõi coi chúng sanh bị khổ não như chúng ta đây là người khách chính. Nói người khách chính, tức là đối tượng chủ yếu trong bữa tiệc. Nếu như tất cả người khác đều đến, nhưng mà người khách chính vẫn chưa đến thì buổi yến tiệc này không thể bắt đầu; nếu như người khách chính không đến thì buổi yến tiệc hôm nay bày ra thật uổng phí.

* Trang 31 *
device

‘Như Lai dùng lòng đại bi vô tận thương xót chúng sanh trong ba cõi, cho nên Ngài mới xuất hiện ở thế gian này’: ‘Xuất hiện ở thế gian’, chứng tỏ vì nói pháp này để độ chúng sanh, nên Đức Phật Thích-ca-mâu-ni mới xuất hiện ở thế gian này, lấy đây làm mục đích xuất hiện ở thế gian của Ngài.
 
‘Quang xiển đạo giáo’: ‘Quang là quang đại; ‘xiển’ là xiển dương, ‘đạo giáo’ là chính đạo, Phật giáo, cũng chính là 84 nghìn pháp môn.
 
‘Muốn cứu vớt quần sanh, ban cho lợi ích chân thật’: Đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện ở thế gian này 49 năm thuyết pháp, giảng kinh hơn ba trăm hội. Thuyết pháp là quá trình diễn giảng pháp Phật, bởi vì mục đích sau cùng là để cứu độ tất cả chúng sanh đạt được sự lợi ích chân thật, cho nên mục đích ‘quang xiển đạo giáo’ là ‘ban cho lợi ích chân thật’.
 
‘Ban cho lợi ích chân thật’ có nghĩa gì? ‘Ban cho’ chính là ban cho ân huệ, ban cho lời nguyện thứ 18 của Đức Phật A-di-đà để cứu độ chúng ta, khiến cho mỗi chúng sanh đều có thể niệm Phật vãng sanh, đây chính là sự ‘lợi ích chân thật’.
 
Chân thật là trái lại với phương tiện quyền giả. Đã là chân thật thì không phải quyền giả, mà trực tiếp giải quyết, ngay lập tức có thể đạt đến mục đích, cũng chính là chắc chắn giải thoát sanh tử, vãng sanh thành Phật.

* Trang 32 *
device

Loại lợi ích này ở trong ‘văn Lưu thông’ nói ‘hớn hở vui mừng, cho đến một niệm, nên biết người này có được lợi ích rất lớn là đầy đủ công đức vô thượng’, loại ‘lợi ích rất lớn’ này chính là ‘công đức vô thượng’.
 
Vì thế, đoạn văn này tuyên dương tầm quan trọng của bộ kinh này.
 
Bản hoài trong bản hoài
 
Nếu như nói về bản hoài của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất hiện ở thế gian này, xét theo phương diện kinh giáo mà suốt cuộc đời Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã nói thì có hai bộ kinh là bản hoài của Ngài.
 
Nói về kinh thì hầu như mọi người đều biết đến kinh Pháp hoa1. Kinh này nói: “Phật vì một sự nhân duyên lớn mà xuất hiện ở thế gian này”. Nói theo đoạn kinh này thì kinh Pháp hoa chính là bản hoài của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni. Đó gọi là ‘Khai, thị, ngộ, nhập’, khiến cho ba thừa Thanh văn2, Duyên
 
_________________________
1 Kinh Pháp hoa 法華經 Gđ: Diệu pháp liên hoa kinh , 7 hoặc 8 quyển, gồm 28 phẩm, do ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đời Hậu Tần, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 9. Đây là một trong những bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa.
2 Thanh văn 聲聞 Hâ: Xá-la-bà-ca. Hd: Đệ tử. Các đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà chứng ngộ.

* Trang 33 *
device

giác1, Bồ-tát đều nhập vào Nhất thừa Phật quả, cho nên kinh Pháp hoa hướng dẫn hàng Tam thừa tiến vào Phật quả, chứng nhập quả vị của Phật, đây gọi là ‘đạo tam quy nhất’ có nghĩa là hướng dẫn hàng Tam thừa nhập vào Nhất thừa, đây là bản hoài của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni xuất thế.
 
Một bộ kinh khác là kinh Vô Lượng Thọ mà chúng ta hiện tại cần phải học. Nhưng nếu nói theo hai bộ kinh bản hoài này thì bộ nào là bản hoài trong bản hoài? Đó chính là kinh Vô Lượng Thọ.
 
Bởi vì kinh Pháp hoa hướng dẫn hàng Tam thừa là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, hàng Tam thừa đều là người đã chứng quả, người chứng quả suy cho cùng là rất ít. Chúng sanh cần được cứu độ trong kinh Vô Lượng Thọ, không chỉ có hàng Tam thừa, mà là hàng Ngũ thừa; ngoài hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát ra còn có Nhân thừa và Thiên thừa, chính là chúng sanh ở nhân gian cùng với thiên nhân ở cõi trời, được gọi là ‘Năm thừa đều vào’. Đã là Năm thừa đều vào thì quả thật giống như nguyện thứ 18 đã giảng, là ‘chúng sanh trong mười phương’.
 
Kinh Pháp hoa chỉ hướng dẫn hàng Tam thừa
_____________________________
1 Duyên giác 緣覺 Hâ: Bát-lạt-y-ca-phật-đà, Tất-lặt-chi-để-ca-phạt, Bích-chi-ca-phật, Bối-chi-ca-phật, Bích-chi-phật. Cg: Độc giác, Duyên nhất giác, Nhân duyên giác. Người tu hành không nương vào giáo pháp của Phật, chỉ do quán nhân duyên sanh diệt của các pháp mà ngộ đạo, trụ nơi Niết-bàn tịch tĩnh.

* Trang 34 *
device

tiến vào quả vị Phật, nhưng kinh Vô Lượng Thọ là cứu độ cả Năm thừa, khiến cho họ cùng chứng ngộ được Phật quả, hơn nữa cùng chứng ngộ giống như Đức Phật A-di-đà, có Vô lượng thọ, Vô lượng quang và 48 nguyện. Vì thế, nếu như nói về bản hoài chân chính thì kinh Pháp hoa chẳng phải là bản hoài, mà kinh Vô Lượng Thọ mới là bản hoài trong bản hoài.
 
2. Nguyện thứ mười tám
 
Nội dung của bộ kinh bản hoài này là, ‘ban cho lợi ích chân thật’. ‘Ban cho lợi ích chân thật’ chính là nguyện thứ 18. Nguyện thứ 18 là cốt tủy của kinh Vô Lượng Thọ:
 
Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác. Chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp.
 
Kinh Vô Lượng Thọ có quyển thượng và quyển hạ, quyển thượng chủ yếu tuyên nói về 48 đại nguyện, quyển hạ chủ yếu tuyên nói về văn Thành tựu 48 đại nguyện.
 
Trong 48 đại nguyện, thí như nguyện thứ nhất là nguyện không có ba đường ác, nguyện thứ hai là nguyện không còn trở lại ba đường ác, nguyện thứ ba là nguyện thân đều vàng ròng, nguyện thứ tư là nguyện không có người xấu hay đẹp v.v. 48

* Trang 35 *
device

đại nguyện tuy mỗi nguyện đều rất thù thắng, nhưng trong đó, nguyện thứ 18 là tối thắng nhất, là nguyện vương, là nguyện căn bản. Bởi vì nếu không có nguyện thứ 18 thì cũng không có chúng sanh trong mười phương vãng sanh; nếu không có chúng sanh trong mười phương vãng sanh thì những nguyện vừa nói như nguyện thứ nhất, nguyện thứ hai, nguyện thứ ba… nương vào đâu để thành tựu? Đương nhiên là không thể thành tựu được, thậm chí sự kiến lập thế giới Cực Lạc cũng không có ý nghĩa. Vì thế, 48 đại nguyện này lấy nguyện thứ 18 làm nguyện căn bản.
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích: Mỗi một lời nguyện đều nói rõ nguyện thứ 18
 
Phần Huyền nghĩa1 trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo giải thích 48 đại nguyện rằng:
 
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Tì-kheo Pháp Tạng ở chỗ Phật Thế Tự Tại Vương lúc hành Bồ-tát đạo phát 48 đại nguyện, mỗi một lời nguyện nói: Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương xưng danh hiệu Tôi, nguyện sanh về nước Tôi, dưới đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”.
____________________________
1 Phần Huyền nghĩa 玄義分: Phần nói về yếu chỉ sâu xa của một bộ kinh.


 

* Trang 36 *
device

Trong 48 đại nguyện, mỗi một lời nguyện đều có nội dung khác nhau, cũng có tên nguyện khác nhau, nhưng ở đây Đại sư Thiện Đạo lại căn cứ theo nội dung mỗi nguyện khác nhau, tên gọi khác nhau để giải thích. Trong 48 đại nguyện này, mỗi một lời nguyện nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương xưng danh hiệu Tôi, nguyện sanh về cõi nước Tôi, dưới đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”. Đây là lời giải thích nguyện thứ 18. Chẳng khác nào nói, mỗi một lời nguyện đều nói rõ về nguyện thứ 18, nghĩa chính nằm ngay trong đây! Tuy có 48 lời nguyện, nhưng vẫn lấy nguyện thứ 18 làm căn bản.
 
Nhân bản và căn bản
 
Bản nguyện có hai hàm nghĩa: Đó là Nhân bản và Căn bản.
 
Nhân bản chính là mỗi lời nguyện ở trong nhân địa của vị Bồ-tát này phát ra, đều xem là bản nguyện.
 
Tuy lúc còn ở nhân địa, Ngài phát ra những lời nguyện, nhưng trong đó nhất định có một nguyện căn bản nhất của Ngài. Có nguyện căn bản này thì mới có thể sinh trưởng cành lá, hoa, quả. Nguyện căn bản trong 48 đại nguyện chính là nguyện thứ 18, chỉ có nguyện thứ 18 mới có ‘chúng sanh trong

* Trang 37 *
device

mười phương, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’, các nguyện khác đều không có nói đến ‘chúng sanh trong mười phương, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’. Các nguyện khác đều do nguyện thứ 18 mà có.
 
Nguyện chung và Nguyện riêng
 
Nhân địa chư Phật trong mười phương muốn thành Phật, chắc chắn phải phát nguyện. Nguyện của chư Phật trong mười phương có hai loại:
 
Một loại gọi là ‘Tứ hoằng thệ nguyện’, chính là:
 
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn Pháp môn vô lượng thệ nguyện học Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
 
Tứ hoằng thệ nguyện này mỗi một Đức Phật đều có, cho nên gọi là Nguyện chung, thông với chư Phật trong mười phương.
 
Ngoài ra, một loại nguyện gọi là Nguyện riêng chính là chỉ có một Đức Phật có, mà Đức Phật khác không nhất định phải có. Thí như Đức Phật Thích-ca-mâu-ni có 500 đại nguyện, Phật Dược Sư có 12 đại nguyện, Phật A -di-đà có 48 đại nguyện. Ở đây nói mỗi Đức Phật đều có nguyện, nên gọi là Nguyện riêng.

* Trang 38 *
device

Nguyện Siêu thế là ý nghĩa đặc biệt của Hoằng nguyện
 
Nguyện riêng của Đức Phật A-di-đà có 48 đại nguyện, gọi là nguyện Siêu thế, là vượt qua tất cả nguyện của chư Phật mười phương ba thời, mà chư Phật mười phương ba thời không có, chỉ có Đức Phật A-di-đà mới có. Không chỉ bản thân Đức Phật A-di-đà phát nguyện nói:
 
Ta lập nguyện Siêu thế Chắc đến đạo vô thượng Nguyện này không viên mãn
 
Thệ không thành Chánh giác.
 
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni cũng giới thiệu và tuyên dương như vậy, bởi vì đoạn kinh văn này nằm ở trong kinh Vô Lượng Thọ do Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói.
 
Cũng vì có nguyện thứ 18 này nên 48 đại nguyện mới có thể xem là nguyện Siêu thế. Bởi vì trong 48 đại nguyện, có những nguyện mà chư Phật khác cũng có, và có nguyện mà chư Phật khác không có, đó là nguyện thứ 18.
 
Nguyện thứ 18 có thể khiến cho chúng sanh trong mười phương vãng sanh về thế giới Cực Lạc một cách bình đẳng, vô điều kiện.
 
Mười phương chúng sanh, ôi! Vô cùng rộng

* Trang 39 *
device

lớn. Chúng sanh ở Tịnh Độ khác dĩ nhiên cũng thuộc về chúng sanh trong mười phương, nhưng chúng sanh chúng ta ở đời ngũ trược1 ác này khác nhau với chúng sanh ở Tịnh Độ khác.
 
Khác nhau ở điểm nào? Đó là phiền não tội nghiệp tương đối sâu nặng, chư Phật khác không thể giáo hóa cứu độ, bị chư Phật trong mười phương bỏ rơi.
Chư Phật khác không thể cứu độ, chỉ có Đức Phật A -di-đà mới có thể cứu độ, nguyện này chẳng phải là nguyện Siêu thế sao?
 
Vì thế, Đại sư Thiện Đạo mới ngợi khen nguyện này, nói:
 
Ý nghĩa đặc biệt của Hoằng nguyện khác với nguyện của chư Phật trong mười phương ba thời là đặc biệt và thù thắng.
 
Dưới hóa độ chúng sanh vô tận
 
Bồ-tát đạt đến quả vị thành Phật đều có hai loại tâm nguyện: Một là trên cầu bồ-đề; hai là dưới hóa độ chúng sanh. Mục đích trên cầu bồ-đề chẳng qua là để hóa độ chúng sanh. Bồ-tát phát tâm bồ-đề, lấy việc cứu độ chúng sanh làm mục đích, cho nên trên cầu bồ-đề là để độ khắp chúng
__________________________
1 Ngũ trược 五濁: Năm thứ cặn đục khởi lên trong kiếp giảm: 1. Kiếp trược, 2. Kiến trược, 3. Phiền não trược, 4. Chúng sanh trược, 5. Mạng trược.

* Trang 40 *
device

sanh. Ngài có đầy đủ Vô duyên đại từ1 và Đồng thể đại bi2, có trí huệ, nguyện lực, phương tiện thiện xảo vô tận để hóa độ chúng sanh.
 
Tuy chư Phật trong mười phương đều phát nguyện trên cầu bồ-đề, nhưng dưới có thể hóa độ chúng sanh vô tận, thì chỉ có nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà.
 
Vì thế, đại ý của kinh Vô Lượng Thọ nói:
 
- Đức Phật Thích-ca-mâu-ni thị hiện ở thế gian này là lấy bi nguyện thứ 17 của Phật A -di-đà, để tuyên nói nguyện thứ 18 của Ngài cứu độ chúng sanh trong mười phương, để cho chúng ta hiểu rõ có Đức Phật A-di-đà, Đức Phật này xuất hiện là để cứu độ chúng sanh trong mười phương.
 
Tại sao cần phải năm kiếp tư duy?
 
Vì để cứu độ chúng sanh trong mười phương, nhiều kiếp trước không cần hạng chúng sanh trong mười phương như chúng ta cầu khẩn, mà Phật A-di-đà (Bồ-tát Pháp Tạng) đã chủ động vì chúng ta, trải qua thời gian năm kiếp tư duy để phát 48 đại nguyện.
______________________
1 Vô duyên đại từ 無 緣大慈: Là chư Phật và Bồ-tát quán chúng sanh mê không có giác ngộ, chìm đắm trong biển khổ sanh tử, mà sanh tâm tuyệt đối bình đẳng cứu độ.
2 Đồng thể đại bi 同體大悲 Cg: Đồng thể từ bi. Quán chúng sanh với mình đồng một thể mà khởi bi tâm bình đẳng để cứu khổ, ban vui.

* Trang 41 *
device

Tư duy 48 đại nguyện cần gì phải mất thời gian dài năm kiếp như vậy? Bởi vì tâm nguyện của Ngài rất rộng lớn, cho nên thời gian suy nghĩ cần phải rất dài. Ngài không những bảo người xuất gia niệm Phật mới có thể vãng sanh, mà còn bảo người tại gia niệm Phật vãng sanh; không chỉ dạy người thiện niệm Phật vãng sanh mà còn phải dạy người ác niệm Phật vãng sanh; không chỉ dạy chúng sanh ở nhân gian niệm Phật vãng sanh mà còn dạy chúng sanh ở địa ngục A-tỳ niệm Phật vãng sanh như nhau, cho nên mới suy nghĩ lâu đến như vậy. Muốn cho chúng xuất gia đến thế giới Cực Lạc đắc quả vị Vô lượng quang, Vô lượng thọ, cũng muốn khiến cho chúng tại gia đến thế giới Cực Lạc giống như người xuất gia được quả vị đó; cũng muốn khiến cho người thiện đến thế giới Cực Lạc đắc quả vị Vô lượng quang, Vô lượng thọ; cũng muốn khiến cho chúng sanh một đời đều gặp duyên ác mà tạo nhiều điều ác đến thế giới Cực Lạc giống với người thiện chứng quả vị Vô lượng quang, Vô lượng thọ; thậm chí chúng sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đến thế giới Cực Lạc cũng giống với chúng sanh khác có tu hành thanh tịnh đều đắc quả vị Vô lượng quang, Vô lượng thọ. Đó gọi là ‘tâm Phật bình đẳng’, để được sự bình đẳng cứu độ chúng sanh, thì Ngài phải bình đẳng khiến cho chúng sanh chứng được Phật quả nên cần phải suy nghĩ khoảng thời gian lâu dài đến như vậy.

* Trang 42 *
device

Nhiều kiếp lâu xa tu hành thệ nguyện mới được viên mãn
 
Sự thiết lập 48 đại nguyện tuy được hoàn thành, nhưng thực tế muốn thành tựu những nguyện này, thì cần phải lấy thời gian nhiều kiếp lâu xa để tích lũy vô lượng đức hạnh của một vị Bồ-tát, sau đó nội dung 48 đại nguyện này mới thật sự thành tựu.
 
Thế giới Cực Lạc thành tựu rồi thì chúng sanh chúng ta trong mười phương có chỗ trở về, cũng có đạo tràng thành Phật.
 
Ta-bà và Cực Lạc, chỗ nào mới là chỗ của chúng ta?
 
Thế giới Cực Lạc là thế giới của Đức Phật A-di-đà kiến lập cho mỗi chúng sanh chúng ta, thế giới Cực Lạc có danh phận mỗi chúng sanh chúng ta đang ở đó, chẳng khác nào người chủ ở trong thế giới đó chính là mỗi chúng sanh chúng ta.
 
Thế giới Ta-bà này không có các thứ mà chúng ta cần có. Lúc đến thì chỉ với hai tay không, lúc ra đi thì cũng với hai bàn tay trắng. Kỳ thật, chẳng phải đi thong dong, mà mang đầy tội nghiệp của mình đến vua Diêm-la, đối chất với vua Diêm-la, bị vua Diêm-la xét xử. Vì thế, chúng sanh chúng ta trong mười phương, đời đời kiếp kiếp đều là tội nghiệp đầy thân, lưu chuyển trong luân hồi, không có công đức gì, không có một việc chân

* Trang 43 *
device

thật nào, cũng chẳng có gì là vĩnh hằng bất diệt cả.
 
Chỉ có thế giới Cực Lạc mới là thế giới của chúng ta, có thể cho chúng ta giải thoát. Mọi thứ trên thế gian này đều là sự hòa hợp nhân duyên nhất thời mà thôi. Vợ chồng ân ái, cha mẹ ân sâu đều phải lìa xa, tương lai nếu như không vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì tùy theo nghiệp lực của từng người luân hồi khắp đông, tây, nam, bắc không thể đoàn tụ lại với nhau.
 
Chỉ có thế giới Cực Lạc mới là thế giới của chúng ta, mới là thế giới chân chính không bị hủy hoại, không bị tiêu diệt, bởi vì công đức ở thế giới Cực Lạc là chân thật. Còn tất cả những gì trong ba cõi sáu đường đều là hư giả, đương nhiên hư giả thì phải sanh diệt, phải biến đổi. Chỉ có thế giới Cực Lạc là ba thời thường trụ, vĩnh viễn không biến đổi, vĩnh viễn không tiêu diệt.
 
Bởi vậy, thế giới Cực Lạc là thế giới của chúng ta, là thế giới của Đức Phật A-di-đà đã kiến lập cho chúng ta.
 
Tư lương vãng sanh ở chỗ nào?
 
Tư lương của chúng ta đến thế giới Cực Lạc cũng là do Đức Phật A-di-đà đã hoàn thành cho chúng ta. Hoàn thành ở chỗ nào? Ở trong nguyện thứ 18, ‘cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’. Phật A-di-đà đã thành

* Trang 44 *
device

Chánh giác, đã thành Phật đến nay được mười kiếp, đem sáu chữ hồng danh bao hàm toàn bộ công đức quả địa của Phật ban cho chúng ta, chẳng phải chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vãng sanh về quê hương chân thật của chúng ta, mà không yêu cầu bản thân chúng ta có đủ sức công đức để thoát khỏi sanh tử đấy sao? Bởi vì Phật A-di-đà đã thành tựu tất cả công đức rồi, không còn thiếu sót gì cả.
 
Tại sao nói vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà không nương vào sức công đức của chúng ta? Bởi vì chúng ta không có sức công đức gì cả! Chúng ta chỉ có sức tạo nghiệp luân hồi mà thôi, đâu có sức công đức thoát khỏi luân hồi vãng sanh về Tịnh Độ? Vì thế, chúng ta không có khả năng, đồng thời cũng không cần, bởi vì Phật A-di-đà trước đã hoàn thành công đức cho chúng ta rồi.
 
Điểm đặc sắc của pháp môn Tịnh Độ
 
Cho nên, điểm đặc sắc của pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn cứu độ: Phật A-di-đà cứu độ chúng ta; cũng là pháp môn tín thuận: Chúng ta tin theo Phật A -di-đà cứu độ; cũng là pháp môn niệm Phật chân chính: Từ đây về sau Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà mà không cần phải tạo tác.
 
Nợ nghiệp sanh tử trong vô lượng kiếp do ai trả?
 
Đồng thời, nghiệp oan trái của chúng ta đời

* Trang 45 *
device

đời kiếp kiếp, vô lượng kiếp do mắc nợ mọi người: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, ngũ nghịch, thập ác1, phỉ báng chánh pháp, xiển-đề2, những tội này có thể nói là vô lượng vô biên đầy cả vũ trụ. Hôm nay chúng ta cần phải xa lìa những tội lỗi này, nếu như không hoàn trả dù là món nợ nhỏ thì chúng ta nhất định cũng không thể lìa xa cõi này.
 
Giống như từ quốc gia này di dân đến quốc gia khác, bạn cần phải thanh toán hết các loại thuế của quốc gia này, còn những thứ nợ khác cần phải trả, nếu không trả hết thì sẽ không thể đi khỏi được.
 
Giống như các loại nghiệp oan trái của chúng ta ở thế giới Ta-bà này còn mắc nợ không trả, thì không thể đến thế giới Cực Lạc.
 
Như vậy thì chúng ta trả hay là Đức Phật A-di-đà trả cho chúng ta? Từng li từng tí đều được Phật A-di-đà trả cho chúng ta.
 
Chúng ta không có công đức, kinh Địa Tạng nói:
___________________________
1 Thập ác 十惡: Còn gọi là Thập bất thiện: 1. Sát sanh, 2. Thâu đạo, 3. Tà dâm, 4 Vọng ngữ, 5. Lưỡng thiệt, 6. Ác khẩu, 7.Ỷ ngữ, 8. Tham dục, 9. Sân khuể, 10. Tà kiến.
2 Xiển-đề 闡提 Cg: Nhất xiển-đề-ca, Nhất điên-ca, Nhất xiển-đề-ca, Nhất xiển-đề. Hâ: A-điên-để-ca, A-xiển-đề, A-điển-đề-ca. Hd: Đoạn thiện căn, Tín bất cụ túc, Cực dục, Đại tham, Vô chủng tính, Thiêu chủng. Người mất hết căn lành, không có điều kiện thành Phật.

* Trang 46 *
device

Chúng sanh trong cõi Nam Diêm-phù-đề khởi tâm động niệm đều là tội, đều là nghiệp cả.
 
Chúng ta khởi tâm động niệm đều là tạo nghiệp, mỗi niệm đều là tạo tội, cho nên qua một ngày thì tăng thêm tội nghiệp một ngày; sanh ra ở thế gian này thì tích lũy duyên ác một đời, đâu có công đức gì để thoát ly sanh tử?
 
Sự việc này lúc Đức Phật A-di-đà chủ động phát 48 đại nguyện cho chúng ta, đã suy nghĩ chu toàn rồi. Nếu như Ngài không thể giải quyết nợ nần cho chúng ta, khiến cho chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì đương nhiên Ngài cũng không thể thành Phật, cũng chính là nói sức công đức của Ngài vẫn chưa đủ.
 
Hoàn toàn nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà
 
Ngay cả nợ nần của chúng ta trong nhiều đời nhiều kiếp thiếu mọi người, cũng được Đức Phật A-di-đà trả thay chúng ta, cho nên pháp môn Tịnh Độ là pháp môn cứu độ, là hoàn toàn nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, là tuyệt đối nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, cho nên gọi là tuyệt đối tha lực, hoàn toàn tha lực.
 
Ba cõi sáu đường chính là biển khổ, mỗi một chúng sanh đều vùng vẫy, hụp lặn, thống khổ trong biển khổ mà không có sức bơi lội, không có

* Trang 47 *
device

sức leo lên bờ. Đức Phật A-di-đà đích thân nhảy vào biển cả, kêu gọi chúng ta, ôm chúng ta lên bờ.
 
Người vùng vẫy ở trong nước biển dẫu cho gặp một rễ cây cũng muốn nắm lấy, huống gì Phật A-di-đà có đại nguyện, đại lực đích thân đến cứu chúng ta! Chúng ta ngay lập tức được đại an ổn, ngay lập tức được Phật A-di-đà bảo bọc.
 
Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn cứu độ tùy thuận của Phật A -di-đà. Nội hàm này gọi là tín, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, không có một chút sức công đức nào của chúng ta. Bởi vì bản thân chúng ta không có công đức chân chính, cũng không có sức để thoát ly ba cõi.
 
Phật A-di-đà đã thành Chánh giác vậy tại sao chúng ta vẫn còn luân hồi ở trong ba cõi này?
 
Nguyện thứ 18 nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”, Phật A-di-đà đã thành Chánh giác rồi thì chúng ta rất có hy vọng vãng sanh, như vậy thì tại sao chúng ta hiện tại vẫn còn luân hồi ở trong ba cõi này?
 
Phật A-di-đà đã thành Chánh giác rồi, điều này cho thấy trong mười kiếp, chúng ta đều không có phước phần đó, không có thiện căn đời trước đó để gặp được pháp môn cứu độ của Phật A-di-đà; hoặc dẫu cho gặp được pháp môn này, nhưng

* Trang 48 *
device

không có tín nguyện chân chính, cho nên luân hồi mãi đến ngày hôm nay. Nếu như ngay lúc này mà không nắm chắc được pháp môn niệm Phật thì cũng sẽ tiếp tục luân hồi nữa.
 
Thời đại mạt pháp thân người khó được, một khi luân hồi thì rất khó làm người trở lại; dẫu được thân người đi chăng nữa nhưng ở trong thời mạt pháp này gặp được Phật pháp hay không? Cơ hội rất là mờ mịt.
 
Chúng sanh trong mười phương tại sao được cứu?
 
Như vậy thì chúng sanh trong mười phương tại sao được cứu? Chính là ‘chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm’ của lời nguyện thứ 18. ‘Chí tâm tin ưa’ là tín, ‘muốn sanh về cõi nước Tôi’ là nguyện, ‘cho đến mười niệm’ là hạnh, chính là xưng danh.
 
Vì thế, nội dung đoạn văn này có ‘tín’, ‘nguyện’ và ‘hạnh’.
 
Tín-nguyện-hạnh, đều chẳng phải do tự lực của chúng sanh trong chín pháp giới phát khởi, mà do nguyện lực của Phật A-di-đà thành tựu.
 
‘Chí tâm tin ưa’: Tin thuận chân chính sự cứu độ của Phật A-di-đà
 
‘Chí tâm tin ưa’: Tin thuận chân chính sự cứu độ của Phật A-di-đà, biết Phật A-di-đà chắc chắn

* Trang 49 *
device

cứu độ mình, mà có tâm hoan hỷ.
 
Việc ở thế gian còn phải chân thành thì huống gì việc vãng sanh Cực Lạc quan trọng đến như vậy, nếu không có tâm chân thật tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, không có tâm chân thật nguyện sanh về Tịnh Độ Phật A -di-đà, không có tâm chân thật chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, vậy thì làm sao có thể vãng sanh? Bởi thế, ‘chí tâm’ xếp ở vị trí thứ nhất.
 
‘Chí tâm’ là tâm chân thật. Hạng phàm phu vốn không có tâm chân thật, mà là do Đức Phật A-di-đà dùng tâm chân thật để thành tựu công đức chân thật, và đem công đức chân thật này hồi hướng cho chúng ta, khiến chúng ta xa lìa cõi Ta-bà vãng sanh về Tịnh Độ để thành Phật. Khi chúng ta hiểu rõ điều này, thì được sự từ bi của Phật A -di-đà làm cảm động, sẽ cảm thấy sự cứu độ của Phật A-di-đà là điều duy nhất mà chúng ta cần, không có ắt không được, chân thật lãnh thọ như thế thì nhất định sẽ chuyển ‘tất cả sự sợ hãi trở thành sự an lạc lớn’, chắc chắn sẽ hớn hở vui mừng mà xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
 
‘Muốn sanh về cõi nước Tôi’: Chân thật nguyện sanh về Tịnh Độ của Phật A-di-đà
 
Tin biết cõi Ta-bà là khổ, tin biết cõi Cực Lạc là vui, nhất định phải chán lìa Ta-bà, hâm mộ

* Trang 50 *
device

Cực Lạc, không trở lại mong cầu phước báo nhân thiên, phát tâm chân chính nguyện vãng sanh Cực Lạc. Trong kinh A-di-đà, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni cũng lặp đi lặp lại nhiều lần khuyên bảo chúng sanh ‘phải nên phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc’. Đây là nói theo phương diện chúng sanh.
 
Nói theo phương diện Đức Phật thì ‘muốn sanh về cõi nước Tôi’ là lời kêu gọi chân thật của Đức Phật A-di-đà. Ngài cứu độ chúng ta, chủ động tích cực mà đến, không do khẩn cầu van xin, bất luận đối tượng nào và cũng không nói đến điều kiện gì. Ngay lúc chúng ta không biết, không cầu, thì trước đó Phật A-di-đà đã vì chúng ta mà phát nguyện tu hành từ nhiều kiếp lâu xa, từ khi bắt đầu tu hành đem từng chút công đức của Ngài, luôn luôn hồi hướng cho chúng ta, kêu gọi chúng ta.
 
Phật A-di-đà từ Tây phương Tịnh Độ truyền âm thanh kêu gọi ‘muốn sanh về cõi nước Tôi’; chúng ta ở Đông phương Ta-bà, nên lấy tâm tha thiết ‘nguyện sanh về cõi nước kia’.
 
‘Cho đến mười niệm’: Một đời chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà
 
Nếu như nghe được lòng từ bi kêu gọi của Đức Phật A -di-đà cứu độ chúng ta, tâm của chúng ta vốn dĩ bất an thì sẽ được an ổn, những thứ khổ não, sợ hãi, khiếm khuyết liền được tiêu trừ, đó

* Trang 51 *
device

gọi là ‘rất an tâm, rất đầy đủ, rất an ổn’, thì tự nhiên sanh tâm tin ưa.
 
Có được tâm tin ưa này thì tự nhiên phát triển thành ‘cho đến mười niệm’. Từ đó về sau, trong tâm chúng ta sẽ phát ra câu ‘Nam-mô1 A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’.
 
Nói ‘cho đến mười niệm’, chính là không chỉ mười tiếng niệm Phật mà thôi, bởi vì là ‘cho đến’. ‘Cho đến’ là một loại hình dung từ mang tính uyển chuyển, giống như chữ ‘nhược’ trong câu ‘nhược nhất nhật… nhược thất nhật’ ở trong kinh A-di-đà. Cũng chính là nói, suốt cuộc đời của chúng ta, từ nay về sau thường xưng niệm câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.
 
Đồng thời hợp với căn khí của cá nhân, căn khí của cá nhân này, một ngày có thể niệm mười vạn tiếng thì niệm mười vạn tiếng; một ngày có thể niệm một vạn tiếng thì niệm một vạn tiếng; một ngày có thể niệm mấy nghìn tiếng thì niệm mấy nghìn tiếng; cho đến chúng sanh sắp mạng chung nghe trong phần Hạ phẩm của kinh Quán Vô Lượng Thọ, nói niệm mười tiếng, một tiếng cũng được vãng sanh, cho nên gọi là ‘cho đến’.
_____________________________
1 Nam-mô 南無 Còn gọi: Nam-mâu, Na-mô, Na-ma, Nẵng-mạc, Nạp-mạc… Hán dịch: Kính lễ, qui kính, qui y, qui mạng, tín tùng. Vốn có nghĩa là lễ bái, thường được sử dụng với đối tượng lễ kính.


 

* Trang 52 *
device

Tín-nguyện-hạnh đều là hành trang của Phật A-di-đà cho chúng ta
 
Kinh Vô Lượng Thọ chủ yếu tuyên nói sự cứu độ của Phật A-di-đà, Phật A-di-đà chân thật kêu gọi chúng ta để cho Ngài cứu độ. Sự cứu độ chân thật này làm rung động nội tâm chúng ta trở thành tín tâm, cho nên tín tâm chẳng phải là tự lực của chúng ta phát ra, mà nghe tiếng kêu gọi chân thật, tiếng cứu độ chân thật của Phật A-di-đà, trừ đi khổ não bất an luân hồi sanh tử nơi nội tâm của chúng ta, tin tưởng tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tin thuận, tin Phật cứu độ.
 
Phật A-di-đà dạy chúng ta tin tưởng sự cứu độ của Ngài ‘chí tâm tin ưa’, kêu gọi chúng ta nguyện sanh về Tịnh Độ của Ngài ‘muốn sanh về cõi nước Tôi’, khiến cho chúng ta tự nhiên xưng niệm danh hiệu của Ngài ‘cho đến mười niệm’.
 
Vì thế nói, tín tâm (tín), nguyện sanh tâm (nguyện), xưng danh (hạnh) đều là hành trang của Phật A-di-đà ban cho chúng ta.
 
Tín-nguyện-hạnh một thể
 
Đồng thời, tín-nguyện-hạnh lại là một thể. Ngay lập tức tin nhận thì tự nhiên phát khởi tâm nguyện sanh, từ nội tâm tự nhiên sẽ phát ra câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô

* Trang 53 *
device

A-di-đà Phật…’ (Chú: ‘Nam-mô’ tức là quy mạng, chỗ này chuyên chỉ cho tâm quy mạng), vì vậy sẽ xưng niệm câu danh hiệu này để biểu lộ tâm của mình lãnh thọ sự cứu độ của Phật A-di-đà.
 
Tín-nguyện là vô hình, tồn tại ở nội tâm, nhưng quả thật trong tâm cũng cần phải có hình thức ở bên ngoài, thì sẽ hiển lộ ra bên ngoài hạnh này là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’. Vì thế, đoạn văn của nguyện này nói một cách rất tự nhiên ‘cho đến mười niệm’.
 
3. Văn Thành tựu nguyện thứ 18
 
‘Văn Thành tựu nguyện thứ 18’ nói:
 
Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu của Tôi, tín tâm hoan hỷ, cho đến một niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc thì liền được vãng sanh, trụ bậc bất thoái. Chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp.
 
Ngay khi tin nhận, nguyện sanh, xưng danh thì liền đầy đủ thân phận vãng sanh, công đức vãng sanh, năng lượng vãng sanh. Vì thế nói: “Liền được vãng sanh, trụ bậc bất thoái”.
 
Sở dĩ, đương lúc chúng ta từng tiếng xưng niệm câu danh hiệu này, kỳ thật mỗi tiếng đều đầy đủ sự vãng sanh, chẳng phải đợi đến lúc sắp mạng chung

* Trang 54 *
device

mới đầy đủ sự vãng sanh, chẳng phải ‘đợi đến lúc lâm chung, niệm câu danh hiệu này thì Đức Phật A-di-đà mới hiện ra, rồi mới cảm thấy mình có phần vãng sanh, lúc đó mới được an tâm’. Dù cho đối diện lúc sắp mạng chung, nằm trên giường bệnh, bệnh khổ xâm nhập vào toàn thân của chúng ta khiến cho chúng ta không thể nhớ Phật niệm Phật, nhưng ngay lúc đó cũng an tâm, bởi vì hiểu được bản thân mình vĩnh viễn ở trong ánh sáng nhiếp thủ của Phật A-di-đà, chẳng phải vì thân tâm thống khổ, niệm danh hiệu Phật không ra tiếng, mà có tâm bất an, tâm hoài nghi, tâm lo lắng, điều này chẳng phải như vậy! Bởi vì trước đây, chúng ta đã nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà rồi, cho nên sẽ không phát khởi tâm lo lắng bất an vào lúc này.
 
Tổ sư Đàm Loan giải thích: Sự nghiệp thành tựu
 
Vì thế, điểm đặc sắc của pháp môn Tịnh Độ giống như trong Vãng sanh luận chú của Tổ sư Đàm Loan đã nói, là hiện tại đã thành tựu, cho nên gọi là ‘mười niệm nghiệp thành’. Cũng chính là nói ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18 trong kinh Vô Lượng Thọ nói, và ‘chí tâm xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà mười tiếng’ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nói ‘mười tiếng’ đó không phải chỉ có mười tiếng, mà là biểu thị cho nghiệp vãng sanh ngay lúc đó đã thành tựu, cho nên nói:

* Trang 55 *
device

Kinh nói mười niệm, gọi là Sự nghiệp đã thành tựu.
 
Nghiệp vãng sanh đã thành tựu thì thân phận quyết định vãng sanh.
 
Chẳng qua chúng ta là phàm phu đầy dẫy phiền não, vẫn còn tham sân si; tuy có tham sân si, nhưng vẫn không chướng ngại sự vãng sanh, một khi ngồi trên đài hoa sen thì tham sân si lập tức chuyển thành tâm Phật thanh tịnh.
 
Phải biết rằng đây chẳng phải do sức của chúng ta mà là do sức của Phật A-di-đà. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ vốn nương vào ân huệ, ân cứu độ của Ngài.
 
Kệ phá địa ngục
 
Kinh Vô Lượng Thọ có một bài kệ hình dung nguyện thứ 18, nói:
 
Sức bản nguyện Phật ấy Nghe danh muốn vãng sanh Thảy đều đến nước ấy
 
Tự được bất thoái chuyển.
 
‘Sức bản nguyện Phật ấy’: Sức bản nguyện của Phật A-di-đà khiến cho người nào nghe danh hiệu của Ngài, người nghe nói đến Phật A-di-đà dùng danh hiệu cứu độ chúng sanh, có thể phát khởi tâm vãng sanh về thế giới Cực Lạc, cho nên nói: “Nghe danh muốn vãng sanh”.

* Trang 56 *
device

Loại chúng sanh này:
 
‘Thảy đều đến nước ấy, tự được bất thoái chuyển’: Khiến cho chúng ta đều có thể đến thế giới Cực Lạc, tự nhiên có thể đến thế giới Cực Lạc, hơn nữa tự nhiên được bất thoái chuyển, đồng với Phật A-di-đà có Vô lượng thọ, Vô lượng quang. Việc này tự nhiên không cố gắng chi cả, không cần nhờ vào công năng nào khác. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ của chúng ta có thể nói là pháp môn có công năng tự nhiên.
 
‘Sức bản nguyện Phật ấy, nghe danh muốn vãng sanh, thảy đều đến nước kia, tự được bất thoái chuyển’, bài kệ này cũng gọi là ‘Kệ phá địa ngục’.
 
Có một sự tích:
 
Đại khái vào triều đại nhà Đường trước kia, có vị Luật sư tên Huyền Thông, Sư là một vị học giới luật. Vị Luật sư này vân du tham vấn khắp nơi, có một hôm trời tối Sư đến một ngôi tự viện nọ ngủ lại. Ngay tối hôm đó, phòng bên cạnh của Sư đang ở, có một người đang đọc tụng bài ‘Sức bản nguyện Phật ấy, nghe danh muốn vãng sanh’. Sư nghe rồi cùng niệm theo vài lần, sau này thì không niệm nữa, nên cũng quên luôn.
 
Về sau, do phạm giới, lúc chết Sư đến điện Diêm-la. Vua Diêm-la vỗ bàn một cái, hỏi Sư rằng: “Ông sanh ra ở nơi có Phật pháp truyền bá rộng rãi, nếu như ông đã học qua pháp môn gì thì xin

* Trang 57 *
device

ông hiện tại lên pháp tòa tuyên giảng cho chúng tôi nghe”. Vua Diêm-la rất uy nghiêm bảo Sư như vậy. Luật sư Huyền Thông một mặt lên pháp tòa, mặt khác hồi tưởng lại pháp môn mình đã học qua một đời ở dương gian. Nhưng Sư chẳng nhớ được gì cả, chỉ nhớ bài kệ này. Điều này cũng rất kỳ lạ, trước đây Sư đã quên hết mà hiện tại thì lại nhớ được. Vì thế, Sư nhớ đọc bài kệ này: “Sức bản nguyện Phật ấy, nghe danh muốn vãng sanh, thảy đều đến nước kia, tự được bất thoái chuyển”.
 
Ôi! Bài kệ này vừa nói xong thì vua Diêm-la lập tức kính lễ Sư, nói: “Bài kệ này là tất cả công đức của Đức Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương Cực Lạc, nương vào công đức này ông có thể thoát được quả ác ở địa ngục, trở về nhân gian thì tuổi thọ sẽ được kéo dài”.
 
Bài kệ này có thể khiến cho người đọa địa ngục xa lìa được địa ngục, là bài kệ nói về công đức của Phật A-di-đà.
 
Thật ra, tất cả công đức của Phật A-di-đà chính là sáu chữ danh hiệu, chúng ta không nhất định cần phải nhớ bài kệ này. Một người ở thế gian dù cho học vấn, trí huệ cao siêu đến thế nào đi nữa, hiểu được nhiều điều, đến khi sắp mạng chung thì phần lớn đều quên hết, không nhớ được; điều mà có thể khiến chúng ta nhớ được, chính là câu ‘Nam-mô

* Trang 58 *
device

A-di-đà Phật’, là sự cứu độ của Phật A-di-đà.
 
Sau khi nghe câu chuyện này, có người nghĩ: “Vậy thì tôi cố gắng nhớ kỹ bài kệ này, để chuẩn bị cho tương lai khi đối diện với vua Diêm-la mà sử dụng”. Thật ra, không cần thiết! Chúng ta tin nhận pháp môn Tịnh Độ thì không cần phải đến trước điện vua Diêm-la (đến trước điện vua Diêm-la thì nguy hiểm), vả lại còn làm cho vua Diêm-la cung kính chúng ta. Nếu như chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì chúng ta chẳng phải là chúng sanh khổ não luân hồi trong thế giới Ta-bà này, và đã trở thành một trong những thánh chúng ở thế giới Cực Lạc, cho nên không chỉ có Hộ pháp long thiên đến bảo hộ chúng ta, khen ngợi chúng ta, mà chư Phật trong mười phương cũng đến vây quanh bảo hộ chúng ta, khen ngợi chúng ta nữa.
 
Danh hiệu lục tự có thể phá tan địa ngục
 
Luật sư Huyền Thông ở trong địa ngục nhớ bài kệ này khiến cho Sư xa lìa địa ngục, nếu như Sư ở địa ngục xưng niệm câu danh hiệu lục tự này thì có thể cứu độ chúng sanh ở địa ngục.
 
Có một câu chuyện xảy ra ở Ấn Độ thời cổ đại: Có một vị Bà-la-môn1 rất ngu si, nhưng vợ của
_________________________
1 Bà-la-môn 婆羅門 Hd: Tịnh hạnh, Phạm hạnh, Phạm chí, Thừa tập. Cg: Bà-la-hạ-ma-noa, Bà-la-hát-mạt-noa, Một-la-

* Trang 59 *
device

ông ta rất thông minh, và lại là người học Phật, niệm Phật. Vị Bà-la-môn ngu si này thích sát sanh, ăn thịt, vợ khuyên ông niệm Phật, học Phật. Ông nói ông không có trí huệ để nhớ được. Nhưng vị Bà-la-môn này rất mực thương yêu vợ, cho nên vợ ông nhân cơ hội này nói: “Mỗi ngày buổi tối chúng ta trước khi đi ngủ thì phải niệm Phật, rồi sau mới ngủ”, và nói: “Em muốn anh cùng học Phật với em, nhưng anh không chịu, như vậy những gì anh yêu cầu em làm sao em đồng ý với anh được? Vợ chồng giống như chim liền cánh, cần phải đồng tâm, đồng nguyện, đồng hạnh”. Vì thế, chồng cô ấy đành phải đánh chuông niệm Phật mỗi buổi tối trước khi đi ngủ.
 
Trải qua ba năm, vị Bà-la-môn ngu si này do vì nhân duyên tạo nghiệp ác, nên đọa vào địa ngục. Đúng lúc quỷ tốt địa ngục tay cầm gậy sắt đánh hồn ma địa ngục, vô tình đánh đến gần sát vạc dầu sôi, đánh ‘beng’ một tiếng. Vị Bà-la-môn nghe được một tiếng này vô tình niệm một tiếng ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ (bởi vì lúc sanh tiền nghe được tiếng pháp khí bằng đồng liền niệm Phật, nên kết tập thành một thói quen rồi). Tiếng danh hiệu Phật này phát ra, hồn ma gần đó nghe được,
__________________
hám-ma. Giai cấp tăng lữ là giai cấp cao nhất trong 4 giai cấp ở xã hội Ấn Độ cổ. Chính giai cấp Bà-la-môn này làm lũng đoạn tất cả hệ trí thức của Ấn Độ thời ấy. Họ tự cho mình là dòng dõi cao quí nhất.

* Trang 60 *
device

lập tức lìa khỏi địa ngục, vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Việc đó làm kinh động đến vua Diêm-la nên được vua Diêm-la thả anh ấy trở lại dương gian.
 
Vị Bà-la-môn này về đến dương gian kể rõ lại việc này, mọi người đều rất kinh ngạc, khen ngợi, cho nên rất nhiều người niệm Phật.
 
Vị Bà-la-môn này trở về dương gian vẫn còn nhớ một bài kệ nói:
 
Nếu người tạo nhiều tội Phải đọa vào địa ngục Vừa xưng danh hiệu Phật Lửa dữ thành thanh lương.
 
Có nghĩa là: Một người ở nhân gian tạo nhiều tội nghiệp thì đương nhiên sẽ đọa vào địa ngục. Ở trong địa ngục, nếu như có người xưng niệm một câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này, hoặc nghe đến một tiếng ‘Nam-mô A-di- đà Phật’ thì ngay lập tức lửa dữ địa ngục, thậm chí những thống khổ như núi dao, rừng kiếm, vạc dầu sôi lập tức biến thành thanh lương, lập tức giải thoát khỏi địa ngục.
 
Bởi thế, việc có thể phá tan địa ngục, khiến cho chúng sanh ở địa ngục (họ không có xưng danh hiệu Phật, mà chỉ nghe được danh hiệu Phật) ngay lập tức xa lìa địa ngục, chính là câu danh hiệu này, và nương vào câu danh hiệu này thì nhất định

* Trang 61 *
device

vãng sanh Tịnh Độ, chính là ý nghĩa của nguyện thứ 18. Thế nên, mới có bài kệ nói ‘Nghe danh muốn vãng sanh, thảy đều đến nước kia’, chúng sanh địa ngục chỉ nghe được câu danh hiệu này liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Công năng của danh hiệu: Khiến người nghe câu danh hiệu mà xưng danh thì tự nhiên được vãng sanh
 
Tại sao có sức công đức không thể nghĩ bàn như vậy?
 
Bởi vì câu danh hiệu này là bản thể của Phật A-di-đà, câu danh hiệu này là bản thân của Phật A-di-đà; bản thể và bản thân của Phật A -di-đà chính là cảnh giới Niết-bàn1, mà Niết-bàn chính là bất sanh bất diệt, chẳng có chẳng không. Danh hiệu Phật không trải qua tạo tác, mà còn có công năng, có thể khiến cho chúng sanh luân hồi được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Câu danh hiệu này không chỉ là bản thân của Phật A-di-đà mà cũng là bản thân của thế giới Cực Lạc nữa. Nói theo phương diện Phật A-di-
______________________________
1 Niết-bàn 涅槃 Cg: Nê-hoàn, Niết-bàn-na, Nê-phạ-nam, Nặc-phạ-nam, Nế-viết. Hd: Diệt, Tịch, Vô danh, Tịch diệt, An lạc, Giải thoát, Vô vi. Có nghĩa là ngọn lửa phiền não đã bị dập tắt, để đạt đến cảnh giới giác ngộ.

* Trang 62 *
device

đà thì Y báo1 và Chánh báo 2 cùng một thể, bản thân và thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà là cảnh giới giống nhau.
 
Chúng ta ở thế gian này, Chánh báo là bản thể của chúng ta, Y báo là nơi cư trú, môi trường chúng ta nương tựa, chúng không giống nhau, và chướng ngại lẫn nhau, không thể tự do. Thí như căn phòng này nếu như không có cửa ra vào mà bốn phía đều là vách thì không thể đi ra được, đây là cảnh giới của hạng phàm phu chúng ta. Nhưng cảnh giới của Phật A-di-đà là dung thông vô ngại, Y báo là Chánh báo, Chánh báo là Y báo.
 
Câu danh hiệu này có năng lực khiến cho người nghe tên mà xưng danh thì tự nhiên tiến vào thế giới Cực Lạc. Vì thế, chúng ta nghe được sự cứu độ của Phật A-di-đà rồi mà xưng niệm danh hiệu
______________________________
1 Y báo 依報: Y báo là quả báo tùy theo Chánh báo mà được nơi an trú tương ưng, như người được Chánh báo nhân gian thì sẽ có các Y báo như nhà cửa, đồ dùng tương ứng với loài người; còn ai chịu Chánh báo súc sanh thì sẽ có Y báo như tổ, hang tương ứng với súc sanh. Nói chung, Y báo chỉ cho quốc độ thế gian là nơi nương tựa của hữu tình.
2 Chánh báo 正報: Chánh báo là chính thể của quả báo cảm được tùy theo thiện nghiệp hay ác nghiệp ở quá khứ, như sanh làm người thì có đủ tứ chi, ngũ quan, được quả báo nhân gian; còn sanh vào loài súc sanh thì có đủ cánh, lông, răng, da, chịu quả báo súc sanh. Nói chung, Chánh báo là chúng sanh thế gian, là hữu tình năng y.

* Trang 63 *
device

của Ngài, thì có thể tự nhiên vãng sanh về thế giới Cực lạc, đây chính là công năng của danh hiệu.
 
Ví như công năng của nước vốn là giải khát, có thể thấm nhuần đồ vật; công năng của lửa là đốt cháy đồ vật. Đốt cháy đồ vật là công năng của lửa, tự tánh của lửa vốn là như vậy, bạn muốn nó không cháy cũng không thể được, trong miệng bạn nói ‘không cần đốt cháy’, trong tâm nghĩ ‘không cần đốt cháy’, nó vẫn cháy như thường.
 
Chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, nếu không được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đấy là điều không thể xảy ra; trừ khi chính bạn chống cự lại, không muốn vãng sanh. Nhưng đã chống cự, không muốn vãng sanh thì sẽ không xưng niệm câu danh hiệu này.
 
Nếu như chân chính xưng niệm câu danh hiệu này mà còn Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, cả đời không thay đổi, vậy thì chúng ta khẳng định biết có thế giới Cực Lạc, có Đức Phật A-di-đà, đồng thời hiểu được xưng danh hiệu Phật chắc chắn được vãng sanh. Sự cứu độ của Phật A-di-đà nằm ở chỗ niệm Phật ‘trên suốt một đời, dưới đến mười tiếng, một tiếng, một niệm’, tùy thuận theo sự cứu độ của Phật A -di-đà thì chắc chắn được vãng sanh, thệ nguyện của Phật A-di-đà vốn là như vậy.

* Trang 64 *
device

Chúng ta dựa vào việc làm như vậy thì tự nhiên liền tiến vào biển thệ nguyện của Phật A-di-đà, cho nên sức công đức của chúng ta vãng sanh không nằm ở ngay bản thân chúng ta, mà hoàn toàn nằm ngay bản thân của Phật A-di-đà. Đây chính là đại ý trong kinh Vô Lượng Thọ.
 
4. Văn Phó chúc lưu thông
 
Bởi thế, phần cuối trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thích-ca- mâu-ni đem pháp môn danh hiệu Phật A -di-đà, xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc:
 
Nếu có người nào nghe danh hiệu Đức Phật A-di-đà sanh tâm hớn hở vui mừng cho đến một niệm, nên biết người này được lợi ích rất lớn là đầy đủ công đức vô thượng.
 
Hớn hở vui mừng mà xưng niệm câu danh hiệu này thì được lợi ích rất lớn, có công đức vô thượng. ‘Công đức vô thượng’, chính là thành Phật, bởi vì không có ai sánh bằng Phật.
 
Chúng ta niệm Phật thì công đức của Phật cùng một thể, không lìa chúng ta.
 
5. Văn Đặc biệt lưu lại kinh này
 
Chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới là bản hoài trong bản hoài của Phật Thích-ca-mâu-ni, dù cho tất cả giáo pháp thời vị lai đều diệt hết mà tuyên

* Trang 65 *
device

nói bộ kinh Vô Lượng Thọ này trong bản hoài của đức Thế Tôn sẽ không diệt, sẽ tiếp tục lưu truyền mãi ở thế gian để hóa độ chúng sanh.
 
Phật pháp lưu thông ở trên thế gian này có bốn thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ chánh pháp, thời kỳ thứ hai là thời kỳ tượng pháp, thời kỳ thứ ba là thời kỳ mạt pháp, thời kỳ thứ tư gọi là thời kỳ diệt pháp (không có pháp). Hiện tại là thời kỳ mạt pháp, thời đại mạt pháp một vạn năm, thời gian một vạn năm qua rồi thì tất cả kinh điển khác tự nhiên bị tiêu diệt hết, chỉ còn lại bộ kinh Vô Lượng Thọ mà thôi.
 
Đoạn thứ năm trong ‘năm đoạn văn của kinh Vô Lượng Thọ’ chính là ‘văn Đặc biệt lưu lại kinh này’. Phật Thích-mâu-ni nói:
 
Đời vị lai kinh đạo diệt hết, Ta vì lòng từ bi thương xót chúng sanh, đặc biệt lưu lại kinh Vô Lượng Thọ tồn tại ở thế gian một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được kinh này, thì tùy theo ý nguyện đều được độ.
 
Các kinh điển khác dần dần tiêu diệt, nhưng Đức Phật Thích- ca-mâu -ni vẫn dùng tâm đại bi của Ngài cứu độ chúng sanh, nên khiến cho bộ kinh Vô Lượng Thọ này tiếp tục lưu lại ở thế gian. Tuy nói một trăm năm nhưng kỳ thật là thời gian vô tận, Pháp hội Vô Lượng Thọ Như Lai trong

* Trang 66 *
device

kinh Đại bảo tích1 nói: “Ta nay phó chúc cho ông, thường khiến cho pháp này trụ lâu không diệt”.
 
Nếu như không có bộ kinh này thì sẽ không có kinh điển nói về sự cứu độ của Phật A-di-đà, chúng sanh lúc đó không còn hi vọng. Để khiến cho những chúng sanh ấy có hi vọng, cứu độ những chúng sanh ấy thì ít nhất cũng phải đem bộ kinh này lưu lại ở thế gian. Huống gì bộ kinh này là kinh độ hết tất cả chúng sanh trong mười phương, là bản hoài trong bản hoài của Đức Phật, lưu lại bộ kinh này giống như lưu lại danh hiệu Phật A-di-đà, cho nên đến cuối cùng vẫn là dùng danh hiệu để độ chúng sanh.
 
Đã dùng danh hiệu để độ chúng sanh thì lúc đó kinh điển đều không còn, ba ngôi báu là Phật, Pháp, Tăng đều không còn nữa, mọi người đều không biết được nhân quả báo ứng, lục đạo luân hồi, cũng như không biết được thiện có thiện báo, ác có ác báo, cho nên đa phần đều làm xằng làm bậy, lúc đó đều có thể nương vào câu danh hiệu để được cứu độ, huống gì chúng ta hiện tại còn Tam
_______________________
1 Kinh Đại Bảo Tích 大寶積經 Cg: Bảo tích kinh. Kinh, 120 quyển, do Ngài Bồ-đề-lưu-chí dịch vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 11. Nội dung nói về pháp môn chủ yếu của Đại thừa Phật giáo. Mỗi một hội có chủ đề độc lập và tương đương một bộ kinh. Đặc biệt trong hội thứ 5 là ‘Vô Lượng Thọ Như Lai’ tuyên nói về tín ngưỡng Tịnh Độ A-di-đà.

* Trang 67 *
device

 
Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ